ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHOA NÔNG HỌC
LÃ VIẾT PHƯƠNG
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT
SỐ GIỐNG HOA TULIP NHẬP NỘI VỤ ĐÔNG XUÂN 2013 - 2014
TẠI THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên nghành : Khoa học cây trồng
Khoa : Nông học
Lớp : K42 - TT
Khóa học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn : TS. Đặng Thị Tố Nga
Sinh viên
Lã Viết Phương
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CT : Công thức
NL : Nhắc lại
ĐH : Đại học
NN : Nông nghiệp
Nxb : Nhà xuất bản
N : Đạm
P : Lân
K : Kali
TP : Thành phố
LSD
05
Bảng 4.8. Động thái tăng trưởng chu vi thân các giống Tulip thí nghiệm 34
Bảng 4.9. Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các giống Tulip thí nghiệm 36
Bảng 4.10. Các chỉ tiêu về năng suất chất lượng các giống hoa tulip thí nghiệm 38
Bảng 4.11. Hiệu quả kinh tế trồng hoa tulip vụ Đông Xuân năm 2013 – 2014
tại Thái Nguyên 40 MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1. Mục đích 2
1.2.2. Yêu cầu 2
1.3. Ý nghĩa đề tài 2
1.3.1. Ý nghĩa trong công tác học tập và nghiên cứu khoa học 2
1. 3.2. Ý nghĩa thực tiễn 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu giống 3
2. 1.2. Nguồn gốc và phân loại của cây hoa tulip 3
2.1.3. Đặc điểm thực vật học của cây hoa tulip 6
2. 1. 4. Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa Tulip 7
2.1.5. Kĩ thuật trồng hoa Tulip 9
2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới và ở Việt Nam 12
2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới 12
2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa ở Việt Nam 14
2.4. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa Tulip trên Thế giới 17
2.4.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tulip trên thế giới 17
2.4.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa Tulip tại Việt Nam 19
2.5. Tình hình nghiên cứu hoa Tulip ở trên Thế giới và ở Việt Nam 19
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Hoa Tulip hay còn gọi là hoa Uất Kim Cương thuộc lớp một lá mầm
Liliopsida, bộ hành Liliales, họ hành Liliaceae, chi Tulipa.
Hoa tulip là biểu tượng của tình yêu hoàn hảo, của sự thắng lợi. Hoa
tulip có nhiều màu sắc như: Màu đỏ, màu vàng, màu kem, màu xanh,màu đỏ
viền vàng, màu vàng viền trắng, màu hồng… Hình dáng hoa cũng đa dạng
như: hình trụ, hình chén, hình vuông, hình tháp, hình lục lăng,…
Hoa tulip là một loài hoa đẹp được trồng rất nhiều ở Hà Lan, là loại hoa
có nhiều màu sắc và chủng loại, được người tiêu dùng ưa thích và đem lại giá
trị kinh tế cao. Ở nước ta hiện nay chỉ được trồng nhiều tại Mộc Châu và Đà
Lạt, tại Thái Nguyên những năm gần đây cũng được đưa ra trồng thử nghiệm
một số giống.
