Tư tưởng Con người, Xã hội trong Triết học Phương Tây cổ đại tới cận đại - Pdf 35

Tư tưởng Con người, Xã hội trong Triết học Phương Tây cổ đại tới cận đại

LỜI MỞ ĐẦU
Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ được
thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ. Những triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện
vào khoảng thế kỷ VIII – VI trước công nguyên ở Ấn Độ cổ đại, Trung quốc cổ đại, Hy
Lạp và La Mã cổ đại và ở các nước khác.
Triết học được xem là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên
tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức về thái độ của con người đối với thế giới, là khoa
học về những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Triết học Phương Tây nói chung và Triết học Phương Tây từ cổ đại đến cận đại là
một bộ phận quan trọng trong hệ thống triết học thế giới. Đối tượng của triết học phương
Tây nói chung ngoài phần siêu hình học bàn về những ý niệm trừu tượng như bản thể, ý
thức, hư vô... còn lại là những hành trình vào các vấn đề cụ thể có liên quan tới con người
như cảm giác, nhận thức, ký ức, hạnh phúc, đạo đức…. Các vấn đề về con người như con
người tri thức thế giới xung quanh như thế nào, vai trò của con người trong quá trình nhận
thức như thế nào… hay những vấn đề và xã hội như quan hệ giữa các nhân và xã hội, ai
quan trọng hơn, đạo đức là vấn đề xã hội hay vấn đề cá nhân, quan hệ giữa cá nhân và
nhà nước… là trọng tâm trong quan điểm của các triết gia phương Tây. Bài tiể luận này
sẽ tập trung tìm hiểu, nghiên cứu tư tưởng con người và xã hội được thể hiện trong quan
điểm của các triết gia thuộc các trường phái triết học khác nhau trong Triết học Phương
Tây từ cổ đại tới cận đại.

Trang 1


Tư tưởng Con người, Xã hội trong Triết học Phương Tây cổ đại tới cận đại

CHƯƠNG I – KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI ĐẾN
CẬN ĐẠI
I.1. TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

Nội dung/đặc điểm chính

Triết học Hy Lạp cổ đại xuất hiện vào lúc xã hội này đã phát triển lên chế độ
chiếm hữu nô lệ với hai giai cấp chủ yếu là chủ nô và nô lệ nên nó là hệ tư tưởng, là
thế giới quan của giai cấp chủ nô thống trị, đồng thời nó còn là công cụ bảo vệ, duy trì
Trang 2


Tư tưởng Con người, Xã hội trong Triết học Phương Tây cổ đại tới cận đại

địa vị, quyền lợi của giai cấp chủ nô, là công cụ nô dịch, đàn áp các giai cấp khác về
mặt tư tưởng. Bên cạnh tính giai cấp rõ rệt đó, triết học Hy Lạp cổ đại coi trọng, đề
cao vai trò của con người, coi con người là tinh hoa của tạo hoá. Do là một trong
những nền triết học mở đường trong lịch sử triết học nhân loại hơn nữa các quan niệm
triết học được rút ra trên cơ sở suy luận, suy đoán từ sự quan sát trực tiếp các sự kiện
xảy ra trong tự nhiên, trong xã hội nên triết học Hy Lạp cổ đại mang nặng tính sơ
khai, chất phác, ngây thơ. Tuy nhiên, từ trong sự khởi đầu đó, các nhà triết học sau
này đã nhìn thấy ở triết học Hy Lạp cổ đại mầm mống của tất cả các kiểu thế giới
quan sau này và xem nó là một đỉnh cao của triết học nhân loại. Tuỳ thuộc vào từng
thời kỳ lịch sử, tuỳ từng không gian địa lý cụ thể mà triết học Hy Lạp cổ đại chia
thành các trường phái và các giai đoạn phát triển khác nhau.
Trên thực tế, mặc dù triết học duy vật Hy Lạp ra đời trên nền tảng thần thoại và
tôn giáo nhưng thế giới quan lại hoàn toàn mới lạ dựa trên cơ sở trí tuệ sâu sắc đã đem
lại cho con người giải quyết đúng đắn những vấn đề do cuộc sống con người đặt ra,
giúp họ có cách sống hợp lý trong xã hội. Có thể coi triết học Hy Lạp cổ đại là đỉnh
cao của văn minh Hy Lạp, với các đặc trưng cơ bản:
-

Triết học Hy Lạp đã có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu,
trường phái, duy vật và duy tâm, biện chứng và siêu hình, vô thần và hữu thần.

