HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA NÔNG HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG
PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG HOA SỨ THÁI
VÀ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRỒNG GIỐNG
HOA SỨ THÁI TẠI GIA LÂM HÀ NỘI
Người thực hiện:
LỖ BÁ LUẬT
Lớp:
K57RHQMC
Khóa:
K57
Người hướng dẫn:
TS. ĐOÀN VĂN LƯ
PGS.TS. ĐẶNG VĂN ĐÔNG
HÀ NỘI – 2016
Lời cảm ơn
Hà Nội. Luận văn thạc sĩ nông nghiệp......................................................................................29
Tài liệu từ internet.....................................................................................................................29
ii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Động thái tăng trưởng chiều cao cây ở các giống sứ Thái...............Error:
Reference source not found
Bảng 2. Động thái ra lá của các giống sứ Thái. Error: Reference source not found
Bảng 3.đặc điểm hình thái hoa của các giống.........................................................
Bảng 4: Đặc điểm ra hoa của một số giống hoa sứ Thái...Error: Reference source
not found
Bảng 5: Ảnh hưởng của giá thể tới tốc độ ra lá của cây hoa sứ...Error: Reference
source not found
Bảng 6: Ảnh hưởng của giá thể đến năng suất, chất lượng hoa của cây hoa sứ Error:
Reference source not found
Bảng 7: Ảnh hưởng của phân bón đến tốc độ tăng số lá của cây hoa sứ.......Error:
Reference source not found
Bảng 8: Ảnh hưởng của phân bón tới năng suất, chất lượng hoa sứ.............Error:
Reference source not found
iii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Các giống sứ Thái. a, giống đỏ đơn; b, giống hồng viền trắng; c, giống
đỏ kép; d, giống hồng kép.................................Error: Reference source not found
iv
1
Xác định được giá thể trồng phù hợp cho cây hoa sứ Thái trong điều kiện
sinh thái Gia Lâm - Hà Nội
Xác định được lượng phân bón phù hợp cho cây sứ Thái trong điều kiện
sinh thái Gia Lâm - Hà Nội
2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Nguồn gốc và phân bố:
Cây sứ Thái có tên khoa học là Adenium obesum (thuộc họ Trúc đào –
Apocynaceae), còn được gọi là “hoa hồng sa mạc”, tên tiếng Anh là Desert Rose
(Hoàng Đức Khương, 2006) [1]. Có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
của vùng đông và nam Châu Phi, cũng như bán đảo Ả Rập, trải dài từ các nước
Nam Á và Ả Rập.
Cây sứ du nhập từ Thái Lan vào Việt Nam cách đây khoảng 40 Năm
(Nguyễn Tiến Bân, 1997)[3] Cây Sứ khó trồng và phát triển chậm trong điều
kiện mát, lạnh (đặc biệt ở các nước ôn đới và hàn đới) (Hoàng Đức Khương,
2006) [1]. Cây Sứ xuất hiện khắp nơi ở Việt Nam nhưng xuất hiện nhiều chủ
yếu từ Huế trở vào Nam, miền Bắc cây Sứ không đước phát triển do có điều
kiện khí hậu không thuận lợi, đây là một thị trường tiềm năng cho cây sứ phát
triển.
2.1.1. Đặc điểm thực vật học của cây Sứ Thái
- Rễ cây
Sứ Thái có bộ rễ phát triển mạnh, phát triển ở tầng đất mặt. Khi trồng
trong chậu, rễ cái lâu ngày phình to, do yếu tố ngoại cảnh hay do tác động của
con người mà tạo nên các hình dạng khác nhau. Rễ con hay rễ nhánh mọc ra từ
hay lõm vào trong, gốc lá hình tam giác.
Lá sứ thuân dài, phiến lá tương đối rộng, hệ gân lá hình long chim, gồm
gân chính nổi rõ kết hợp với các gân nhỏ tạo nên bộ xương lá[2]. Mỗi giống sứ
có màu lá và màu gân khác nhau. Sứ là loài cây mang tính sa mạc, nên lá già
rụng đi phần cành sứ già không có lá chỉ có lá ở phần ngọn.
- Đọt
Là phần ngọn của nhánh mang chum hoa, có màu xanh hoặc đỏ nâu tùy
từng giống.
