Nghiên cứu ứng dụng nội soi ổ bụng trong chẩn đoán và điều trị chấn thương bụng kín - Pdf 12


Công trình đợc hoàn thành tại
:
trờng đại học y h nội Ngời hớng dẫn khoa học : GS. TS. Đỗ đức vân
Pgs.ts. trần bình giang
Phản biện 1 : GS.TS phạm gia khánh
Phản biện 2 : pgs.ts hong công đắc
Phản biện 3 : pgs.ts nguyễn tiến quyết

Luận án sẽ đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nớc tổ
chức tại : Trờng đại học Y Hà Nội

Vào hồi: 14 giờ, ngày 11 tháng 3 năm 20092006. Có thể tìm hiểu luận án tại :
- Th viện Quốc gia
- Th viện Thông tin Y học Trung ơng
- Th viện Trờng Đại học Y Hà Nội.
- Th viện Bệnh viện Việt Đức Hà Nội.

thơng khác nhau lại không nhìn thấy trực tiếp nên rất khó chẩn đoán
chính xác tổn thơng. Khi cha có các phơng tiện chẩn đoán hỗ trợ,
việc chẩn đoán CTBK chỉ dựa vào thăm khám lâm sàng vì vậy dễ bỏ
sót tổn thơng hoặc mở bụng thăm dò (mở bụng không có tổn
thơng). Chọc dò ổ bụng rồi chọc rửa ổ bụng đợc sử dụng giúp nâng
cao độ chính xác của chẩn đoán CTBK lên nhng tỷ lệ mở bụng thăm
dò vẫn từ 20-30%, tỷ lệ mở bụng khi có tổn thơng tạng là 100%. Với
BN : Bệnh nhân
CHT : Cộng hởng từ
95%CI : Khoảng tin cậy 95%
CLVT : Cắt lớp vi tính
CROB : Chọc rửa ổ bụng
cs : Cộng sự
CT BK : Chấn thơng bụng kín
CTCS : Chấn thơng cột sống
CTSN : Chấn thơng sọ não
NS : Nội soi
NSOB : Nội soi ổ bụng
PTNS : Phẫu thuật nội soi
2
sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, ngời ta cố gắng tìm các
biện pháp mới để chẩn đoán chính xác hơn, nhanh hơn, nhằm tránh
mổ muộn đồng thời giảm thiểu số mổ không cần thiết. Các thăm dò
hiện đại nh X quang, siêu âm, chụp CLVT, chụp CHTđã làm
giảm tỷ lệ mở bụng thăm dò còn 10-20%, tỷ lệ điều trị bảo tồn không
mổ lên trên 30%. Nhng các biện pháp hiện đại này cũng vẫn chỉ
đánh giá gián tiếp tổn thơng nên thực tế vẫn còn khá nhiều ca mổ
mang tính chất thăm dò kiểm tra hoặc chỉ can thiệp tối thiểu. Đối với
những trờng hợp nh vậy ngời ta có thể sử dụng NSOB nh một
biện pháp chẩn đoán có độ chính xác cao do nhìn đợc trực tiếp tổn

nói chung. CTBK là một cấp cứu ngoại khoa gặp rất nhiều khó khăn
trong chẩn đoán cũng nh điều trị. Có nhiều biện pháp chẩn đoán
nhng tỷ lệ mổ bụng thăm dò hoặc mổ muộn còn cao. Rất cần có một
biện pháp chẩn đoán chính xác hơn, ít sang chấn. Vì vậy đề tài
Nghiên cứu ứng dụng nội soi ổ bụng trong chẩn đoán và điều trị
chấn thơng bụng kín mang tính thời sự và cấp thiết.
Những đóng góp mới của luận án
- PTNS rất phát triển can thiệp nhiều lĩnh vực nhng ứng dụng
vào chẩn đoán và điều trị CTBK còn rất mới cả trên thế giới và Việt
Nam. Đề tài lần đầu nghiên cứu ở BN bị CTBK với số lợng lớn ở
Việt Nam.
- Giải quyết đợc 2 mục tiêu đề ra, luận án chứng minh NSOB là
biện pháp chẩn đoán ít sang chấn, chính xác, an toàn, hiệu quả đồng
thời là biện pháp điều trị đợc các tổn thơng không quá phức tạp
giảm tỷ lệ mổ bụng thăm dò, mổ muộn và mở bụng lớn.
Bố cục luận án
Luận án gồm 140 trang. Ngoài phần đặt vấn đề (3 trang), phần
kết luận (2 trang), kiến nghị (1 trang), còn có 4 chơng, bao gồm:
Chơng 1: Tổng quan tài liệu 42 trang; Chơng 2: Đối tợng và
phơng pháp nghiên cứu 16 trang; Chơng 3: Kết quả nghiên cứu 32
trang; Chơng 4: Bàn luận 44 trang. Luận án gồm 41 bảng; 59 hình; 8
biểu đồ và 132 tài liệu tham khảo (Tiếng Việt 16; Tiếng Anh 107;
Tiếng Pháp 9).
4
Chơng 1
tổng quan

