Nghiên Cứu Biện Pháp Sinh Học Để Cải Tạo Phục Hổi Đất Canh Tác Sau Khai Thác Khoáng Sản Tại Thái Nguyên - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM –ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
---------

µ

BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU BIỆN PHÁP SINH HỌC ĐỂ CẢI TẠO PHỤC
HỔI ĐẤT CANH TÁC SAU KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
TẠI THÁI NGUYÊN
MÃ SỐ ĐỀ TÀI:

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS. Đặng Văn Minh

Thái Nguyên, 2010


62
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU..................................................................................1
1.1. Đặt vấn đề .......................................................................................................... 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài ...................................................................... 3
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU.............................................................4
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ............................................................... 4
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước................................................7
PHẦN 3. NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ......................................................................................................13
3.1. Nội dung nghiên cứu......................................................................................13

4.2.3. Đánh giá về đất.............................................................................................41
4.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của pH đến khả năng sinh trưởng, hấp thụ
Arsenic (As) và Chì (Pb) của cây Sậy (Phragmites australis) trồng trên đất
sau khai khoáng trong phòng thí nghiệm .........................................................46
4.3.1. Xây dựng đường chuẩn pH..............................................................46
4.3.2. Đánh giá ảnh hưởng của các pH khác nhau đến khả năng sinh trưởng
của cây Sậy trong môi trường đất có chứa KLN ...........................................46
4.3.3. Đánh giá khả năng tích lũy KLN của cây Sậy trong môi trường pH
khác nhau ............................................................................................................50
4.3.4. Đánh giá khả năng xử lý KLN trong đất của cây Sậy trong môi trường
đất pH khác nhau ...................................................................................................50
4.4. Thử nghiệm và lựa chọn một số cây phân xanh họ đậu để cải tạo và
phục hồi đất nghèo kiệt, đất có độ phì thấp trên đất sau khai khoáng mới
hoàn thổ ...................................................................................................................51
4.4.1. Sinh trưởng của cây trồng ..........................................................................52
4.4.2. Đánh giá đất..................................................................................................53
4.5. Hướng dẫn sử dụng cây cải tạo đất cho vùng đất sau khai khoáng .......55
4.5.1. Đất bị ô nhiễm kim loại nặng nhiều..........................................................55
4.5.2. Đất ít bị ô nhiễm và bạc màu ......................................................................56
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ....................................................58
5.1. Kết luận ............................................................................................................58
5.2. Đề nghị..............................................................................................................58
TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................................59
A. Tài liệu tiếng việt...............................................................................................59
B. Tài liệu tiếng nước ngoài .................................................................................60


64
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BOD

: Năng suất thực thu
: Quy chuẩn cho phép
: Quy chuẩn Việt Nam
: Tiêu chuẩn Việt Nam
: Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam
: Trữ lượng
: Tài nguyên dự báo
: Thành phố
: Chất rắn lơ lửng
: Thị trấn


65
DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên bãi thải.........................................................14
Hình 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm.............................................................................16
Hình 4.1. Lượng KLN hấp thu trong thân lá của các loại cây thí nghiệm.............40
Hình 4.2. Lượng KLN hấp thu trong rễ của cây thí nghiệm.............................40
Hình 4.3: Biến thiên đường chuẩn pH................................................................47


66
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1. Danh sách các mỏ và diện tích hoàn thổ..................................25
Bảng 4.2. Hiện trạng chất lượng môi trường đất tại một số mỏ...............27
Bảng 4.3. So sánh thành phần dinh dưỡng và mức độ ô nhiễm tại khu vực
bãi thải và khu vực không có hoạt động khai khoáng………………...….34
Bảng 4.4. Biểu hiện do hoạt động khai thác khoáng sản tới đất và cây
trồng…………………………………………………………………….….35