- Hoa
Hoa sứ có nhiều màu sắc khác nhau nhưu đỏ, trắng , vàng, hồng, hoa có
viền rất đa dạng. Hoa nở theo từng chùm, mỗi chùm có từ 5 – 10 hoa cũng có
4
thể nhiều hơn thế, hoa nở dần khoảng hơn 1 tháng thì nở hết.
Hoa có cuống ngắn dạng hình phễu, hoa đều, lưỡng tính, mẫu 5, tiền khai
hoa vặn, xếp thành chùm xim mọc ở đầu cành. Lá đài thwuowngf có màu đỏ,
long mịn. Họng hoa thường có màu vàng, đỏ , trắng, cam, xanh. Nhị dính trên
ống, chỉ nhị ngắn, có trung đới dài bằng chiều dài họng hoa mang nhiều long và
có màu sắc thay đổi tùy giống.
Hoa thức chung K5C(5)A5G(2)
- Quả
Sau khi hoa thụ phấn thụ tinh bầu sẽ phình to ra thành quả, quả thường
mọc thành cặp. Tùy theo giống mà có màu sắc quả thay đổi. Thời gian chin của
từng giống cũng khác nhau 2 đến 3 tháng. Trong quả có rất nhiều hạt.
- Hạt
Tùy giống mà số hạt trong quả ít hay nhiều, giống ít hạt mỗi quả có vài
chục hạt, với giống nhiều hạt quả có tới vài trăm hạt. Trong quả có hai dãy hạt,
khi tách ra thấy hạt. Hạt có kích thức to nhỏ tùy giống[2].
nếu nhiệt độ vượt quá 38oC. Cây sứ mẫn cảm với nhiệt độ thấp, ở các vùng có
mùa đông lạnh cây sẽ rụng lá ngừng sinh trưởng và trải qua thời kỳ ngủ nghỉ vài
tháng. Tại các nước ôn đới, mức nhiệt độ tối thích an toàn là 10 oC dưới mức này
cây sẽ bị đặc nhựa và chết. Theo một nghiên cứu thì đầu cành sứ sẽ bị tổn
thương khi nhiệt độ dưới 5oC và cây chết khi nhiệt độ dưới 0oC. Đây là một
trong những dặc tính chung của các nhóm mọng nước[1].
2.1.3. Kỹ thuật trồng và chăm sóc sứ Thái.
Cây sứ trồng từ hạt có thể ra hoa sau 8 tháng đến 1 năm, dễ trồng khả
năng nhân giống nhanh, hoa đẹp, trên môt cây có thể ghép nhiều giống sứ khác
nhau, Ngoài vẻ đẹp của hoa cây sứ cũng có thể tạo dáng để chở thành các cây
bon sai do có bộ rễ rất đẹp.
Chọn đất trồng.
Độ tới xốp của đất quyết định chất lượng phát triển của cây, đất tới xốp rễ
phát triển nhanh, cây tăng trưởng mạnh mẽ. Đất pha cát, phân rơm mục, phân
6
rác, cát sạch, phân chuồng, tro chấu là những chất liệu thường được dùng trong
các nhà nuôi trồng sứ. Cây sứ không kén đất, các loại đất như đất cát, đất thịt,
đất thịt nhẹ đều trồng được với điều kiện đất tơi xốp và thoát nước. có thể phối
trộn đất trồng theo ỷ lệ sau: 50% đất phù xa, cát pha hoặc thịt nhẹ, 50% chất hữu
cơ, xơ dừa, vỏ trấu. Nếu đất chua có thể bổ xung thêm phân lân và vôi. Tất cả
trộn đều và sử lí nấm để trừ nấm bệnh, ủ thành đống để dung dần.
Cách trồng.
Có hai cách trồng sứ là gieo hạt và giâm cành. Nhưng hiện nay đa số
người chơi đều sử dụng phương pháp giâm cành. Sứ trồng trong chậu là khá phổ
biến vì vừa đẹp vừa dễ chăm sóc nên ít người trồng thẳng xuống đất vườn.
Chậu trồng sứ thường đục nhiều lỗ ở đáy để thoát nước, có thể dải một ít
gạch vụn, đá nhỏ ở dưới đáy tránh đất làm bịt kín lỗ thoát nước. Dùng đất đã
vẫn hông chết, khi gặp điều kiện thuận lợi lại có thể phất triển bình thường.