Thái Nguyên có vị trí gần thủ đô Hà Nội và là trung tâm của vùng trung
du Bắc bộ, có hệ thống giao thông thuận lợi, nối liền các tỉnh thành phố phát
triển từ lâu, dân cư đông đúc, là nơi tập trung của nhiều trường Đại học và các
cơ quan Trung ương khác. Đây là thị trường tiềm năng và là đầu mối thuận
lợi cho việc tiêu thụ hoa, cây cảnh. Với địa hình đa dạng, có nhiều chủng loại
đất ở các độ cao khác nhau, có thể phát triển nhiều chủng loại hoa và có khí
hậu Á nhiệt đới có 4 mùa rõ rệt, có một số tiểu vùng khí hậu nhỏ, vì vậy có
thể phát triển một số loại hoa cây cảnh nhiệt đới, á nhiệt đới và cả ôn đới. Bên
cạnh đó được sự quan tâm, ủng hộ, giúp đỡ và chỉ đạo của lãnh đạo các cấp
các ngành từ tỉnh đến huyện, xã, phường trên địa bàn Thái Nguyên trong việc
phát triển nghề hoa. Người dân trồng hoa tại Thái Nguyên đều có một số kinh
nghiệm nhất định trong lĩnh vực sản xuất hoa, cây cảnh. Việc sản xuất hoa đã
khẳng định được hiệu quả kinh tế hơn hẳn so với các loại cây trồng khác trên
Sự phù hợp của các giống hoa tulip với điều kiện sinh thái của tỉnh Thái
Nguyên sẽ góp phần đa dạng hóa các chủng loại hoa của Thái Nguyên, từ đó
nâng cao thu nhập và hiệu quả kinh tế, đáp ứng yêu cầu của ngành sản xuất
hoa.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu giống
Cây hoa Tulip mới được phát triển ở nước ta những năm gần đây,
giống Tulip đưa vào sản xuất chủ yếu được nhập nội từ Hà Lan. Hiện nay tại
Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu khảo nghiệm tại các vùng sinh thái một
cách hệ thống trước khi trồng nên dẫn đến một số giống có chất lượng hoa
kém, mẫu mã không đẹp, hoa nở không đúng dịp,… gây khó khăn cho người
sản xuất, hiệu quả kinh tế thấp, có khi dẫn đến sự thất bại. Nghiên cứu giống
sẽ giúp chúng ta nắm bắt được đặc điểm, khả năng sinh trưởng phát triển của
giống phù hợp với điều kiện ngoại cảnh, từ đó có thể lựa chọn được những
giống phù hợp với điều kiện của địa phương trước khi đưa vào sản xuất.
2. 1.2. Nguồn gốc và phân loại của cây hoa tulip
2.1.2.1. Nguồn gốc của cây hoa tulip
Hoa tulip xuất xứ là một loài hoa dại, mọc ở Trung Á, lần đầu tiên
được trồng ở Thổ Nhĩ Kỳ vào khoảng năm 1000 sau công nguyên. Các trung
tâm phát sinh của loài hoa này nằm ở dãy Thiên Sơn và dãy Pamir gần
Islamabad ngày nay, gần giữa Nga và Trung Quốc. Chính từ khu vực này, loài
hoa tulip đã phát triển mau chóng về phía Tây và phía Tây Bắc, về phía Đông
nơi trên các quốc gia Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Vịnh Baikal, Thụy Sĩ, Pháp,
Italia. Tại Hà Lan có đến 75 % sản lượng hoa tulip được trồng dành cho việc
xuất khẩu.
2.1.2.2. Phân loại thực vật học của cây hoa Tulip
Tulip là một loại hoa thuộc chi Tulipa gồm 150 loài, trong họ Liliaceae
( Jaap và các cộng sự, 2007 ). Hiện nay có hơn 3.500 giống được đặt tên ( J.
Van Scheepen, 1996 ).
Theo http://www.kingdomplantae.net/tulip.php?TSN=5007
Phân loại thực vật học [17]:
- Thuộc giới Plantae
- Thuộc lớp Liliopsida
- Thuộc bộ Liliales
- Thuộc họ Liliaceae
- Thuộc chi Tulipa
5
Hoa Tulip có nhiều kiểu dáng hoa khác nhau. Qua sự lai giống người
ta tạo được nhiều giống hoa mới, và chỉ trong vòng 400 năm, nếu kể cả đến
tulip hoang dại, tổng số hoa hiện nay có đến 4000 loại. Tuy nhiên trên thị
trường tulip ngày nay chỉ có khoảng vài trăm loại là thật sự được phổ biến.
Dựa vào quy định quốc tế tùy theo nguồn gốc, đặc điểm của hoa và
thời gian nở hoa, người ra chia tulip thành 4 nhóm ( Gruppen ) A, B, C, D và
sắp chúng thành 15 giống ( Klassen ) [11].