Việc khai thác khoáng sản với mục đích phục vụ cho kinh tế đã và sẽ
được nhân rộng trên khắp mọi vùng lãnh thổ. Tuy nhiên, sự phát triển bền
vững đòi hỏi ngoài phát triển kinh tế còn phải ổn định xã hội và đảm bảo về
chất lượng môi trường.
Cũng như việc khai khoáng, vấn đề hoàn cải lại môi trường sau khi khai
khoáng, đảm bảo chất lượng môi trường xung quanh trong quá trình khai thác
vẫn còn hạn chế và thực tế việc bảo vệ môi trường chưa cao. Sự phát triển của
ngành khai thác khoáng sản không đồng bộ với biện pháp bảo vệ môi trường
đã để lại những hậu quả suy thoái môi trường của nhiều vùng khai thác
khoáng sản, như:
- Một diện tích lớn đất nông, lâm nghiệp trước đây bị chiếm dụng cho
mục đích khai thác khoáng sản vẫn để hoang hóa sau khi khai thác.
- Tầng đất mặt bị xáo trộn, gây khó khăn cho việc hoàn thổ phục hồi môi trường.
- Cân bằng nước khu vực bị phá vỡ, gia tăng các hiện tượng trượt lở, bồi
lấp, tích tụ các chất rắn do sự biến đổi chế độ thủy văn của dòng chảy mặt và
dòng chảy ngầm.
- Chất lượng nước ở các vùng khai thác khoáng sản bị ảnh hưởng. Phần
lớn nước ở các vùng khai thác khoáng sản đều bị ảnh hưởng bởi độ đục cao
do lượng bùn mịn trong nước thải cao. Các loại thuốc tuyển khoáng còn dư lại
trong bùn thải cũng có khả năng gây ô nhiễm nguồn tiếp nhận. Ở một số khu
vực đất đá thải còn có tiềm năng hình thành dòng axit mỏ, có khả năng hòa
tan các kim loại nặng độc hại là nguồn gây ô nhiễm tiềm tàng đối với nước
mặt và nước ngầm của khu vực.
- Hệ sinh thái và cảnh quan khu vực bị biến đổi. Biểu hiện rõ nét nhất là
suy thoái thảm thực vật, suy giảm diện tích rừng, cạn kiệt trữ lượng gỗ, suy
giảm về chủng loại và số lượng các loài động vật hoang dã.
- Các sự cố và rủi ro môi trường tại các vùng khai thác như trượt
lở, sập hầm …



Việc phục hồi và cải tạo đất sau khai khoáng đang là vấn đề cần thiết.
Tuy nhiên chưa có các biện pháp hữu hiệu và đáp ứng vấn đề đặt ra của sản
xuất và bảo vệ môi trường. Nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai sau khi
khai thác khoáng sản, đề tài: “Nghiên cứu biện pháp sinh học để cải tạo


3
phục hồi đất canh tác sau khai thác khoáng sản tại Thái Nguyên” đã và sẽ
thực hiện đúng mục tiêu của đề án này.
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
Nghiên cứu biện pháp sinh học để cải tạo và phục hồi đất bị thoái hóa và
suy kiệt do tác động các hoạt động khai khoáng nhằm tăng diện tích đất có thể
sử dụng cho sản xuất nông lâm nghiệp có chất lượng tốt.


4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Ở các nước có ngành công nghiệp khai thác mỏ phát triển như ở Anh,
Thụy Điển, Australia, … và một số nước khác trong khu vực như Malaysia,
Indonesia vấn đề hoàn thổ phục hồi môi trường đã trở thành một quy chế bắt
buộc. Trước khi tiến hành các hoạt động khai thác, chủ mỏ bắt buộc phải lập
kế hoạch hoàn thổ phục hồi môi trường hay ký quỹ môi trường. Kế hoạch này
như một bộ phận không thể tách rời của kế hoạch khai thác mỏ. Trong kế
hoạch hoàn thổ phục hồi môi trường những vấn đề như: hướng sử dụng đất
sau khai thác, quy trình công nghệ hoàn thổ, tiến độ thực hiện và kinh phí
được đề cập rất chi tiết với những hướng dẫn rất cụ thể và khoa học. Việc lưu
giữ các mẫu đất đá và giống cây nguyên thủy cũng được thực hiện rất cẩn
thận để phục vụ cho việc hoàn thổ phục hồi môi trường nhiều năm sau