Tùy theo chất liệu trồng mà ta có cách tưới hợp lý. Chú ý quan sát sau
mỗi lần tưới thì bao lâu đấy trong chậu khô xuống 1/3 chậu tính từ lớp đất mặt
khi đó ta có thể tưới bổ xung nước cho cây. Nếu chất liệu trồng tơi xốp thì có thể
tưới cho cây hằng ngày.
Sứ là cây chịu nắng vì vậy rất phù hợp với hời tiết miền nam, cây sứ mới
trồng, mới sang chậu hay mới cắt cành thì không nên tưới nhiều nước. Tưới
nước cho cây cần dùng vòi phun sương, bình phun hoặc hệ thống tưới phun[1].
Điều khiển ra hoa
Muốn cây sứ ra hoa nhiều thì cành sứ hông được để quá dài, cành phải
được cắt tỉa sau mỗi đợt hoa tàn, Mỗi lần cắt cây sẽ ra thêm nhiều nhánh, nhiều
nhánh sẽ có nhiều hoa. Muốn sứ ra hoa dịp tết cần căn cứ: nếu lượng mưa đều
trong năm, khí hậu ôn hòa thì cắt cành vào rằm tháng 7 âm lịch. Nếu trong năm
hạn hán kéo dài, mưa ít thì cắt cành sứ muộn hơn vào đầu tháng 8, kết hợn phun
định ỳ các loại phân bón có hàm lượng cao như đầu trâu 701, đầu trâu 901. Khi
8
thấy lá sứ chuyển từ màu xanh sang màu vàng rồi rụng, ở đầu ngọn ngưng ra lá
non có những nụm lốm đốm là thời kỳ cây phân hóa mầm hoa[4].
Phòng trừ sâu bệnh
Sâu bệnh hại là yếu tố làm giảm chất lượng và năng suất của cây trồng.
Đối với cây hoa sứ nếu không khống chế được sâu bệnh hại thì năng suất và chất
lượng đều giảm. đặc biệ trong giai đoạn cây ra nụ tới khi nở hoa.
Cây sứ thường bị các laoij sâu bệnh như:
- Sâu xanh: nếu thấy trên các ngọn lá bị ăn cụt thì chắc chắn là do sâu
xanh. Loại sâu này ăn rất nhanh 2-3 ngày ăn hết cả đọt lá có hể ăn đứt cả ngọn
cây. Để phòng trừ có thể dùng một số loại thuốc: vibasa, vitaco…
- Rầy bông và bọ sứ: rầy bông có thân nhỏ dẹp, có long tơ khắp chung
triển rất mạnh về trồng hoa sứ. Ở châu Mĩ và Hoa Kỳ là nơi tạo ra các giống sứ
mới đầu tiên, tại đây do chi phí sản xuất cây sứ rất cao nên đa số các nhà vườn
nhậ khẩu trực tiếp cây từ Đài Loan, Thái Lan. Đài Loan là nới mà rất nhiều
giống mới được ra dời, cây sứ và lan Hồ Điệp đang được chú trọng phát triển.
Đa số các cây sứ được mua bán trên thị trường là loại sứ nhỏ kích thước
trung bình là 7-10cm, được ghép 1-2 nhánh giống, rất ít và hầu như không mua
bán với cây sứ cảnh có kích thước lớn.
Vị thế cây sứ ở Việt Nam có nhiều biến đổi, vào khoảng 10 năm trước khi
mới được nhập về các nghệ nhân Sài Gòn đánh giá là một giống kiểng quý nên
giá bán khá cao. Sau đó do kỹ thuật trồng sứ phát triển, cấy sứ lại dễ trồng và
chăm sóc nên giá bán giảm xuống. Tại các nhà vườn Sa Đéc trước đây được
trồng như một cây cảnh bình thường nhưng từ khi các giống sứ mới được nhập
về nhu cầu cần cây nguyên liệu để làm tháp ghép tăng cao nên cây sứ đã được
đưa lên thành một loại cây chính và được một số nhà vườn trồng chuyên biệt.