CTBK đợc định nghĩa là chấn thơng gây tổn thơng thành
bụng và các tạng trong ổ bụng (bao gồm cả sau phúc mạc, ngoài phúc
mạc nh thận, bàng quang) nhng không gây rách phúc mạc.

Năm 1950 siêu âm mới đợc ứng dụng vào y học và từ những
năm 1980 nó mới đợc áp dụng để chẩn đoán CTBK. Là một thăm dò
không sang chấn, rẻ tiền, dễ sử dụng có thể phát hiện tốt dịch ổ bụng,
phát hiện đợc tổn thơng nhu mô nên siêu âm nhanh chóng trở
thành biện pháp thăm dò chẩn đoán CTBK rất hữu hiệu, gần nh
không thể thiếu trong sàng lọc tổn thơng. Nhng siêu âm cũng còn
nhiều cản trở: bụng trớng hơi, thăm dò các tạng ở sâu, tràn khí dới
da, vết thơng nên cần có những phơng pháp khắc phục những
khó khăn đó .

Năm 1971 chụp CLVT (Computer Tomography Scanner) do
Cormack AM và Hounsfield GM phát minh ra. Đến cuối những năm
80, chụp CLVT mới đợc sử dụng nhiều nhng nó đã cho thấy khả
năng phát hiện rất tốt dịch ổ bụng, đánh giá độ tổn thơng tạng đặc,
có thể phát hiện vỡ tạng rỗng khắc phục đợc những điểm yếu của
siêu âm nên đợc nhiều tác giả coi nh chuẩn vàng trong chẩn đoán
hình ảnh CTBK. Chính việc xác định đợc rõ tổn thơng, độ tổn
thơng đã làm thay đổi mạnh mẽ thái độ xử trí CTBK, thay vì cứ có
tổn thơng trong bụng là mở bụng ngời ta có thể điều trị bảo tồn
theo dõi không nhất thiết phải mở bụng.
Những năm gần đây một phơng tiện chẩn đoán hình ảnh mới ra
đời đó là chụp cộng hởng từ (CHT), có nhiều u điểm nh chụp
CLVT ngoài ra còn có thể xác định đợc tổn thơng các ống tụy,
đờng mậtnhng ít áp dụng vì giá thành cao, chụp lâu, bị kim loại
làm nhiễu.

Các biện pháp chẩn đoán dù có sang chấn nh chọc dò ổ bụng,
chọc rửa ổ bụng hay không sang chấn nh chụp X quang, siêu âm,
chụp CLVT, chụp CHT cũng đều gián tiếp đánh giá tổn thơng.
Những tổn thơng nhỏ, bề mặt, mạc treo, mạc nối các biện pháp