và các chất nguy hại khác trong đất. Nhiều nhà khoa học đặc biệt là ở Mỹ và
châu Âu đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu cơ bản và ứng dụng công nghệ này
như một công nghệ mang tính chất thương mại. Công nghệ này có ưu điểm là
chi phí đầu tư thấp, dễ thực hiện, an toàn và thân thiện với môi trường. Năm
1998, Cục môi trường châu Âu (EEA) đánh giá hiệu quả kinh tế của các
phương pháp xử lý kim loại nặng trong đất bằng phương pháp truyền thống
và phương pháp sử dụng thực vật tại 1.400.000 vị trí bị ô nhiễm ở Tây Âu.
Kết quả cho thấy chi phí trung bình của phương pháp truyền thống trên 1 ha
đất từ 0,27 đến 1,6 triệu USD, trong khi phương pháp sử dụng thực vật chi
phí thấp hơn 10 đến 1000 lần.
Ngày nay, trên 450 loài thực vật có khả năng hấp thu cao kim loại đã
được công bố. Các họ thực vật “siêu hấp thụ” là Asteraceae, Brassicaceae,
Caryopyllaceae, Cyperaceae, Conouniaceae, Fabaceae, Flacuortiaceae,
Lamiaceae, Poaceae, Violaceae và Euphobiaceae. Bên cạnh đó những công
trình nghiên cứu nhằm tạo ra những loài thực vật vừa có khả năng tích tụ kim
loại cao lại vừa cho năng suất sinh học cao để dùng trong công nghệ xử lý
sinh học cũng ngày càng phát triển. Số lượng công trình nghiên cứu về thực
vật có khả năng chiết rút kim loại từ đất (Phytoextraction), cố định kim loại
(Phytostabilisation), hoá hơi (Phytovolatilization) hay lọc kim loại bằng bộ rễ
(Rhizofiltration) để sử dụng trong xử lý môi trường ô nhiễm khá phong phú
(Lombi E. và cs, 2001) [24].
Nghiên cứu cho thấy, các loài thực vật khác nhau có khả năng hấp thu
KLN khác nhau. Cây Thlaspi caerulescens sinh trưởng trong 391 ngày đã loại


6
bỏ hơn 8mg Cd/kg đất và 200mg Zn/kg đất tương ứng với 43% Cd và 7%Zn
trong đất bị ô nhiễm. Theo Diels L và cộng sự (1999), loài dương xỉ Pteris
vittata L. có khả năng tích lũy 14.500 ppm As mà chưa có triệu chứng tổn
thương. Loài này sinh trưởng nhanh, có sức chống chịu cao với As trong đất