Triết học Hy Lạp đặc biệt quan tâm đến vấn đề con người, khẳng định con
người là vốn quý, là trung tâm hoạt động của thế giới, là tinh hoa cao quý nhất
của tạo hóa.”Con người là thước đo tất thảy mọi vật”(Pitago). Mặc dù vậy, con
người ở đây cũng chỉ là con người cá thể, giá trị thẩm định chủ yếu ở khía cạnh
đạo đức, giao tiếp và nhận thức.

I.1.3.

Các triết gia tiêu biểu

Hy Lạp là một trong những chiếc nôi của nền văn minh nhân loại. Ở đó xuất
hiện rất sớm và đạt được những thành tựu rực rỡ mà ảnh hưởng của nó còn in đậm đối
với sự phát triển của tư tưởng triết học sau này. Thời kì này nổi bật lên với tên tuổi
của các nhà duy vật như Đêmôcrit, Hêraclit, Arixtôt, Êpiquya… Trong nội dung của
bài tiểu luận này, chúng ta sẽ xem xét những thành tựu của nền triết học này thông qua
sự đóng góp của các triết gia tiêu biểu như Hêraclit, Đêmôcrit, Platon và Arixtôt,
Socrates.
I.1.3.a.

Hêraclit

Hêraclit đã đứng trên lập trường duy vật cổ đại để giải quyết vấn đề “cơ sở đầu
tiên” của thế giới từ một dạng vật chất cụ thể. Ông cho rằng lửa chính là bản nguyên
của thế giới, là cơ sở duy nhất và phổ biến của tất cả mọi sự vật, hiện tượng tự nhiên.
Lửa là cơ sở làm nên sự thống nhất của thế giới. Thế giới vận động theo trật tự mà ông
gọi là logos: logos khách quan và logos chủ quan quan hệ với nhau như là quan hệ
giữa khách thể và nhận thức. Và như vậy thì sự phù hợp với logos khách quan là tiêu
chuẩn để đánh giá tư duy con người. Đây là một đóng góp có giá trị của Heraclit cho
phép biện chứng sau này.
Tuy chưa được trình bày dưới dạng một hệ thống các luận điểm như sau này

không phải là tính nhân quả mà có tính mục đích). Sự thừa nhận tính nhân quả, tính tất
yếu và tính quy luật trong giới tự nhiên là một trong những thành quả có giá trị nhất
của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại.
Đêmocrit có nhiều công lao trong việc xây dựng lý luận về nhận thức. Ông đặt
ra và giải quyết một cách duy vật vấn đề đối tượng của nhận thức, vai trò của cảm giác
với tính cách là điểm bắt đầu của nhận thức và vai trò của tư duy trong việc nhận thức
tự nhiên.
Nét đặc sắc trong triết học duy vật của Đêmôcrit là chủ nghĩa vô thần. Ông cho
rằng sở dĩ con người tin vào thần thánh là vì con người bất lực trước những hiện tượng
khủng khiếp của tự nhiên. Theo ông, thần thánh chỉ là sự nhân cách hoá những hiện
tượng tự nhiên hay là những thuộc tính của con người. Thí dụ, mặt trời mà tôn giáo
Hy Lạp đã thần thánh hoá thì ông cho đó chỉ là một khối lửa.
Công lao có ý nghĩa lịch sử của Đêmôcrit là ông đã bền bỉ đấu tranh cho quan
niệm duy vật về tự nhiên. Nó đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển tiếp theo của
triết học duy vật.
I.1.3.c.

Platon:

Platon là một nhà triết học duy tâm khách quan. Ông là người đầu tiên xây
dựng hệ thống hoàn chỉnh đầu tiên của chủ nghĩa duy tâm khách quan, đối lập với thế
giới quan duy vật. Ông đã tiến hành đấu tranh gay gắt chống lại chủ nghĩa duy vật đặc
Trang 5


Tư tưởng Con người, Xã hội trong Triết học Phương Tây cổ đại tới cận đại

biệt là chống lại những đại biểu của chủ nghĩa duy vật thời bấy giờ như Hêraclit,
Đêmôcrit. Theo Platon, giới tự nhiên thế giới của những vật cảm tính bắt nguồn từ
những thực thể tinh thần tức là từ những ý niệm; vật thể cảm tính chỉ là cái bóng của ý

nhất lập trường giai cấp của ông. Ông cho rằng, đạo đức phải phục vụ quyền lợi của
nhà nước, hành vi nào làm suy yếu nhà nước là không có đạo đức. Đạo đức phải gắn
Trang 6


Tư tưởng Con người, Xã hội trong Triết học Phương Tây cổ đại tới cận đại

liền với hành vi của con người, tiêu chuẩn đánh giá một cá nhân có đạo đức không
phải ở lời nói mà là ở hành động. Triết học của Arixtôt tuy còn những hạn chế, dao
động giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, nhưng ông vẫn xứng đáng là bộ óc
vĩ đại nhất trong các bộ óc vĩ đại của nền triết học Hy Lạp cổ đại, “là vị hoàng đế
Maxêđoan” của triết học.
I.1.3.e.