là xâm hại tối thiểu nhng NSOB vẫn có những nguy cơ nh chọc
trocart, kim bơm khí vào tạng, gây sang chấn tạng khác khi thăm dò,
phẫu thuật, nhiễm trùng lỗ trocart, thoát vị lỗ trocart (tỷ lệ gặp rất
thấp, thấp hơn nhiều lần so với mở bụng lớn). Là biện pháp thăm dò ít
xâm hại, chỉ quan sát qua camera nên không trực tiếp sờ nắn tổn
7
thơng bằng tay nên khó đánh giá các tổn thơng kín đáo, thao tác
chỉ thông qua camera, dụng cụ nên khó thực hiện các động tác khó
nh mổ xẻ kinh điển, thời gian mổ kéo dài nếu không thành thạo kỹ
thuật. Là một biện pháp thăm dò hiện đại nên đòi hỏi trang thiết bị đắt
tiền, đồng bộ đó là một dàn máy nội soi đồng bộ kèm các dụng cụ mổ
nội soi đi kèm. Vì vậy chi phí cho NSOB cũng cao. Đòi hỏi phẫu thuật
viên đợc đào tạo và thành thạo NSOB
.
Từ những năm 60 của thế kỷ trớc Heselson ở Nam Phi đã thực
hiện NSOB cho CTBK.
1976: Gazzaniga đợc coi là ngời đầu tiên sử dụng NSOB vào
chẩn đoán CTBK ở Mỹ cho kết quả tốt.
Các năm tiếp theo NSOB đợc ứng dụng nhng để chẩn đoán
nhiều hơn với độ an toàn chính xác cao. Các tác giả đều nhận thấy
50-60% số BN CTBK (trong nhóm NSOB) không cần thiết mở bụng.
Đến năm 2003 có nhiều nghiên cứu kết hợp với điều trị tổn
thơng cho thấy NSOB chẩn đoán chính xác tổn thơng và điều trị
đợc các tổn thơng nh khâu cầm máu gan, lách, cắt lách, cắt đuôi
tụy, khâu cắt ruột, khâu cơ hoành vỡ nhng với số lợng BN ít.
Tại Việt Nam từ năm 1976 Nguyễn Thuyên tại bệnh viện Việt
Đức đã áp dụng phơng pháp này. Tác giả công bố một kết quả khả
quan: đúng tổn thơng 90%, đúng chỉ định 98,5%. Nhng do trang
thiết bị hạn chế nên không đợc sử dụng nữa.
2001: tại bệnh viện Chợ Rẫy, NSOB để chẩn đoán và điều trị

2.2. Phơng pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu và cỡ mẫu
Sử dụng phơng pháp nghiên cứu mô tả tiến cứu
Cỡ mẫu (số lợng BN)
Số lợng BN đợc tính theo công thức cho một nghiên cứu mô tả:
Chọn = 0,05 thì
2/1
z

= 1,96.

p (1 - p)
2
n=z
1- /2
2
e

9
Chấp nhận tỷ lệ tránh mở bụng không cần thiết của các nghiên
cứu trớc là 50% (p = 0,5). Tỷ lệ này tính trong nhóm những BN đợc
áp dụng NSOB, tức là ở những BN khó chẩn đoán. Sai số của nghiên
cứu so với các nghiên cứu trớc chấp nhận 10% (e = 0,1).
Thay vào công thức ta có n = 3,84.0,5.0,5/0,01 = 96.
Nh vậy số lợng BN trên 96 là phù hợp về lý thuyết cỡ mẫu và có ý
nghĩa thống kê khi sử dụng các phần mềm thống kê y học hiện có
2.2.2. Nội dung nghiên cứu
2.2.2.1. Lâm sàng
Tình trạng trớc khi đến viện: loại tai nạn, thời điểm tai nạn,
sơ cứu nh thế nào

rốn đặt camera, trocart 5mm ngang rốn ở mạng sờn phải,
trocart 5mm còn lại chếch về hố chậu trái). Nếu kiểm tra tá
tràng, đầu tụy, lách thêm trocart thứ t ở mũi ức.
Kiểm tra ổ bụng: Lần lợt kiểm tra từ tầng trên mạc treo
đại tràng ngang (gan, lách, tụy, tá tràng, túi mật, cơ hoành)
đến tầng dới mạc treo đại tràng ngang (bàng quang, ruột
non, đại tràng)
Xử trí tổn thơng qua nội soi
Tổn thơng tạng đặc: Đốt điện hoặc khâu cầm máu
Tổn thơng tạng rỗng: Khâu dạ dày, ruột non, bàng quang qua
nội soi. Tổn thơng phức tạp sử dụng nội soi có hỗ trợ (đa quai ruột
có tổn thơng ra ngoài ổ bụng để xử trí)
2.2.3. Thu thập số liệu
Trớc mổ: tình trạng trớc vào viện, khi vào viện, chẩn
đoán lâm sàng, các thăm dò lâm sàng và cận lâm sàng,
chẩn đoán trớc mổ và thái độ xử trí
Trong mổ: dịch ổ bụng, các tổn thơng tạng, phân độ. Các
biện pháp xử trí tổn thơng, thời gian mổ
Sau mổ: thời gian có lại lu thông tiêu hóa, các biến chứng
chảy máu, xì, bục chỗ khâu, áp xe tồn d, viêm phúc mạc
2.2.4. Xử lý số liệu
BN có mẫu bệnh án riêng, đợc số hóa và xử lý theo phần mềm
thống kê SPSS 15.0.
11
Chơng 3
kết quả
3.1. Mẫu nghiên cứu
3.1.1. Giới, tuổi
Nam: 88 BN chiếm 73,3%, Nữ: 32 BN chiếm 26,7%
Tuổi trung bình: 31,27 13,83 (Thấp nhất 4, cao nhất 75)