Nhóm A: gồm những loài nở sớm, từ giữa đến cuối tháng 4 và được
phân ra làm 2 giống. Giống 1 với hoa có tràng hoa đơn giản ( einfache Tulpe )
như Tulip Princessin Irene, màu cam óng vàng điểm những vệt như ánh lửa
màu đỏ đậm. Hoa giống 2 có nhiều tràng hoa ( gefullte Tulpe ) như Tulip
Hoangho màu vàng đậm. Nhóm tulip này có cuống hoa ngắn ( kurzstielig ),
dễ trồng và cao khoảng 25 – 35 cm.
Nhóm B: có 3 giống, gồm những hoa nở giữa mùa, từ khoảng cuối
Củ được tạo thành từ một vài lá vảy, trắng và mọng, chứa nước và các
chất dinh dưỡng, sắp xếp thành các vòng tròn đồng tâm. Chính giữa củ là mô
phân sinh đỉnh, ở đáy củ là đĩa sơ cấp. Bên ngoài củ có một lớp vỏ áo bao bọc
( áo củ ), đa số vỏ củ của các loài có lông ở mặt trong. Đây là đặc điểm quan
trọng nhất để phân biệt giữa các loài. Trong quá trình phát triển hình thành
các chồi bên từ gốc củ, mầm chồi chính và đầu chính là cơ sở hình thành củ
giống mới cung cấp cho nhân giống.
2. 1.3.2. Rễ
Là cơ quan để hút nước và dinh dưỡng cho cây. Rễ tulip có màu trắng
như màu củ, hình ống, rễ phát triển thành búi chùm, rất nhiều rễ do vậy tulip
hút được rất nhiều nước và ưa ẩm. Chiều dài thay đổi tùy theo giống, điều
kiện thời tiết và điều kiện canh tác. Rễ mọc ra từ đĩa củ.
2. 1.3.3. Thân
Thân của cây tulip thuộc loại thân thảo, có chiều dài thay đổi qua các
thời kì sinh trưởng có thể từ 10 – 70 cm. Khi nhiệt độ cao, thân cây sinh
trưởng nhanh, lóng cây vươn dài. Thân cây có màu xanh giống màu lá hay có
màu đậm hơn, nhất là phần thân gần với hoa, có lông hoặc không có lông.
2. 1.3.4. Lá
Lá có rất nhiều hình dạng khác nhau. Từ dạng dài, dạng mũi mác, elip,
ovan hay hình trứng; dạng hình trứng ngược hoặc mác ngược cho đến dạng chữ
nhật. Màu sắc của lá thường là màu xanh lá cây sáng, một vài loài có đốm đen trên
lá, dạng sọc dọc hay ngang, thỉnh thoảng cũng có vạch lông ngắn mép lá.
7
Về kích thước lá cũng có sự biến động khá lớn. Chiều rộng biến động
từ dưới 1 – 16 cm, chiều dài biến động từ 10 – 25 cm, có khi lớn hơn 30 cm.
Những lá có dạng bản thường có thịt lá dày, có bẹ ôm vào thân cây.
2. 1.3.5. Hoa
Phần lớn mỗi cây tulip chỉ mang một hoa trên thân chính, tuy nhiễn
cũng có một vài loài có đến 4 hoa. Hoa có thể là hoa đơn hoặc hoa kép. Cánh
của nhiều loại củ thực vật.
Trong hoa tulip, hoa được hình thành qua cảm ứng ở nhiệt độ 20 –
25
o
C, sự kéo dài của cuống hoa và nở hoa đúng đúng phụ thuộc vào sự kéo
dài của khoảng thời gian nhiệt độ thấp ( < 10
o
C ) [18]. Nhiệt độ cao thường
gây ra đột biến tạm thời, như số nhân của những cánh hoa. Ở nhiệt độ dưới
8
o
C hoa phát triển nhưng không mở. Hoa tulip cần khoảng 3 tuần có nhiệt độ
ban ngày trên 10
o
C để đảm bảo cho rễ phát triển thích hợp. Nhiệt độ ban đêm
từ 4 – 10
o
C.
Khi bảo quản củ giống ở 5
o
C trong một thời gian dài hơn 20 tuần,
mầm hoa tulip trong củ giống bị hoại tử ( De Hertogh và Le Nard, 1993 ).