Sau một thời gian vào khoảng năm 2004 với số lượng sản xuất ồ ạt cây sứ lại bị
mất giá, phải đến giữa năm 2005 mới có dấu hiệu tích cực về giá bán.
Cây sứ có mặt khắp Việt Nam, nhưng tập chung chủ yếu từ Huế trở vào
Miền Nam. ở Miền Bắc cây sứ không được thịnh do nhiều nguyên nhân, tuy
10
nhiên hiện nay đã có nhiều nhà vườn sản xuất cây sứ. ở Miền Trung tại các đền
đài, lăng tẩm ở Huế luôn có hai hang sứ đặt ở mặt tiền để trang trí.Ở Miền Nam
là nới cây sứ phát triển nhất, TP Hồ Chí Minh là nơi nhập nhiều các giống sứ
mới sau đó nhân ra và đưa đi các vùng khác[1].
Nói chung, trong làng cây cảnh Việt Nam sứ chiếm một vị thế quan trọng
và có giá trị cao. Thói quen chơi sứ ngày Tết càng ngày càng có nhiều người
chơi, ở các chợ hoa Tết cây sứ chỉ đúng sau Mai, Đào, Quất, Cúc, và một số loại
hoa khác[2]. Giá trị làm cảnh của cây sứ chính là giá trị thẩm mĩ, đầu tiên là bộ
nhau nên thành phần cũng khác nhau. Khu vực thành phố Hồ Chí Minh sử dụng
tro trâu, phân bò và xơ dừa, khu vựa Tây Nam Bộ như ở Sa Đéc- Đồng Tháp sử
dụng phân rơm mục và phân chuồng để trồng.
Giá thể trồng hoa sứ ở các nước cũng khác nhau:
Ở Thái Lan: hỗn hợp gồn: đất sét, phân heo, phân ủ từ lá cây, vỏ dừa và
sơ dừa, một ít than dừa và tro trấu. Vỏ dừa và xơ dừa giữ nước tốt, phân ủ từ lá
cây là nguồn cung cấp các hợp chất hữu cơ cho cây, đất sét giúp giữ lại chất
dinh dưỡng tránh hiện tượng dửa trôi. Hỗn hợp này khá thoáng khí và tơi xốp.
Ở Đài Loan: 80% mạt đá cộng xơ dương xỉ và một ít than dừa. Loại giá
thể này thường có khối lương lớn nên trậu cây thường rất nặng, loại giá thể này
không có nhiều dinh dưỡng để cung cấp cho cây nên việc cung cấp dinh dưỡng
hoàn toàn từ quá trình tưới nước và phân bón cho cây. Hiện nay Đài Loan đang
chuyển sang sử dụng loại giá thể gồm cát khô và vỏ trấu gọn nhẹ hơn.
(Hoàng Đức Khương, 2006)[1].
Tại Việt Nam hiện nay nguồn cung cấp chất trồng rất phong phú: trấu
sống, trấu hun, vỏ lạc, bánh dầu, xơ dừa…đều có thể sử dụng làm giá thể trồng
như sau: 30% tro trấu; 25% các chất như vỏ lạc, xơ dừa đã sử lý; 25% là phân
hữu cơ; 20% là đất phù sa và cách chất độn khác tùy theo từng nhà vườn.
(Nguyễn Thị Mai,2012)[4].
Tình hình nghiên cứu về sử dung phân bón cho cây hoa sứ
Sứ là cây mọng nước có bộ củ to, rễ mập mạp nên trong thành phần của
phân bón thì hàm lượng P và K là quan trọng nhất. Khi bón phân nên sử dụng
12
các loại phân bón có hàm lượng có hàm lượng lân và kali cao hơn đạm để cây
phát triển bình thường. Ngoài ra cây sứ cũng cần được bổ sung các chất vi lượng
cho quá trình phát triển của cây như: Ca, Mn, Mg, Fe, Bo…Những loại phân này
có thể bổ sung cho cây qua lá bằng các loại phân bón lá trên thị trường.
ngày bón một lần.
Giai đoạn cây phát triên tốt chuẩn bị ra hoa: NPK: 6-30-30, NPK 10-2030 15 ngày bón một lần.
Ngoài các loại phân NPK có thể sử dụng them các laoij phân bón qua lá
trên thị trường dể cung cấp bổ xung các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây[1].