12
3.3 Các thăm khám cận lâm sàng
3.3.1. Xét nghiệm máu: không có giá trị chẩn đoán.
3.3.2. X quang bụng không chuẩn bị
.
Giá trị chẩn đoán của dấu hiệu liềm hơi dới hoành: Độ nhạy:
16,7%; Độ đặc hiệu 100%; Dơng tính giả: 0%; Âm tính giả: 50%;
Dự báo dơng tính:100 %; Dự báo âm tính: 50%.
3.3.3. Siêu âm bụng
100% BN đợc siêu âm bụng. Độ nhạy phát hiện dịch ổ bụng:
86,7%. Độ chính xác phát hiện tổn thơng tạng đặc tùy thuộc từng
tạng. Không phát hiện đợc vỡ tạng rỗng.

3.3.4. Chụp CLVT
Có 36 BN đợc chỉ định chụp CLVT (30%). Độ nhạy phát hiện
dịch ổ bụng: 94,4%. Độ chính xác phát hiện tổn thơng tạng tùy
thuộc vào từng tạng.
3.4. Chẩn đoán trớc mổ

Bảng 3. 15: Chẩn đoán trớc mổ
Thời gian theo dõi BN tính từ khi vào viện đến khi quyết định mổ
Thời gian trung bình: 16,31 27,24h.
Chẩn đoán Số BN %
CTBK nghi vỡ tạng 54 45
Vỡ gan 12 10
Vỡ lách 11 9,2
Vỡ tạng đặc 1 0,8
Vỡ tạng rỗng 29 24,2
Vỡ bàng quang 8 6,7
Chấn thơng tá tụy 4 3,3

Tổng
Có tổn thơng 92 0 92
Không có tổn thơng 1 27 28
Tổng 93 27 120
Độ nhạy: 99%; Độ đặc hiệu: 100%; Dơng tính giả: 0%; Âm
tính giả: 3,6%; Dự báo dơng tính: 100%; Dự báo âm tính: 96,4%.
14
- Thời gian mổ nội soi ở nhóm NSOB chẩn đoán
Thời gian trung bình: 61,27 30 (phút).
Thời gian ngắn nhất 15 phút, lâu nhất 150 phút.
3.7. Khả năng điều trị của PTNS
3.7.1. Xử trí tổn thơng gan
Bảng 3.40: Các biện pháp xử trí tổn thơng gan
Xử trí
Độ
Không
xử trí
Đốt
điện
Khâu
NS có
hỗ trợ
Mổ
mở
Tổng
Độ I 6 2 0 0 0 8
Độ II 0 4 1 1(đốt
điện)
3 9
Độ III 2 0 0 0 0 2

15
3.7.4. iu tr tn thng i trng
Có 1 BN phát hiện vỡ đại tràng góc lách khi nội soi chẩn đoán.
Chỗ vỡ khoảng 1 cm. Qua nội soi giải phóng đại tràng góc lách. Mở
nhỏ thành bụng hạ sờn trái đa chỗ vỡ đính ra thành bụng khâu chỗ
vỡ 2 lớp. Sau mổ 1 tuần, BN ăn uống bình thờng, đại tiện bình
thờng, chỗ khâu không bục, tiến hành đa đại tràng vào ổ bụng tại
giờng bệnh bằng gây tê tại chỗ.
3.7.5. PTNS điều trị vỡ bàng quang
Bảng 3.44: Các biện pháp xử trí tổn thơng bàng quang
Xử trí
Độ
Không
xử trí
NS đơn
thuần
NS có hỗ
trợ
Mổ
mở
Tổng
Độ I 1 0 0 0 1
Độ II 0 0 0 1 1
Độ III 0 6 2 0 8
Tổng 1 6 2 1 10
3.7.6. Xử trí các tổn thơng khác
- 2 tổn thơng tụy kèm tổn thơng khác trong ổ bụng cần mổ mở.
2 BN chỉ bị đụng giập tụy đơn thuần đã đợc điều trị dẫn lu qua NS.
- Không điều trị tổn thơng thận qua NSOB.
- Khâu rách mạc treo cho 8 BN.