Hoa phát triển bình thường sau 12 tuần lưu trữ khô ở nhiệt độ làm lạnh là 5
o
C,
từ 18 – 24 tuần hoa bị hoại tử rõ ràng và tỉ lệ tăng từ 36 % lên 95 % khi lưu
trữ đến 6 tuần và khi bảo quản đến 28 tuần thì hoại tử mầm trực tiếp sau khi
trồng ( M.G Van Kilsdonk, K. Nicoky, J.M Franssen, Kolloffel, 2001 ).
2. 1.4.2. Ánh sáng
Ánh sáng đóng vai trò quyết định đối với sự sống của cây hoa và cây
P mặc dù không bằng K.
2.1.5. Kĩ thuật trồng hoa Tulip
Theo Đặng Văn Đông ( 2003 ) [6]:
2. 1.5.1. Chuẩn bị củ giống
Nên chọn các củ giống có nguồn gốc xuất xứ và yêu cầu ngoại cảnh
phù hợp với điều kiện sản xuất tại khu vực trồng. Chọn những củ giống có áo
vỏ mỏng, hoặc hơi dài, áo củ phải còn nguyên vẹn, không rách không hư
hỏng hoặc bị bong ra. Các củ giống phải đồng màu, không có những vết màu
lạ trên củ, tránh trồng những củ có vết trầy xước hoặc vết cắt. Củ hoa tulip
cần 6 – 8 tuần lạnh để có thể ra rễ và nở hoa đúng cách.
2. 1.5.2. Làm đất, lên luống
Đất trồng hoa tulip phải được thoát nước tốt và đất kiềm là tốt nhất.
Nếu đất có tính axit thì phải bón vôi trước khi trồng. Đào xới đất kĩ lưỡng,
nhỏ mịn, thêm những loại phân hữu cơ mục nát hoặc là trộn than bùn cho
những nơi đất còn nghèo dinh dưỡng. Đất phải có đủ độ sâu. Đất thoát nước
tốt nhưng vẫn có khả năng giữ ẩm tốt. Trước khi trồng 10 ngày hoặc 1 tuần
nên xử lí đất bằng hóa chất để loại trừ cỏ dại và mầm mống gây bệnh.
Lên luống: Việc lên luống là cần thiết để vừa tiện cho việc chăm
sóc và vừa tạo không gian cho củ tulip phát triển tối ưu. Làm luống rộng 45 –
60 cm, cao 30 cm tạo điều kiện cho rễ có không gian phát triển.
10
Thời vụ trồng: Tiến hành trồng củ giống hoa vào thời điểm khi
nhiệt độ ban đêm chênh lệch khoảng 4,4 – 10
o
C. Điều này tùy thuộc vào địa
điểm trồng hoa. Nếu trồng quá sớm sẽ dẫn đến sự tăng trưởng mầm sớm và dễ
bị thiệt hại bởi sương giá.
2. 1.5. 3. Mật độ, khoảng cách
Tùy thuộc vào kích thước củ giống hoa mà trồng với khoảng cách
11
+ Giống nở vào mùa Hè và mùa Thu:
Nên bón phân hàng tháng từ khi chồi bật lên cho tới cây ra hoa.
Bón 7 thìa đầy phân hòa tan tỉ lệ 10 – 10 – 10 chia ra làm 2 – 3 lần
Sau khi cây nở hoa, bón thúc bằng phân N – P – K 5–10–10 với
một lượng thấp , tránh bón nhiều đạm.
Lớp phủ: Sau khi trồng nhiệt độ nên duy trì ở mức 13
o
C. Phạm vi
nhiệt độ cho phép để cây hoa tulip phát triển tốt là 17
o
C vào ban đêm và 24
o
C vào ban ngày. Nếu nhiệt độ quá lạnh thì phải có lớp phủ trên bề mặt hoặc
sử dụng màng phủ.
Tỉa hoa: Sau khi hoa phai thì cắt chúng đi để ngăn chặn sự hình
thành hạt giống vì hạt giống sẽ sử dụng dinh dưỡng trong củ, không có lợi
cho vụ sau.