Socrates

Socrates xuất thân trong một gia đình khá giả ở Athen. Cha làm nghề điêu khắc,
mẹ là nữ hộ sinh. Ông hướng về chính thể chủ nô quý tộc chống lại chủ nô dân chủ.
Năm 399 BC, ông bị chủ nô dân chủ kết án tử hình về tội “coi thường luật pháp,
chống lại chế độ bầu cử dân chủ”. Đối với ông chỉ có văn nói sống động, và văn viết
đã bị khô cứng. Vì vậy cuộc đời ông không để lại một tác phẩm nào. Chỉ biết được
ông qua đệ tử của ông.
Triết học của ông khác với các nhà triết học trước đó. Các nhà triết học trước
nghiên cứu về giới tự nhiên. Nhưng ông dành phần lớn vào việc nghiên cứu về con
người, về đạo đức, về nhân sinh quan. Triết học không gì khác hơn là sự nhận thức
của con người về chính mình, “con người hãy nhận thức chính mình”. Bắt đầu từ ông,
đề tài con người trở thành một trong những chủ đề trong tâm của triết học phương
Tây. Vì vậy, quan điểm triết học của ông bàn đến vấn đề con người trong đời sống xã
hội mà trước hết là hành vi đạo đức.
Xuất phát từ “đạo đức học duy lý”, ông cho rằng, “Hiểu biết là cơ sở của điều

tưởng khác .
Như vậy, nét nổi bật của triết học Hy Lạp cổ đại là đã đặt ra hầu hết các vấn đề
cơ bản của triết học mà sau này các học thuyết triết học khác sẽ từng bước giải quyết
theo nội dung của thời đại mình, nó bao chứa mầm mống của tất cả thế giới quan về
sau này. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa phép biện
chứng và phép siêu hình được thể hiện rất rõ. Những thành tựu triết học cơ bản của nó
xứng đáng ghi một mốc son trong lịch sử triết học của loài người.
I.1.4.

Nhậ định chung

Triết học Hy Lạp-La Mã cổ đại là tiếng chuông vàng, là nhịp cầu vững chắc,
nối những bến bờ triết học sau này. Đến nay những gì mà triết học Hy Lạp cổ đại
mang đến cho nhân loại vẫn còn nguyên giá trị đó. Triết lý Hy Lạp cổ đại là những
viên gạch đầu tiên xây nên toàn bộ ngôi nhà văn minh của Châu Âu ngày nay. Ta có
thể thấy cả bề mặt và bề trái của Châu Âu ngày nay qua nền triết học Hy Lạp cổ đại.
Điều đó làm cho nó sáng rực rỡ trên vũ đài triết học nhân loại và trở nên bất hủ. Marx
nói: “Dại dột cho ai không thấy giá trị Hy Lạp cổ đại”. Nền triết học duy vật Hy Lạp
cổ đại đã đạt những thành tựu rực rỡ về mọi mặt và đã có những cống hiến lớn lao vào
kho tàng văn học của loài người. Hơn hai mươi lăm thế kỉ đã qua, thời đại nô lệ Hy
Lạp đã lùi xa trong quá khứ của lịch sử loài người, nhưng cho đến ngày nay, triết học
Hy Lạp cổ đại vẫn không hề mất đi giá trị của nó. Nền văn minh hiện đại Châu Âu bắt
Trang 8


Tư tưởng Con người, Xã hội trong Triết học Phương Tây cổ đại tới cận đại

nguồn từ nền văn minh Hy Lạp và chúng ta đã không thể hiểu đầy đủ văn hóa Châu
Âu ngày nay nếu không đi ngược thời gian để tìm hiểu những thành tựu huy hoàng
của văn hóa Hy Lạp cổ đại, Ăngghen viết “Chúng ta luôn luôn phải quay về với

đến thế kỷ XIV). Vào thế kỷ V, những cuộc nổi dậy của nô lệ và những cuộc đấu tranh
giai cấp bên trong cùng với sự tiến công của những man tộc bên ngoài đã đưa tới sự
Trang 9


