Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo lý sơn, tỉnh quảng ngãi (tóm tắt) - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-------------------------------------

Lê Thị Hoa

CƠ SỞ KHOA HỌC CHO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
SINH THÁI TẠI ĐẢO LÝ SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2012


LỜI CẢM ƠN

Luận văn thạc sỹ khoa học chuyên ngành Sinh thái môi trường “Cơ sở
khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng
Ngãi” đã được hoàn thành vào tháng 12/2012. Để hoàn thành được luận văn,
trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Lê Đức Tố, giáo viên
hướng dẫn trực tiếp, người đã tận tình chỉ bảo cho việc định hướng cũng như
hoàn thiện luận văn và đồng thời tạo mọi điều kiện để tôi được tiếp cận với
những phương pháp nghiên cứu, tài liệu mới nhất phục vụ cho luận văn đạt
được kết quả tốt nhất.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Môi trường nói chung và các
thầy cô trong bộ môn Sinh thái Môi trường nói riêng, đặc biệt là PGS.TS Trần
Văn Thụy đã kịp thời giải đáp và tháo gỡ những khó khăn cho tôi trong quá
trình hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đặc
biệt là các bạn lớp K18 Cao học Khoa học Môi trường đã luôn giúp đỡ, động viên
tôi trong suốt quá trình làm luận văn để tôi hoàn thành tốt mọi công việc.

2.3. Phương pháp nghiên cứu........................................................................6
2.3.1. Phương pháp kế thừa, tổng hợp có chọn lọc tài liệu......................6
2.3.2. Phương pháp khảo sát thực tế..........................................................6
2.3.3. Phương pháp chuyên gia...................................................................6
2.3.4. Phương pháp phân tích hệ thống.....................................................6

i


CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU................................................................................7

3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên....................................................................7
3.1.1. Thuận lợi............................................................................................7
3.1.2. Thách thức.........................................................................................8
3.2. Định hướng phát triển kinh tế sinh thái đảo Lý Sơn............................9
3.2.1. Xây dựng khu bảo tồn biển...............................................................9
a. Hiệu quả về môi trường sinh thái.........................................................13
b. Hiệu quả về kinh tế...............................................................................14
c. Hiệu quả về xã hội.................................................................................14
3.2.2. Định hướng phát triển trong khu bảo tồn biển.............................15
3.2.3. Định hướng phát triển ngoài khu bảo tồn biển.............................19
3.2.4. Giải pháp thực hiện.........................................................................20
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................................24

ii


Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

MỞ ĐẦU

số dân đông nhất trong các đảo ven bờ của Việt Nam. Dân số tập trung đông đúc

Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT

1


Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

trên một diện tích đất đang ngày bị thu hẹp là một sức ép lớn đối với môi trường.
Dân cư đa số có thu thập thấp, trình độ dân trí chưa cao, ý thức bảo vệ môi trường
còn kém. Rác thải sinh hoạt từ dân cư chưa được thu gom và xử lý. Canh tác nông
nghiệp trên đảo vẫn là canh tác lạc hậu. Tình hình khai thác, đánh bắt nguồn lợi
thủy hải sản bằng phương pháp hủy diệt vẫn diễn ra chưa có chiều hướng giảm. Sự
cân bằng của HST san hô và cỏ biển và tính đa dạng sinh học của các HST này
đang bị đe dọa nghiêm trọng do tình trạng hút cát để trồng tỏi, đánh bắt thủy sẳn
bằng thuốc nổ và chất độc. Tất cả điều này đi ngược lại với chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội theo hướng mở rộng ra biển đã được Chính phủ xác định (đến 2050,
kinh tế biển chiếm 53% GDP) và phát triển theo hướng bền vững với môi trường.
Dù điều kiện tự nhiên có ưu thế nhưng tiềm năng là có giới hạn. Muốn duy
trì sự phát triển kinh tế xã hội bền vững của huyện đảo Lý Sơn, cần phải có ngay
những hành động điều chỉnh phát triển của huyện đảo. Cần xem xét mối quan HST
của HST trên đảo và HST của vùng nước xung quanh đảo. Đồng thời, cần xem xét
mối quan hệ kinh tế - xã hội của Lý Sơn với kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi.
Để đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững biển, đảo Lý Sơn, kinh tế sinh thái chính
là lựa chọn duy nhất.
Để đóng góp vào hướng nghiên cứu này, đề tài “Cơ sở khoa học cho định
hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi” được thực
hiện nhằm đưa ra được những cơ sở và định hướng phát triển kinh tế sinh thái phù
hợp với những điều kiện sẵn có của đảo Lý Sơn góp phần nâng cao hiệu quả của

Sau đây là chi tiết của luận văn.

Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT

3


Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Kinh tế sinh thái
1.1.1. Khái niệm
Kinh tế sinh thái học (KTST) là một lĩnh vực nghiên cứu giải quyết mối quan
hệ giữa các HST và các hệ thống kinh tế (Constaza và nnk, 1991) và bước đầu tập
trung vào việc đưa kinh tế học và các nguyên lý sinh thái lại gần nhau [9].
1.1.2. Mục tiêu
- Duy trì đa dạng sinh học;
- Đảm bảo phát triển bền vững các HST tại khu vực và có sức lan tỏa;
- Đảm bảo sự phát triển bền vững hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường
sinh thái.
1.1.3. Cách tiếp cận
- Ứng dụng công nghệ cao trong khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm giảm
chi phí, đảm bảo lợi ích kinh tế cao và bền vững.
- Tiếp cận sinh thái, tổng hợp.
1.1.4. Những lưu ý trong phát triển đảo biển
- Nghiêm cấm phát triển công nghiệp sử dụng nhiều nước sạch.
- Bảo vệ và duy trì các HST trên đảo;
- Các tác động động lực đến bờ biển đảo luôn luôn phải có các công trình
bảo vệ đảo, chống đỡ các tác động của thiên;
- Khai thác nước ngầm quá mức sẽ gây ra hiện tượng nhiễm mặn, gây sạt lở