7
đất khắc nghiệt: rất chua, kiềm, hàm lượng Mn và Al di động cao. Vì vậy, cỏ
vetiver đã được sử dụng rất thành công trong phục hồi và cải tạo đất vùng mỏ
như: mỏ than, vàng, bentonit, bôxit ở Australia; mỏ vàng, kim cương, platin ở
Nam Phi; mỏ đồng ở Chi Lê; mỏ chì ở Thái Lan, mỏ chì, kẽm, bôxit ở Trung
Quốc v.v…(Chantachon S. và cộng sự, 2003) [21].
Ở một số nước, ở nội dung thiết lập thảm thực vật trong chương trình
hoàn thổ còn bao gồm cả việc sử dụng phân bón. Những khu vực được xác
định cải tạo để sử dụng cho mục đích nông nghiệp thường phải có chương
trình duy trì việc bổ sung phân bón. Tùy trường hợp cụ thể mà người ta sử
dụng thạch cao hoặc vôi để điều chỉnh độ pH, tùy theo loại giống cây trồng,
loại cây và mật độ cây, tỷ lệ sinh trưởng mà người ta sử dụng thêm các loại
phân đạm, lân hoặc kali. Một số loại chất thải hữu cơ cũng được sử dụng như
phân, máu, xương động vật, bùn cống rãnh …chúng vừa có tác dụng như
phân bón vừa có tác dụng bổ sung chất đất. Có thể sử dụng các cây cải tạo đất
trồng trên nghèo kiệt để tăng lượng chất hữu cơ (Nguyễn Tử Siêm, Thái
Phiên, 2002) [16].
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú và đa dạng. Cho
đến nay, chúng ta đã xác định được hơn 5000 điểm quặng với trên 60 loại
khoáng sản có ích với quy mô trữ lượng khác nhau. Tiềm năng phát triển của
ngành khai thác khoáng sản kim loại của Việt Nam là rất to lớn, mở ra nhiều
cơ hội phát triển cho các ngành công nghiệp có liên quan cũng như tạo công
ăn việc làm cho một lực lượng lao động đáng kể ở các vùng có các hoạt động
khai thác khoáng sản mà phần lớn nằm ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu
vùng xa.
Tuy nhiên đi đôi với sự phát triển của ngành công nghiệp khai thác và
chế biến khoáng sản những thách thức về vấn đề môi trường cũng trở nên
nghiêm trọng và cấp bách hơn. Cùng với sự phát triển của ngành khai thác

Pháp Chauvin đã thu thập và thử nghiệm tại Pleiku một tập đoàn cây phân xanh
gồm 62 giống bản địa và nhập nội từ Jakarta. Kết quả đã chọn được 12 giống
cây phân xanh thích hợp để làm cây tiên phong cải tạo đất hoặc trồng xen trong
vườn cây lâu năm như chè, cà phê, cao su, cây ăn quả. Đó là các cây: Đậu triều,
đậu long, đậu bướm, lục lặc mũi mác, muồng lá tròn, muồng lá dài, hàn the,
chàm, trinh nữ và 3 loại cốt khí (Nguyễn Tử Siêm và cs 2002) [16].
Từ 1949 tại Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Blao (Lâm Đồng), một
tập đoàn cây phân xanh phủ đất thuộc họ đậu gồm 21 giống đã được khảo
nghiệm bởi A.Chavaney và J.Lanfranchi. Sau 6 năm nghiên cứu hai ông đã rút
ra kết luận trên đất đỏ bazan có 5 cây phủ đất tốt nhất. Đó là: đậu triều, muồng
long, quì dại và 2 loại cốt khí. Quì dại là cây cho năng suất chất xanh cao nhất,
tới trên 100 tấn/ha sau 2 năm trồng (Nguyễn Tử Siêm và cs, 2002) [16].
Sau nhiều năm tập trung nghiên cứu và trồng thực nghiệm, Trung tâm
nghiên cứu Đất, Phân bón và Môi trường Tây Nguyên (Bộ Nông nghiệp và Phát


10
triển Nông thôn) đã chọn và xác định được một số loài cây trồng thích hợp để
làm phân bón, cải tạo phục hồi dinh dưỡng và chống xói mòn đất có hiệu quả.
Qua thực tế nghiên cứu, trung tâm đã xác định các loại cây Muồng hoa vàng hạt
lớn và Muồng hoa vàng hạt nhỏ là những loại dễ trồng với năng suất chất xanh
cao. Các loại cây Cốt khí, đậu Săng, đậu Kiếm là những loại được trồng phổ
biến trên vùng đất đồi núi để cải tạo đất và chống xói mòn [19].
Tác giả Trần An Phong:
- Cây cốt khí (Tephrosia candida D.C): đất trồng cốt khí sau một thời
gian hàm lượng mùn trong đất tăng lên, lá rụng xuống để lại lớp thảm mục
trên bề mặt; rễ có nhiều nốt sần, ít rễ to nhiều rễ nhỏ tăng độ xốp của đất.
- Cây Trinh nữ không gai (Mimosa sp): Cây Trinh nữ không gai là cây
phân xanh có tác dụng che phủ đất chống xói mòn, lấn át cỏ dại, đồng thời
làm phân xanh rất tốt, tỷ lệ đạm chiếm 3,32% so với trọng lượng chất khô