Tư tưởng Con người, Xã hội trong Triết học Phương Tây cổ đại tới cận đại

sụp đổ của đế quốc La Mã phương Tây. Chính những sự kiện đó đã dẫn đến kết quả
chấm dứt hình thái kinh tế - xã hội nô lệ cổ đại, và chế độ phong kiến Tây Âu ra đời.
Đây là thời kỳ hình thành và phát triển PTSX phong kiến phương Tây.
Nền kinh tế trong xã hội phong kiến mang tính chất tự nhiên, tự cấp, tự túc bởi
vì sản phẩm làm ra chỉ nhằm giải quyết các nhu cầu của các công xã và thái ấp. Các
thái ấp là một thế giới đóng kín; quyền chiếm hữu ruộng đất và tư liệu sản xuất cũng
như sản phẩm làm ra không hoàn toàn thuộc về người lao động (nông dân hay nông
nô) mà thuộc về giai cấp địa chủ phong kiến. Vì vậy, phong trào đấu tranh của nông
dân lao động, thợ thủ công, dân nghèo thành thị chống bọn phong kiến và tầng lớp bóc
lột khác là một nội dung chủ yếu của lịch sử xã hội phong kiến.
Sự hình thành vô số những điền trang thái ấp phong kiến Tây Âu đã tạo ra một
chế độ phong kiến cát cứ phân quyền. Trong điều kiện đó, tôn giáo nhất thần đã có cơ
hội phát triển với tư cách là công cụ tinh thần thiêng liêng của giai cấp phong kiến
thống trị. Thiên chúa giáo - một dòng tôn giáo giữ truyền thống bảo thủ nhất của Cơ
đốc giáo – đã trở thành một tôn giáo độc tôn của các nước phong kiến Tây Âu. Sự
thống trị của uy quyền phong kiến và thần quyền giáo hội đã cản trở sự phát triển của
khoa học và kỹ thuật. Triết học cũng bị phụ thuộc vào thần học. Bản chất của CNDV
gắn liền với khoa học, thời kì này đã không có điều kiện để phát triển. Trong thời đại
phong kiến, tôn giáo và thần học là hệ tư tưởng thống trị trong đời sống tinh thần của
xã hội. Tôn giáo đã bắt những hình thái khác của của ý thức xã hội phải phụ thuộc vào
nó. Ăng-ghen viết: "Nhà thờ với việc chiếm hữu ruộng đất theo lối phong kiến của nó
là mối liên hệ thực tế giữa các nước khác nhau; tổ chức nhà thờ theo lối phong kiến đã
dùng tôn giáo để bảo vệ nhà nước phong kiến quý tộc. Thêm vào đó, giáo sỹ là giai

trong vòng hai thế kỷ (XII, XIII) ở Tây Âu hàng loạt các trường đại học đã ra đời.
Tóm lại, từ lập trường DVBC mà xét thì thời kỳ trung cổ không phải là quá
trình đứt đoạn của lịch sử mà là một thời kỳ “trong nỗi đau đớn đã sinh ra một nền văn
minh mới, tạo cơ sở cho sự ra đời của những bộ tộc hiện đại chuẩn bị cho lịch sử
tương lai ở Châu Âu”.
I.2.2.

Nội dung, đặc điểm chính

Thứ nhất, sự phát triển của những tư tưởng triết học các nước Tây Âu thời
Trung cổ bị chi phối rất mạnh bởi tư tưởng tôn giáo và thần học. Theo Ăngghen, trong
thời kỳ Trung cổ ở Tây Âu, triết học chỉ là "đầy tớ", "con sen" cho thần học. bởi vì
nhiệm vụ của triết học là giải thích đúng đắn và chứng minh về mặt hình thức cho
những tín điều tôn giáo do nhà thờ Kitô giáo thống trị, đứng đầu là Giáo hoàng La Mã
đặt ra. Đây là thời kỳ lịch sử mà tiếng nói "trí tuệ và lương tri nhân loại" bị áp đảo bởi
sự tuyên truyền của giáo hội về đức tin nơi Thiên chúa. Đây cũng là thời kỳ các nhà
thần học được phép tuyên bố rằng mọi tri thức của nhân loại đều có thể rút ra từ Kinh
thánh (Cựu ước và Tân ước); rằng tất cả những gì trái với kinh thánh đều đáng nguyền
rủa và xử tội.
Trang 11


Tư tưởng Con người, Xã hội trong Triết học Phương Tây cổ đại tới cận đại

Thứ hai, sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ của tư tưởng triết học kinh viện (chủ
nghĩa kinh viện) cũng là một nét nổi bật của thời kỳ Trung cổ ở Tây Âu. Triết học thời
kì này giải quyết các vấn đề xa rời thực tế cuộc sống. Vấn đề trung tâm mà các nhà
kinh viện chú ý nghiên cứu là vấn đề mối quan hệ giữa tri thức và niềm tin (tôn giáo).
Những căn cứ để triết học kinh viện "luận chứng" chính là những tín điều trong các
cuốn kinh thánh, chứ không phải là những kiến thức khoa học, không phải là thực tiễn