14
Phần 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Các giống sứ Thái đã trưởng thành (bốn giống sứ Thái trên một năm tuổi.)
a)
b)
c)
d)
Hình 1. Các giống sứ Thái. a, giống đỏ đơn; b, giống hồng viền trắng; c,
giống đỏ kép; d, giống hồng kép.
3.1.2. Vật liệu
Phân bón: phân NPK 15-15-15 + TE
Phân bón qua lá: Đầu trâu 501, growmore 20-20-20
Đất: đất màu được phơi khô đập nhỏ loại bỏ đất to và sỏi đá và các hỗn tạp
Vỏ lạc: vỏ lạc đã được ủ hoai mục được sử dụng để tăng đô xốp và là một
nguồn cung cấp phân hữu cơ cho cây.
Xỉ than: xỉ than được đập nhỏ trộn vào để tăng khả năng thoát nước cho cây.
P3
P1
P3
P4
P2
P1
P2
P3
P4
P1
Nghiên cứu sinh trưởng phát triển của bốn giống hoa sứ Thái:
Theo dõi sự sinh trưởng phát triển của các giống sứ Thái qua từng thời kì.
Từ đó đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của các giống.
Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng giống sứ Thái: Thí nghiêm tiến
hành trên một giống nhắm đánh giá tác động của giá thể và phân bón tới khả
năng sinh trưởng phát triển của cây.
Thí nghiệm I: Ảnh hưởng của thành phần giá thể tới khả năng sinh trưởng
phát triển của cây Sứ Thái.
16
−
−
−
−
Thời gian từ khi hình thành nụ tới khi nở hoa.
Đường kính nụ.
Đường kính hoa.
Độ bền hoa tự nhiên.
Các chỉ tiêu theo dõi 10 ngày 1 lần.
+ Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Số liệu được tổng hợp và xử lý theo phương pháp phân tích phương sai
bằng IRRISTAT 5.0 và xử lý trên Microsoft excel.
17
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Nghiên cứu sinh trưởng phát triển của các giống sứ Thái
4.1.1. Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống sứ Thái
Tùy theo đặc tính di chuyền của mỗi giống thể hiện trong điều kiện trồng
trọt, chăm sóc cụ thể, quyết định khả năng sinh trưởng của cây. Qua theo dõi,
kết quả tăng trưởng của các giống được thể hiện trong bang sau.
Bảng 1: Động thái tăng trưởng chiều cao cây ở các giống sứ Thái
Chỉ tiêu
Giống
Đỏ đơn
Hồng viền trắng
Đỏ kép
Hồng kép
Ngày theo dõi
31.9
32.8
35.0
37.3
39.7
7.8
30.1
31.4
32.9
34.6
36.3
6.3
37.0
37.8
38.8
giữa các giống. Ở các giai đoạn khác nhau cũng có sự khác, một số giống vẫn
tăng đều theo các giai đoạn, một số giống lại có sự biến đổi.
Dựa vào bảng trên giống Đỏ đơn là giống có khả năng phát triển tốt nhất
trong điều kiện tại Gia Lâm – Hà Nội.
Động thái tăng trưởng được thể hiện qua đồ thị dưới đây.
Đồ thị 1.
4.1.2. Động thái ra lá của các giống sứ Thái
Lá là cơ quan quang hợp, tổng hợp các chất dinh dưỡng cho cây nên
nó quyết định đến sự sinh trưởng và phát triển của cơ quan, bộ phận khác cũng
như việc tạo năng suất cây sau này. Vì vậy, số lá/cây là một chỉ tiêu quan trọng
để đánh giá sự sinh trưởng và phát triển của các giống.
19
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, số lá của cây tăng phụ thuộc
vào đặc tính của giống và điều kiện ngoại cảnh. Số lá của cây đạt cao nhất khi
cây hình thành nụ.
Kết quả theo dõi động thái ra lá của các giống được trình bày ở bảng 2
và đồ thị 2.
Bảng 2. Động thái ra lá của các giống sứ Thái
Chỉ tiêu
Ngày theo dõi
Tốc độ ra
(cm)
39.4
49.3
65.3
81.3
10.5
Đỏ kép
25.0
36.1
49.7
69.6
85.4
12.1
Hồng kép
30.3
42.3