Loại bỏ lá: Với những củ giống mà để lại trong đất để năm sau
cho ra hoa tiếp thì không nên cắt bỏ lá mà để lá tự héo khô. Lá xanh sản xuất
dinh dưỡng tích lũy vào củ để năm sau ra hoa tiếp.
Đào và lưu trữ củ giống: Khi các lá trên cây chuyển màu vàng thì
tiến hành đào củ giống lên, rửa sạch và phơi khô. Sau đó cất vào nơi mát mể,
không có ánh sang trực tiếp. Chú ý khi bảo quản không để cùng hoa quả trái
cây nếu không sẽ rất dễ lây bệnh nấm. Củ giống được bảo quản ở nơi có nhiệt
độ từ 10 – 15
o
C.
2. 1.5.6. Thu hoạch và bảo quản
2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới
Hiện nay việc sản xuất hoa và cây cảnh trên thế giới đang phát triển mạnh
và mang tính thương mại cao. Ngành sản xuất hoa cây cảnh mang lại nhiều thuận
lợi cao cho nền kinh tế của một số nước, đặc biệt là những nước phát triển.
Theo báo cáo năm 2005 của FAO, giá trị sản lượng hoa cây cảnh của
toàn thế giới năm 1995 đạt 45 tỉ USD, đến năm 2004 tăng lên 66 tỉ USD ( tốc
độ tăng bình quân năm 20% ) trong đó giá trị xuất khẩu đạt từ 20 - 50 tỉ
USD/năm [4].
Theo số liệu thống kê của FAO, sản lượng hoa xuất khẩu chiếm nhiều
hơn 13,362 tỉ USD năm 2006, trong đó hoa cắt cành là 6,12 tỉ USD chiếm
45,9% hoa chậu và hoa trồng thảm là 5,79 tỉ USD chiếm 43,3% ; loại chỉ
dùng lá để trang trí là 893 triệu USD chiếm 6,7 % và các loại hoa khác là 559
triệu USD chiếm 4,1 % [12].
Những nước có ngành hoa phát triển là Hà Lan, Pháp, Mỹ, Colombia,
Kenia… Một số nước đang có kế hoạch đầu tư phát triển mạnh mẽ, đưa hoa
lên thành một ngành kinh tế quan trọng như Trung Quốc, Hàn Quốc,
Italia…[12]
13
Trong các nước châu Âu, Hà Lan có thể xem là nước đứng đầu thế giới
về sản xuất và xuất khẩu hoa phục vụ cho thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn 80
nước trên thế giới bao gồm hoa cắt, hoa trồng thảm, trồng chậu và cây trang
trí. Trung bình một năm Hà Lan cung cấp cho thị trường 7 tỉ bó hoa tươi và
600 triệu chậu hoa cảnh các loại, với tổng kim ngạch xuất khẩu là 2 tỉ
USD/năm. Tiếp đến là Mỹ, ngành trồng hoa có thể xem như một thành phần
trong nền kinh tế Mỹ, với kim ngạch xuất khẩu là 10 tỉ USD/năm; bao gồm
hoa cắt, hoa trồng thảm, trồng chậu và các loại lá để trang trí. Ở các nước
châu Á thì Nhật Bản là nước dẫn đầu về áp dụng thành tựu khoa học kĩ thuật
tiên tiến để tạo ra các giống hoa cây cảnh có giá trị kinh tế cao. Thế mạnh của
nước này là cây Bonsai, nghệ thuật cắm hoa và lối trang trí độc đáo cho các
xây dựng, trang trí công cộng và làm cho con người gần gũi thiên nhiên hơn.
2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa ở Việt Nam
Nghề sản xuất hoa cây cảnh ở Việt Nam có từ lâu đời nhưng nó chỉ
được coi là một ngành kinh tế và có giá trị hàng hóa từ những năm 1980.
Cũng như một số ngành trên thế giới, ngành kinh tế này có tốc độ phát triển
khá nhanh.