Trang 12


Tư tưởng Con người, Xã hội trong Triết học Phương Tây cổ đại tới cận đại

Theo Ôguýtxtanh, chỉ có ơn huệ tối cao của "Thượng đế, mà đại biểu trên trái
đất là giáo hội mới cứu vớt được đời sống tương lai. Bởi vì, toàn bộ lịch sử là cuộc
đấu tranh giữa những người theo thần linh để củng cố "Thành phố thần thánh" và
những người theo quỷ dữ để tổ chức ra "thành phố trần gian". Vì vậy phải có uy thế
của quyền lực tinh thần đối với quyền lực thế tục, cần có uy quyền thế giới của giáo
hội. Tuy nhiên, trong quan điểm triết học của Ôguýtxtanh cũng bộc lộ những mâu
thuẫn không thể giải quyết được. Một mặt, ông thừa nhận Thượng đế sáng tạo ra tất
cả; nhưng mặt khác ông lại cho rằng "không có Thượng đế trong các sự vật cảm biết".
Thí dụ, khi quan sát giới tự nhiên thấy vẻ đẹp của thân thể, sự rực rỡ của ánh sáng, sự
dịu dàng của âm điệu, mùi thơm của hoa lá v.v. ông cho rằng nó không được đánh giá
bởi Thượng đế.
Tóm lại, Ôguýtxtanh là nhà triết học ra sức bảo vệ tôn giáo, chống khoa học và
triết học duy vật.
I.2.3.b. Giăngxicốt Ơrigiennơ (810 - 877)
Là người Ai Len, là một trong những nhà tư tưởng nổi tiếng thời Trung cổ, là
người theo chủ nghĩa duy thực triệt để. Ông viết một loạt tác phẩm nổi tiếng như: "Về
sự tiền định của Thượng đế", "Về sự phân chia giới tự nhiên" v.v.
- Trong triết học của Ơrigiennơ nổi lên một số vấn đề sau:
+ Triết học của ông là một hệ thống duy tâm tìm cách kết hợp chủ nghĩa
Platonvới Thiên chúa giáo. Ông nói; "Triết học chân chính và tôn giáo chân chính là
một".
+Trung tâm trong học thuyết của ông là chứng minh cho sự tồn tại và vai trò tối
cao của Thượng đế đối với đời sống con người và giới tự nhiên.Theo ông, bản thân
quá trình thế giới là sự giáng thế liên tục của Thượng đế. Như vậy đó đã bao hàm
những nhân tố phiếm thần luận. Trong tác phẩm "Về sự phân chia giới tự nhiên", ông

theo chủ nghĩa duy danh.
Trong việc giải quyết mối quan hệ giữa lòng tin và lý trí, ông đề cao vai trò của
lý trí: Lòng tin phải lấy lý trí làm cơ sở. Bởi vì, theo ông, nguyên lý xuất phát là "hiểu
để mà tin", và lý trí cho ta những phương tiện chính xác để vạch ra toàn bộ nội dung
của chân lý tôn giáo và câu trả lời đúng đắn về một tín điều tôn giáo nào đó là xác
đáng hay không xác đáng. Nhiệm vụ của sự tìm kiếm triết học là vạch ra và lập luận
chân lý, bởi lẽ "sự linh cảm" không thể là tiêu chuẩn cho tính chân lý của các thành
quả của lý trí, trái lại lý trí mới bảo đảm cho những điều linh cảm.
Pie Abơla cho rằng: Khái niệm chung không tồn tại bên ngoài sự vật cụ thể,
không có đời sống độc lập, nhưng nó không tồn tại trong bản thân các sự vật; khái
niệm chung cũng không nằm trong bản thân từ ngữ, mà nằm trong ý nghĩa của từ ngữ.
Như vậy, triết học của Pie Abơla ở mức độ nhất định đã báo hiệu sự xuất hiện
một khoa học thực nghiệm của giai đoạn mới, phần nào xa lìa tín điều chính thống của
nhà thờ. Nhà thờ gọi ông là kẻ "chống chúa trời", là kẻ tà đạo.
I.2.3.d. Rôgiê Bêcơn (khoảng 1214 - 1294)

Trang 14


Tư tưởng Con người, Xã hội trong Triết học Phương Tây cổ đại tới cận đại

Là người Anh, một tu sĩ đã phải sống 14 năm trong các nhà giam của Giáo hội.
Ông đóng một vai trò là người đi tiên phong trong khoa học thực nghiệm của thời đại
mới. Triết học của Rôgiê Bêcơn cũng đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đấu
tranh chống triết học kinh viện; chống giáo hội, lên án bọn giáo sỹ và sự áp bức của
giai cấp phong kiến, bênh vực quyền lợi của nhân dân; song không chống tôn giáo nói
chung.
Rôgiê Bêcơn đã đưa ra quan niệm mới về đối tượng của triết học. Theo ông,
triết học là khoa học lý luận chung giải thích mối quan hệ giữa các khoa học bộ phận
và đem lại cho các khoa học đó những quan điểm cơ bản; còn bản thân triết học được