PTNS điều trị 60 47,54 16,05 40,33 54,75
Chuyển mổ mở 18 65,85 11,21 59,07 72,62
Với các khoảng tin cậy 95% khác nhau rõ rệt ở 3 nhóm cho ta
thấy nhóm chỉ cần nội soi chẩn đoán có lu thông tiêu hóa trở lại sớm
nhất (trong khoảng 1 ngày) rồi đến nhóm có tổn thơng nhng xử trí
đợc bằng nội soi (trong khoảng 2 ngày) cuối cùng là nhóm có tổn
thơng cần mổ mở (trong khoảng 3 ngày).
17
3.8.2. Các biến chứng do sót tổn thơng
- Không có sót tổn thơng tạng rỗng vì nếu sót sẽ có biến chứng
viêm phúc mạc sau mổ.
- Không có sót tổn thơng gan, lách gây chảy máu sau mổ.
Không có can thiệp lại để cầm máu gan, lách vỡ.
- Sót 1 chấn thơng đụng giập tụy hình thành nang giả tụy cấp
phải can thiệp lại sau 2 tuần để dẫn lu.
3.8.3. Các biến chứng do PTNS điều trị
- Không có biến chứng chảy máu thứ phát sau khâu cầm máu,
đốt điện cầm máu vỡ gan, vỡ lách.
- Không có biến chứng chảy máu, ổ dịch tồn d, rò tụy ở 2 BN
dẫn lu tụy qua nội soi.
- Không có biến chứng xì bục chỗ khâu, chỗ nối ruột non, đại
tràng qua nội soi. Không có biến chứng áp xe tồn d do bơm rửa ổ
bụng ở những BN vỡ
3.8.4. Các biến chứng chung của NSOB
- Không có nhiễm trùng các lỗ trocart.
- Có 1 trờng hợp nhiễm trùng vết mở rộng lỗ trocart khi thực
hiện nội soi có hỗ trợ để cắt nối ruột.
- Không có tổn thơng tạng do chọc trocart. Không có tổn
thơng tạng do quá trình NSOB chẩn cũng nh điều trị gây nên.
3.8.5. Các biến chứng do gây mê trong NSOB

và tụ máu.
- Phản ứng thành bụng và cảm ứng phúc mạc: 75,8% số BN trong
nghiên cứu có phản ứng thành bụng và/ hoặc cảm ứng phúc mạc
nhng có tới 21 BN không có tổn thơng tạng trong ổ bụng. 26 BN
trong nghiên cứu không có triệu chứng rõ ràng khi thăm khám thì có
19
20 BN có tổn thơng tạng.
4.3 Các thăm dò cận lâm sàng
4.3.1. Chụp bụng không chuẩn bị: Dấu hiệu liềm hơi dới hoành rất
có giá trị với độ đặc hiẹu, độ dự báo dơng tính cao (100%) nhng độ
nhạy lại quá thấp (16,7%), âm tính giả cao (50%).
4.3.2. Siêu âm: 100% số BN đợc siêu âm bụng
- Phát hiện dịch ổ bụng: với độ nhạy cao 86,7%
- Phát hiện tổn thơng tạng đặc nh gan, lách với độ nhạy thấp
nhng độ đặc hiệu cao, độ dự báo âm tính tốt
- Không phát hiện đợc tổn thơng tạng rỗng, tổn thơng mạc
treo, các tổn thơng nông.Khó đánh giá tổn thơng tụy.
4.3.3. Chụp CLVT: 30% số BN đợc chụp CLVT
- Phát hiện dịch ổ bụng: độ nhạy rất cao 94,4%
- Phát hiện tổn thơng tạng đặc rất tốt nhất là các tổn thơng
trong nhu mô của gan, lách. Phát hiện tổn thơng tụy chủ yếu bằng
hình ảnh tụy to phù nề. Khó đánh giá tổn thơng bề mặt của tạng đặc.
- Phát hiện đợc tổn thơng tạng rỗng nhng độ nhạy rất thấp.
Tóm lại chẩn đoán hình ảnh có vai trò rất quan trọng trong chẩn
đoán tổn thơng tạng trong CTBK. Trong chấn thơng tạng đặc nhìn
chung chụp CLVT không những phát hiện rất chính xác tổn thơng
mà còn phân độ đợc tổn thơng giúp cho thày thuốc có thái độ xử trí
đúng điều trị bảo tồn hay phẫu thuật. Tuy nhiên chụp CLVT cũng có
những hạn chế nhất định đó là khó phát hiện những tổn thơng nông
bề mặt của tạng đặc, những tổn thơng tạng rỗng, mạc treo, cơ