Việt Nam có diện tích đất tự nhiên là 33 triệu ha, trong đó diện tích
đất trồng hoa vẫn còn rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng 0,02 % diện tích đất
trồng trọt. Diện tích trồng hoa tập trung ở các vùng trồng hoa truyền thống
như Ngọc Hà, Quảng An, Nhật Tân, Tây Tựu ( Hà Nội ); Đằng Hải, Đằng
Lâm ( Hải Phòng ); Hoành Bồ, Hạ Long ( Quảng Ninh ); Triệu Sơn, Thành
phố Thanh Hóa ( Thanh Hóa ); Gò Vấp, Hoóc Môn ( Thành phố Hồ Chí
Minh ); Đà Lạt ( Lâm Đồng )… với diện tích trồng hoa khoảng 3.500 ha [6].
Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2003 cả nước có 9.430 ha hoa và
cây cảnh các loại với giá trị sản lượng đạt 482,6 tỉ đồng.
So với năm 1994, diện tích hoa năm 2009 đã tăng 4, 3 lần, giá trị sản
lượng tăng 8,2 lần và mức tăng giá trị thu nhập/ha là 182 %. Tốc độ tăng
trưởng này là rất cao so với các ngành nông nghiệp khác. Sự tăng trưởng của
ngành sản xuất hoa cây cảnh luôn ổn định và theo cấp số cộng trong suốt 15
năm qua.
15
Bảng 2.1. Diện tíchvà giá trị sản lượng hoa cây cảnhở Việt Nam năm 2003
Diện tích ( ha ) Giá trị sản lượng ( Tr.đ )
Cả nước 9.430 482.606
Hà Nội 1.642 81.729
175.000 268.800 463.600 964.800 1.045.200
Giá trị thu nhập TB
( Tr. đồng / ha / năm )
51 56 61 72 78
Mức tăng diện tích so
với 1994 ( lần )
1,0 1,38 2,17 2,94 3,83
( Số liệu thống kê và điều tra của Viện nghiên cứu rau quả năm 2010 ) 16
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Việt Nam
có trên 8.000 ha trồng hoa. Năm 2010, lượng hoa cung ứng ra thị trường
khoảng 4,5 tỉ cành, trong đó xuất khẩu 1 tỉ cành, đạt kim ngạch 60 triệu USD.
Hoa xuất khẩu có 85 % hoa hồng, cúc và lan. Sản xuất hoa cành của Việt
Nam tập trung ở các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Lạt,… Theo các
chuyên gia kinh tế, doanh thu từ các vùng chuyên canh rất lớn, có nơi lợi
nhuận lên đến 2 tỉ đồng/ha/năm.
Về cơ cấu chủng loại hoa, cây cảnh ở Việt Nam: trước 1995, Việt
Nam chủ yếu sử dụng những loại hoa, cây cảnh truyền thống, thông dụng như
quất, đào, mai, hồng, cúc, layơn, thược dược, huệ,… Những năm gần đây một
số chủng loại hoa, cây cảnh mới, cao cấp đã dần được chú trọng và đang có
xu hướng tăng dần về số lượng và giá trị. Bảng 2.4 dưới đây thể hiện được sự
thay đổi đó .
Bảng 2.4. Cơ cấu số lượng, chủng loại hoa ở Việt Nam qua các năm ( % )
Chủng loại Năm 1995 Năm 2000 Năm 2009
Cây cảnh 100 100 100
17
Trong bối cảnh Việt Nam ra nhập WTO thì ngoài việc tăng diện tích,
sẽ có nhiều doanh nghiệp ( trong và ngoài nước ), các trang trại đầu tư phát
triển sản xuất kinh doanh hoa cây cảnh, đồng thời những giống hoa truyền
thống có phẩm chất kém, nhanh tàn sẽ được thay thế bằng các giống hoa cây
cảnh mới có chất lượng cao như Lily, lan, hồng, tulip, phăng, cúc lá nho,…
Đến năm 2015 sẽ chỉ còn những hộ gia đình sản xuất hoa cây cảnh
nhỏ lẻ ( chủ yếu cây trang trí, cây bonsai, cây dễ làm ) còn các loại hoa cao
cấp sẽ chuyển dần cho các công ty, các chủ trang trại có đầy đủ cơ sở vật chất,
công nghệ về thị trường đảm nhận [12].