môi trường không khí, ô nhiễm môi trường nước, ô nhiễm môi trường đất...
do hoạt động sản xuất, khai thác, chế biến là không thể tránh khỏi. Sau đây là
một số kết quả nghiên cứu về thực trạng môi trường đất, nước tại một số khu
vực khai thác khoáng sản của tỉnh Thái Nguyên:
- Mỏ sắt Trại Cau: Nước thải sản xuất của mỏ sắt Trại Cau chủ yếu là
nước thải từ khâu tuyển rửa quặng. Hầu hết các chỉ tiêu kim loại đều vượt so
với tiêu chuẩn nước thải cho phép. Cụ thể: hàm lượng sắt (Fe) trong mẫu vượt
tiêu chuẩn tới trên 670 lần, hàm lượng chì (Pb) vượt chuẩn cho phép xấp xỉ
6,7 lần, hàm lượng asen (As) vượt chuẩn từ 3,78 đến 3,88 lần, hàm lượng
cadimi (Cd) vượt chuẩn trên 2 lần tiêu chuẩn cho phép. Các chỉ tiêu về ô
nhiễm hữu cơ như BOD5, COD cũng đều xấp xỉ cho phép.
- Xí nghiệp khai thác thiếc Hà Thượng, Đại Từ: Nước thải của xí nghiệp
có dấu hiệu ô nhiễm về kim loại, hàm lượng Zn vượt 7 lần so với TCVN5945-1995, hàm lượng Fe vượt gần 2 lần, trong mẫu nước có phát hiện As,
Hg. Ngoài ra nước mang tính axit ( pH- 2,5 ).
Kết quả phân tích các mẫu đất khu vực xí nghiệp thiếc Đại Từ cho thấy:
Chỉ số As trong đất vượt tiêu chuẩn, As từ 13,10 đến 15,48 mg/kg trong khi
tiêu chuẩn là 12 (TCVN 7209-2002).
- Xí nghiệp chì - kẽm làng Hích, Đồng Hỷ: Kết quả phân tích chất
lượng nước thải cho thấy ở tất cả các mẫu, nước thải đã có dấu hiệu ô nhiễm
kim loại nặng, đặc biệt là hàm lượng kẽm trong nước tại các điểm quan trắc
đều vượt từ 2,11 đến 7,23 lần so với tiêu chuẩn cho phép (TCVN 5045:1995),
hàm lượng chất lơ lửng trong nước (TSS) rất cao.


12
Mẫu bùn lắng ở 2 điểm lấy mẫu cho thấy có dấu hiệu ô nhiễm kim loại
nặng. Các chỉ tiêu kim loại nặng phân tích nhận được đều cho giá trị rất cao.
Cụ thể, hàm lượng kẽm vượt từ 2,3 đến 2,7 lần , cadimi cao hơn từ 4,5 đến
8,4 lần so với tiêu chuẩn cho phép (TCVN 7209: 2002) và ngay cả asen cũng
gần sấp xỉ tiêu chuẩn cho phép (từ 11,37 đến 12,95 mg/l , TCVN 7209:2002