Vì tình trạng khó chẩn đoán nh vậy 87 BN chẩn đoán cha
chắc chắn nghi ngờ có tổn thơng tạng (không rõ tạng nào, không
biết độ, không biết hết tạng tổn thơng) NSOB đợc sử dụng với
mục đích chẩn đoán. 33 BN chẩn đoán có tổn thơng tạng, cần phải
21
mổ, sử dụng NSOB để diều trị.
4.6. Giá trị chẩn đoán của NSOB
4.6.1 Dịch ổ bụng: qua NSOB xác định chính xác dịch ổ bụng, tính
chất, số lợng dịch.
4.6.2. Tổn thơng tạng
4.6.2.1. Gan: quan sát tốt bề mặt gan trừ phần gan ngoài phúc mạc,
khó đánh giá tổn thơng nhỏ sâu trong nhu mô.
4.6.2.2. Lách: khó quan sát mặt trên cực sau lách, dễ đánh giá tổn
thơng nhu mô vì lách bé hơn gan.
4.6.2.3. Tụy: cần giải phóng mạc nối nhỏ hoặc hậu cung mạc nối để
thăm dò thân đuôi tụy, giải phóng đầu tụy để thăm dò đầu
tụy.
4.6.2.4. Thận: đợc đánh tốt qua chụp CLVT, không nên mở phúc
mạc kiếm tra.
4.6.2.5. ống tiêu hóa: Dễ quan sát tổn thơng. Cần chuyền quai ruột
giữa 2 pince để kiểm tra hết chiều dài ruột. Vỡ tá tràng
thờng thấy hơi, dịch tiêu hóa sau phúc mạc quanh tá tràng.
4.6.2.6. Các tạng khác: bàng quang túi mật, đại tràng, cơ hoành dễ
phát hiện tổn thơng vì ít phải bộc lộ.
4.6.3. Kết quả nghiên cứu của các tác giả khác
Năm 1999 Villavicencio RT đã có thống kê các nghiên cứu về
NSOB chẩn đoán và điều trị chấn thơng bụng bao gồm cả CTBK và
vết thơng thấu bụng. Đến cuối những năm 90 tác giả tập hợp đợc
37 nghiên cứu áp dụng cho 1976 BN. Các nghiên cứu chủ yếu tập
trung vào vết thơng bụng, số CTBK ít hơn nhiều (144 BN) nên thấy

4.7.2.5. Tổn thơng bàng quang: Tổn thơng bàng quang trong phúc
mạc có thể khâu 2 lớp thuận lợi vì bàng quang dày, rộng. Chỉ
23
cần đặt sonde niệu đạo bàng quang, rút sau 7 ngày.
4.7.2.6. Tổn thơng túi mật: cắt túi mật thờng quy nếu nh tổn
thơng túi mật đơn thuần.
4.7.3. Điều trị tổn thơng cơ hoành: Vỡ cơ hoành trái có thể khâu
qua nội soi, rửa khoang màng phổi và dẫn lu màng phổi sau đó. Vỡ
cơ hoành phải không khâu đợc qua đờng bụng do vớng gan, nên
khâu qua nội soi ngực. Tổn thơng rách lớn cần mổ mở.
Thời gian mổ không quá dài, trung bình khoảng 2 giờ.
4.7.4. Kết quả của một số tác giả khác
Từ 2003 mới có nhiều tác giả thực hiện xử trí tổn thơng qua nội
soi: Innelli A, Lachachi F, Mathonnet M khâu chỗ vỡ ruột non qua
nội soi. Crescienzo D và cs nội soi điều trị cho 5 BN bị vỡ lách thành
công bằng đốt điện, phun keo sinh học
Chol YB và Lim KS khâu
cắt nối ruột, cắt đuôi tụy, cắt lách bằng nội soi có hỗ trợ. Đến 2006,
2007 Huscher, Mintz đã cắt lách, khâu cơ hoành qua nội soi. Nhìn
chung các tác giả đều thành công ỏ những BN đã đợc lựa chọn.

Kết luận
NSOB đợc chỉ định chẩn đoán và điều trị cho 120 BN bị CTBK
đợc cấp cứu tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức trong thời gian từ tháng
1/2004 đến tháng 12/2006. Kết quả cho thấy:
1. NSOB là một biện pháp chẩn đoán có sang chấn tối thiểu
nhng nhìn đợc trực tiếp tổn thơng. Với sự hỗ trợ của dụng
cụ có thể bộc lộ thăm dò đợc tất cả các tạng trong ổ bụng.
- NSOB đánh giá chính xác các tổn thơng tạng nhất là các tổn
thơng bề mặt, tổn thơng tạng rỗng, mạc treo, cơ hoành là những



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status