ước mơ và ý tưởng về sự tiến bộ của khoa học. Vì vậy, ông luôn bị nhà nước phong
kiến và giáo hội truy nã, cầm tù.
Triết học R. Bêcơn có nhiều tư tưởng tiến bộ, nhưng không thoát ra khỏi hạn
chế của thời đại mình - thời đại thống trị của tôn giáo và nhà thờ; ông đã tuyên bố sự
phụ thuộc của triết học vào lòng tin; ông nghiên cứu về "tính chất rõ ràng của tư
tưởng" xuất phát từ mẫu mực đầu tiên của Thượng đế, và về "lý trí hoạt động tiên
nghiệm".
Ông là một triết gia, một nhà khoa học người Anh, tiến sĩ thần học đại học tổng
hợp Paris. Tác phẩm chính là:
- Về sư kéo dài sự sống của con người
- Chỉ dẫn để nghiên cứu thần học
- Chỉ dẫn để nghiên cứu triết học
- Tiểu phẩm ca ngợi toán học
- Về cầu vồng
- Triển vọng
- Về sai lầm của các bác sĩ…
I.2.3.e.

Tô mát đa canh (1225-1274)

Sinh ở Italia, là nhà thần học, nhà triết học kinh viện nổi tiếng; Ngoài ra ông
còn nghiên cứu những vấn đề pháp quyền đạo đức, chế độ nhà nước và kinh tế. Triết
học của ông được đạo Thiên chúa coi là triết học duy nhất đúng đắn và lấy làm hệ tư
tưởng của mình.
Tômát Đacanh nghiên cứu nhiều lĩnh vực: thần học, triết học, pháp quyền, đạo
đức, chế độ nhà nước, kinh tế. Với 18 cuốn sách, trong tuyển tập của ông hợp thành
bộ bách khoa toàn thư về hệ thống tư tưởng thống trị thời trung cổ hưng thịnh.
Là đại biểu của phái duy thực trong giai đoạn hưng thịnh của phái duy thực
trong giai đoạn hưng thịnh của chủ nghĩa kinh viện. Học thuyết của ông được thừa
nhận là triết học chính thức duy nhất của Giáo hội Thiên chúa.

hình dạng lý tính cao hơn hình dạng cảm tính. Bởi vì, nhờ nó ta mới biết được cái
chung chứa đựng nhiều thực thể riêng biệt, còn hình dạng cảm tính cũng có vai trò
quan

trọng,

bởi



nhờ



cảm

giác

trở

nên

cảm

thụ

tích

cực.


nhận thức luận, ông đã đề cập vấn đề vai trò của yếu tố tinh thần, của lý trí và ý chí.
Về vai trò của lý trí và ý chí, ông đã chó rằng thống trị mọi dạng hoạt động của con
người không phải là lý trí mà là ý chí. Ý chí cao hơn lý trí, và hơn nữa ở Thượng đế
thì ý chí trở thành tự do.
Về vấn đề quan hệ giữa lý trí và lòng tin ông cho rằng lý trí và lòng tin, tri thức
và thần học là không thể và không nên dung hòa, vị trí hàng đầu phải thuộc về lòng tin
còn lý trí đóng vai trò phụ thuộc.
I.2.3.g.

Guyôm Ốccam (1300 – 1350)

Là nhà văn, nhà chính tri nổi tiếng thời đại mình, nhà thần học và triết học kinh
viện Anh, nhà tư tưởng của giai cấp phong kiến thế tục trong cuộc đấu tranh chống
Giáo hoàng.
Gắn với các hoạt động có tính chất chính trị chống Gíao hoàng, bảo vệ nhà
nước phong kiến thế tục là hoạt động triết học của Ôccam. Triết học của ông đã chống
đối kịch liệt hệ tư tưởng chính thống (hệ tư tưởng Đạo Thiên Chúa ). Trong vấn đề
trung tâm của triết học trung cổ - vấn đề mối quan hệ giữa lòng tin và lý trí, giữa linh
cảm và tri thức, Ốccam đã làm sâu sắc thêm những quan điểm của Đơn Xcốt.
Trang 18


Tư tưởng Con người, Xã hội trong Triết học Phương Tây cổ đại tới cận đại

Tuy là người bảo vệ nhiệt tâm lòng tin tôn giáo như mọi nhà triết học khác ở
thời đại phong kiến, nhưng ở Ốccam chúng ta cũng thấy rõ sự tan vỡ của chính cơ sở
triết học kinh viện và sự mất tác dụng của nó. Bởi vì, cái trục của triết học Ốccam là
chủ nghĩa duy danh có khuynh hướng duy vật.
Là một nhà duy danh luận, Ốccam cho rằng chỉ có những sự vật riêng lẻ, đơn
nhất là tốn tại thực. Khái niêm, danh từ theo Ốccam chỉ là những kí hiệu của sự vật.