tỉnh Thái Nguyên. Xây dựng bản đồ phân bố các điểm mỏ trên địa bàn tỉnh.
+ Điều tra xác định diện tích, hiện trạng cải tạo phục hồi môi trường,
hiện trạng quản lý và sử dụng đất của các điểm mỏ sau khai thác khoáng sản
tại Thái Nguyên năm 2009.
+ Đánh giá chất lượng đất và khả năng sử dụng cho sản xuất nông,
lâm nghiệp tại các khu vực sau khai thác khoáng sản tại Thái Nguyên.
- Nghiên cứu biện pháp sinh học cải tạo đất ô nhiễm kim loại năng do
khai thác khoáng sản tại những vùng có địa hình cao và khô hạn (các cây thử
nghiệm chính: Cỏ vetiver, cây sậy, dương sỉ).
- Nghiên cứu ảnh hưởng của pH đến khả năng sinh trưởng và hấp thụ
Arsenic (As) và Chì (Pb) của cây Sậy (Arundo donax L).
- Xác định cây cải tạo đất họ đậu phù hợp để cải tạo và nâng cao độ
phì đât bị thoái hoá nghèo kiệt do ảnh hưởng của khai thác khoáng sản.
3.2. Vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Cây hút kim loại nặng, cây chống xói mòn, sạt lở đất bản địa và
nhập nội: cỏ vertiver (Vetiveria zizanioides); cây sậy (Arundo donax L); cây
dương xỉ (Pteris vittata L).
+ Cây cải tạo đất họ đậu bản địa và nhập nội: Muồng lá nhọn (Cassia
occidentalis L.); Đậu công (Flemingia congesta); Đậu ren (Rensonic); Trinh
nữ không gai (Mimosa sp); Sunnemp (Crotalaria juncea); Xục xặc (Sesbania
javaica Mi); Cốt khí cao (Tephrosia candida).
+ Đất sau khai thác quặng sắt và đã được hoàn thổ.
- Địa điểm nghiên cứu:
+ Khu vực khai khoáng tại mỏ sắt Trại Cau – huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.


14
+ Khu vực khai khoáng tại mỏ thiếc xã Hà Thượng – huyện Đại
Từ - tỉnh Thái Nguyên.


CT 4

CT 2

CT 1

CT 4

CT 3

CT 4

CT 2

CT 3

CT 1

Hình 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên bãi thải


15
- Diện tích ô thí nghiệm: 30m2 (5 x 6m).
- Mật độ trồng: 30 x 30cm.
- Thời vụ gieo trồng: 4/2010.
- Trên đất sau khai thác quặng sắt.
3.3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của pH đến khả năng sinh trưởng và hấp thụ
Arsenic (As) và Chì (Pb) của cây Sậy (Arundo donax L)
- Phương pháp xây dựng đường pH chuẩn theo phương pháp Jensen

trong cây.
3.3.4. Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, cải tạo đất của một số cây phân
xanh họ đậu dài ngày trên đất sau khai khoáng
2.3.4.1. Công thức thí nghiệm
- CT 1: Muồng lá nhọn (Cassia occidentalis L.).
- CT 2: Đậu công (Flemingia congesta).
- CT 3: Đậu ren (Rensonic).
- CT 4: Xấu hổ không gai (Mimosa sp).
- CT 5: Sunnhemp (Crotalaria juncea).
- CT 6: Xục xặc (Sesbania javaica Mi).
- CT 7: Cốt khí (Tephrosia candida).
- CT 8: Đối chứng (ĐC), (không trồng cây).
3.3.4.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm gồm 8 công thức, 3 lần nhắc lại theo kiểu hoàn toàn ngẫu
nhiên (CRD) [15].
CT 4

CT 6

CT 3

CT 5

CT 7

CT 2

CT 8

CT 1


CT 1

Hình 3.2: Sơ đồ bố trí thí nghiệm
- Diện tích ô thí nghiệm: 30m2 (5 x 6m).
- Mật độ trồng: Gieo vãi từ 10 - 15kg/ha
- Thời vụ gieo trồng: 4/2010.
- Trên đất sau khai thác quặng sắt.
3.4. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Đối với từng thí nghiệm có các chỉ tiêu theo dõi đặc trưng. Dưới đây là
tổng hợp các chỉ tiêu theo dõi cho các thí nghiệm.
- Chỉ tiêu đặc trưng cho hình thái: (10 cây)
+ Chiều cao cây.
+ Số cành cấp 1 (số cành hữu hiệu cấp 1/cây).
+ Số lượng nốt sần.