Hiện nay vấn đề quan tâm không chỉ là đảm bảo mục tiêu về diện tích
trồng hoa mà còn là chất lượng và hiệu quả bền vững, cần phải đa dạng các
loại hoa chất lượng cao phục vụ cho xuất khẩu.
2.4. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa Tulip trên Thế giới
2.4.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tulip trên thế giới
Tình hình sản xuất củ hoa giống trên thế giới, nhập khẩu và sử dụng
hoa cắt cành, hoa phát triển từ củ như hoa tulip và hoa huệ hiện nay chiếm
một vị trí rất xác định. Tình hình sản xuất hoa tulip diễn ra trong tại hơn 15
quốc gia trên toàn thế giới với diện tích sản xuất lớn nhất là ở Hà Lan với
10.800 ha ( chiếm 88 % ), 5 quốc gia tiếp theo chính là Nhật Bản ( 300 ha;
2,5 % ), Pháp ( 293 ha; 2,4 % ), Mỹ ( 280 ha; 2,4 % ), Ba Lan ( 200 ha; 1,6 % )
và cuối cùng Đức ( 155 ha; 1, 3 % ) [13]. Các quốc gia và vị trí được thể hiện
ở bảng dưới: 18
Bảng 2.5. Các quốc gia sản xuất nhiều củ giống hoa Tulip và củ giống hoa
Lily trên thế giới ( 2002 – 2003 )
STT Các quốc gia
Diện tích trồng
19
Ở Hà Lan có 1778 giống được trồng trong sản xuất củ giống thương
mại trong suốt giai đoạn 2006 – 2007 [13].
Tuy nhiên chỉ có 18 giống được trồng với diện tích hơn 100 ha và
những giống này chiếm khoảng 31 % tổng diện tích ( 3.240 ha trong tổng số
10.071 ha ). Còn lại được trồng với những diện tích nhỏ hơn.
2.4.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa Tulip tại Việt Nam
Ở nước ta hoa tulip tuy đã được trồng ở một số nơi, loài hoa này vẫn
chưa được phổ biến vì nhiều hạn chế của điều kiện tự nhiên và kĩ thuật. Hoa
tulip xuất hiện ở nước ta từ mùa xuân năm 1996 do công tu hoa Đà Lạt
Hasfarm cung cấp. Càng ngày hoa tulip càng có sự đa dạng về chủng loại và
dần được biết đến. Ở Việt Nam hiện nay có 2 nơi sản xuất hoa tulip lớn nhất
là Đà Lạt Hasfarm ở Đà Lạt – Lâm Đồng và công ty Hoa nhiệt đới ở Mộc
Châu – Sơn La. Năm 2004, hoa tulip bắt đầu được trồng ở Mộc Châu – Sơn
La với 15 giống có đủ màu sắc ( duy nhất ở Việt Nam ). Mùa xuân năm 2007,
công ty này cung cấp ra thị trường miền Bắc gần 300.000 cành tulip với giá
dao dộng từ 15.000 – 30.000 VND/cây. Còn lại trồng với mục đích phi
thương mại không đáng kể.
2.5. Tình hình nghiên cứu hoa Tulip ở trên Thế giới và ở Việt Nam
2.5.1. Tình hình nghiên cứu hoa Tulip trên Thế giới
Từ khi hoa tulip xuất hiện và trở thành cây trồng thương mại đã có
rất nhiều các tài liệu nghiên cứu về loài hoa đẹp này. Trước tiên phải kể
đến sự phân loại thực vật học của chi bởi Hall ( 1940 ) dựa trên đặc điểm
hình thái học và tế bào học. Sau đó, Botschantzeva ( 1982 ) đã xuất bản
một luận án toàn diện về hoa tulip. Gần đây một sự sửa đổi của chi Tulip
dựa trên các đặc điểm về hình thái học và di truyền học tế bào, vượt qua
dữ liệu đó, dữ liệu về việc phân bố địa lí đã được đề xuất bởi Van
Raamsdonk và các cộng sự ( 1997 ).
Ngoài ra sản xuất hoa hạt phấn 2n cũng được báo cáo ở Nhật bản bởi