Tư tưởng Con người, Xã hội trong Triết học Phương Tây cổ đại tới cận đại

nghiệm xuất hiện, sự giải phóng khoa học tự nhiên thoát khỏi ách thống trị của thần
học bắt đầu. Tất cả những cái đó đã chuẩn bị cho sự sụp đổ của chủ nghĩa kinh viện và
và triết học trong thời đại Phục hưng.
I.3. TRIẾT HỌC TÂY ÂU PHỤC HƯNG VÀ CẬN ĐẠI
I.3.1

Đặc điểm kinh tế - xã hội, khoa học và văn hoá

Khi bóng đêm của đêm trường Trung cổ bị những ánh sáng bình minh của nền
văn minh công nghiệp chiếu rọi thì Tây Âu đã có những bước chuyển dữ dội, chuyển
sang thời kỳ phục hưng, thời đại phục sinh những giá trị của nền văn hoá cổ đại Hy La
đã bị lãng quên trong nền chuyên chế phong kiến kéo dài hàng nghìn năm ở Châu Âu.
Xét về bản chất kinh tế, thời kỳ phục hưng là giai đoạn quá độ của PTSX
TBCN. Đây là thời kỳ tích luỹ tư bản đầu tiên được mở rộng. Người nông dân bị đuổi
ra khỏi ruộng đất của họ, bạo lực của kẻ cường quyền đã tách người lao động ra khỏi
tư liệu sản xuất. Các công trường thủ công dần dần át cách làm ăn kiểu phường hội
phong kiến. Các chủ thủ công nghiệp ngày càng có vị trí và vai trò quan trọng trong
nền kinh tế, họ trở thành giai tầng mới nắm giữ sức mạnh kinh tế - giai cấp tư sản;
trong khi người nông dân do không còn ruộng đất phải ra thành phố kiếm kế sinh nhai
bằng cách làm thuê cho các công trường, xưởng thợ. Họ là tiền thân của giai cấp vô
sản sau này.
Chế độ phong kiến với nền sản xuất nhỏ và các đạo luật hà khắc của nó đã
bước vào giai đoạn lụi tàn. Phong trào chống phong kiến của nông dân, thợ thủ công
trào dâng khắp Châu Âu. Giai cấp tư sản trở thành kẻ đồng minh. Người ta không chỉ
đòi xoá bỏ đặc quyền, đặc lợi của giai cấp phong kiến, những chướng ngại trên con
đường phát triển theo xu hướng TBCN mà còn chĩa mũi nhọn vào giáo hội La Mã,

sự trừu tượng, tách rời, không vận động, không phát triển, nếu có đề cập đến vận động
thì là sự vận động máy móc không phát triển.
I.3.2

Những đặc điểm, nội dung chính:

Triết học Tây Âu thời kỳ phục hưng
- Triết học thời kỳ này là vũ khí lý luận của giai cấp tư sản trong cuộc đấu tranh
chống phong kiến và giáo hội.
- Tư tưởng của các nhà triết học phục hưng có tính hai mặt: vừa có những tiến
bộ nhưng còn chứa nhiều yếu tố duy tâm, luẩn quẩn với hình thức “phiếm thần luận”
hay “tự nhiên thần luận”.
- Triết học thời kỳ này gắn liền với vấn đề nâng cao giá trị khát vọng giải
phóng con người.
- Triết học thời kỳ này là những tư tưởng xã hội học thấm nhuần chủ nghĩa
nhân văn.
Triết học Tây Âu thời kỳ cận đại
- Đây là thời kỳ thắng lợi của CNDV đối với CNDT, của những tư tưởng vô
thần đối với hữu thần.
Trang 21


Tư tưởng Con người, Xã hội trong Triết học Phương Tây cổ đại tới cận đại

- CNDV thời kỳ này mang hình thức của CNDV siêu hình, máy móc. Phương
pháp siêu hình thống trị, phổ biến trong lĩnh vực tư duy triết học và khoa học.
- Đây là thời kỳ xuất hiện những quan điểm triết học tiến bộ về lĩnh vực xã hội,
nhưng nhìn chung vẫn chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm trong việc giải thích xã hội
và lịch sử.
I.3.3