17
+ Chiều dài rễ.
+ Khối lượng rễ.
- Các yếu tố về cấu thành năng suất và năng suất (10 cây).
+ Năng suất chất xanh, chất khô.
+ Tổng sinh khối.
- Chỉ tiêu đánh giá khả năng tích lũy kim loại nặng của cây.
+ Hàm lượng kim loại nặng trong thân, lá.
+ Hàm lượng kim loại nặng trong rễ.
- Chỉ tiêu đất:
+ Ẩm độ đất.
+ Dung trọng đất.
+ Độ xốp của đất.

+ Hàm lượng kim loại nặng tích lũy trong thân, lá, rễ: Được xác định
bằng cách phân tích mẫu cây sau khi trồng 1 năm.
3.5.2. Đánh giá đất
- Ẩm độ đất: Là lượng nước được biểu thị bằng đơn vị phần trăm (%) so
với trọng lượng đất khô kiệt hay thể tích nước so với thể tích đất.
Theo dõi mỗi tháng 1 lần sau trồng, theo chu kỳ sinh trưởng – phát
triển. Lấy mẫu đất tươi, sấy ở nhiệt độ 105 – 1100 đến khi trọng lượng đất
không thay đổi, tính độ ẩm đất theo công thức.
Công thức:
At ( %) =
Trong đó:

Wn

x 100

Wd

At: độ ẩm tuyệt đối tính theo trọng lượng
Wn: trọng lượng nước trong đất
Wd: trọng lượng đất khô kiệt.
- Dung trọng đất: Theo dõi trước và sau khi trồng.
Phương pháp xác định: dùng ống đóng; Lấy mẫu sấy ở nhiệt độ 105 –
1100 đến khi trọng lượng đất không thay đổi. Tính trọng lượng đất khô kiệt,
thể tích ống trụ và tính dung trọng đất.
Dung trọng đất là trọng lượng của một đơn vị thể tích đất khô kiệt ở
trạng thái tự nhiên, đơn vị là g/cm3 hoặc tấn/m3 (ký hiệu là d).
P
d=
V

- Các chỉ tiêu về kim loại nặng (As, Pb, Cd). Hàm lượng kim loại
nặng trong đất, phân tích mẫu đất sau khi trồng 4 tháng, một năm. Và
hàm lượng kim loại nặng trong thân lá, phân tích mẫu thân lá.
* Phân tích các chỉ tiêu đất trong phòng thí nghiệm:
pHKCl: Được chiết bằng KCl 1N, đo bằng máy pH meter.
Mùn (MO): Phân tích bằng phương pháp tiu rin.
Đạn tổng số (N): Phân tích bằng phương pháp Kieldahl.
Lân Tổng số (P2O5): Phân tích bằng phương pháp so màu.
Dung tích trao đổi cation (mgđl/100g đất) CEC: Phân tích bằng phương
pháp amoniaxetat.
As và Pb trong đất và cây được xác định bằng bằng máy ASS M6 –
Thermo.
3.6. Phương pháp xử lý và tổng hợp số liệu
- Các số liệu thu được trên từng ô thí nghiệm, được tính toán theo
phương pháp trung bình số học, phân tích ANOVA để tính toán các sai số và
độ chính xác của thí nghiệm.
- Các số liệu sau khi tính toán được nhập và xử lý số liệu trên EXCEL
và IRRISTAT.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status