Trang 22


Tư tưởng Con người, Xã hội trong Triết học Phương Tây cổ đại tới cận đại

thức chân lý, theo Bacơn đó là những sai lầm vốn có trong tư duy, do sai lầm trong lý
tính mang lại.
Những sai lầm do lý tính tạo ra, Bacơn gọi là những IDOLA (ảo tưởng, ảo ảnh
- theo tiếng Hy Lạp cổ Idola là những hình ảnh bị phản ánh một cách lệch lạc). Ý
nghĩa tích cực của những ảo ảnh là ở chỗ không chỉ chống lại các suy luận vô căn cứ
của thần học, kinh viện mà còn đặt cơ sở xã hội cho quá trình nhận thức. Đó là tôn
trọng khách quan, phê phán và không giáo điều. Một ý nghĩa không chỉ thuộc về thời
Cận đại mà cho tất cả các thời đại. Ý nghĩa đã trở thành nguyên tắc của nhận thức.
Về phương pháp luận, theo Bacơn cần phải rà soát những phương pháp trước
đây để từ đó kế thừa và triển khai phương pháp mới.
Ông cho rằng từ trước đến nay con người chủ yếu sử dụng hai phương pháp là
phương pháp con nhện và phương pháp con kiến. Cả hai phương pháp này đều bộc lộ
hạn chế, vì vậy ông đề xuất phương pháp con ong. “Con ong chọn phương thức hành
động trung gian, nó khai thác vật liệu từ hoa ngoài vườn và ruộng đồng nhưng sử
dụng và biến đổi nó phù hợp với khả năng và chỉ định của mình. Công việc đích thực
của triết học cũng không khác gì công việc đó”.
Về vai trò của phương pháp, Bacơn cho rằng “người què chạy đúng hướng sẽ
nhanh hơn kẻ lành chạy sai đường” hoặc “phương pháp giống như ngọn đèn soi
đường cho lữ khách trong đêm đông”.
Ông đề xuất phương pháp quy nạp. Theo ông đó là phương pháp tối ưu để nhận
thức, khám phá những bí mật của đối tượng nhận thức. Bản chất của phương pháp này
là xuất phát từ những sự kiện riêng biệt sau đó tiến dần lên những nguyên lý phổ biến,
khẳng định bản chất của sự vật.
Triết học Bacơn là triết học duy vật không triệt để khi ông không dám công

thể đi tìm tiền đề xuất phát của nhận thức ở ngay trong nhận thức mà phải tìm từ bản
thân đời sống thực tiễn xã hội.
Đêcáctơ là người sáng lập ra chủ nghĩa duy lý. Chủ nghĩa duy lý của Đêcáctơ ở
một mức độ khá lớn có liên hệ với chủ nghĩa duy tâm, vì ông cho rằng trong lý trí của
c người có “những tư tưởng bẩm sinh”, độc lâp với kinh nghiệm. Ông đã thừa nhận
một cách sai lầm rằng, những nguyên tắc cơ bản của logic học và toán học là những
cái “bẩm sinh”, không phụ thuộc vào kinh nghiệm.
Trong học thuyết về tự nhiên, Đêcáctơ là một nhà duy vật, ông coi vật chất là
một thực thể duy nhất, là cơ sở duy nhất của tồn tại và nhận thức. Quảng tính là thuộc
tính cơ bản của vật chất, nhưng ông lại đi đến đồng nhát vật chất với quảng tính, và
ngược lại, ở đâu không có quảng tính thì không có vật chất. Vật chất choán đầy vũ trụ,
không có không gian trống rỗng. Đêcátơ thừa nhận tính vĩnh cửu của vật chất. Vạn
động cơ học được ông xem như là một biểu hiện sức sống của vật chất. Vận động
được chuyển từ vật này đến vật khác và không bao giờ bị tiêu diệt. Luận điểm của
Đêcáctơ về tính không bị tiêu diẹt của vận động được Ph.Ăngnhen đánh giá như một
thành tựu khoa học vĩ đại.

Trang 24


Tư tưởng Con người, Xã hội trong Triết học Phương Tây cổ đại tới cận đại

Đêcáctơ thừa nhận sự xuất hiện của thế giới thực vật và động vật trong quá
trình vận động. Nhưng ông chưa thấy sự khác nhau vè chất giữa thế giới sinh vật, coi
cơ thể sống là một cỗ máy phức tạp.
I.4.

TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC
I.4.1.


- Triết học cổ điển Đức chứa đựng một nội dung cách mạng nhưng hình thức của
nó cực kỳ “rối rắm”, bảo thủ. Đặc điểm này thể hiện rõ nét nhất trong triết học của
Trang 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status