ẩm cao, lượng mưa khá lớn (trung bình năm > 2000mm) do đó có điều kiện tích trữ
nguồn nước ngọt dồi dào, cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với những ngọn núi lửa,
hang động. Bên cạnh đó, Lý Sơn có một bề dày lịch sử với nhiều di tích. Đảo Lý
Sơn có trên 21.000 dân trên tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 10km 2, mật độ dân số
cao. Với ưu thế như trên, Lý Sơn có vị trí chiến lược trong công tác bảo đảm quốc
phòng an ninh, có rất nhiều điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh
tế - xã hội.
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, Lý Sơn hiện đang đối mặt với mất sự
cân bằng sinh thái, và nguy cơ hủy diệt các HST, ô nhiễm môi trường. Vì vậy, cần
thiết và nhanh chóng phải định hướng phát triển kinh tế xã hội Lý Sơn theo hướng
bền vững nhằm phục hồi và bảo vệ các HST biển và HST trên đảo, giúp cân bằng
được giữa phát triển kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Đó chính là kinh tế sinh
thái.

Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT

5


Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Mô hình kinh tế sinh thái Đảo Lý Sơn.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Xác lập cơ sở khoa học cho mô hình kinh tế
sinh thái đảo Lý Sơn.
- Phạm vi về không gian nghiên cứu: Khu vực huyện đảo Lý Sơn khu vực trên
đảo và vùng nước xung quanh

nhìn hùng vĩ có giá trị về tham quan khám phá thiên nhiên trong phát triển du lịch.
- Thổ nhưỡng: đất nâu đỏ trên đá bazan chiếm phần lớn diện tích đất của đảo
845ha, khoảng trên 80% diện tích đất tự nhiên toàn huyện đảo, đây là nguồn tài
nguyên quan trọng của huyện đảo, vì đa số diện tích (khoảng 558ha) đất nâu đỏ trên
đá bazan có tầng dày trên 1m và độ dốc dưới 8 o, khá màu mỡ, hàm lượng các chất
dinh dưỡng từ trung bình trở lên, thích hợp cho nhiều loại cây công nghiệp.
- Khí tượng thủy văn: nhiệt độ cao quanh năm, độ ẩm không khí cao, lượng
mưa ẩm cao, gió quanh năm từ 3m/s đến 6,5m/s tạo điều kiện thuận lợi cho thảm
thực vật phát triển, tích tục nước ngầm đáp ứng nhu cầu dân sinh. Đồng thời đây
cũng là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch quanh năm.
- Hải văn: Đảo Lý Sơn là nơi chuyển tiếp hệ thống hoàn lưu bề mặt biển thời
kỳ gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc tạo ra thời gian dừng khi chuyển tiếp từ
gió Đông Bắc sang gió Tây Nam tạo nên sự ”dừng” của vật chất. Thành phần vật
chất, các chất dinh dưỡng, các chất lơ lửng ”dừng” lại xung quanh đảo tạo ra điều
kiện cho các HST phát triển. Một lý do khác, khi dòng chảy Đông Bắc theo gió mùa
Đông Bắc dịch chuyển xuống phía Nam, nước ấm đưa dần xuống phía Nam, sinh
vật sẽ chạy theo dòng chảy 25oC, và mùa cá ở miền Trung sẽ lùi dần về phía Nam
vào mùa đông tạo ra sự phong phú các giống loài tại đây.

Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT

7


Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

- Tài nguyên nước: Lượng mưa trung bình năm trên đảo Lý Sơn là trên
2000mm, đó là một lượng mưa khá lớn, những tháng trong năm có lượng mưa lớn
là tháng 8 đến tháng 12, tạo điều kiện tích nước trên công trình hồ chứa nước núi
Thới Lới với tổng dung tích sử dụng 2700m3. Dân cư trên đảo Lý Sơn phân bố trên

8


Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

Không có rừng, đất không có thảm thực vật che phủ đồng nghĩa với việc đất sẽ bị
xói mòn, rửa trôi và bạc màu bởi mưa, gió. Không có rừng, không tích trữ được
nước mưa. Không có rừng, lớp thổ nhưỡng giàu dinh dưỡng hình thành trên nền đá
bazan sẽ thoái hóa, rửa trôi xuống các thủy vực xung quanh, ảnh hưởng không nhỏ
đến các HST biển. Không có rừng, điều kiện vi khí hậu cũng bị ảnh hưởng, cảnh
quan sinh thái kém hấp dẫn với khách du lịch. Bên cạnh đó, canh tác nông nghiệp
lạc hậu, sử dụng nhiều nước và phân bón hóa học làm cho HST nông nghiệp vốn dĩ
không bền vững càng trở nên suy thoái.
- Dân số đông trong khi diện tích có hạn gây áp lực lên môi trường sinh thái
đảo. Nhu cầu về chổ ở, vấn đề ăn, mặc…ngày càng tăng. Các nguồn tài nguyên ven
biển ngày bị khai thác một cách triệt để. Bên cạnh đó, dân số tăng, kéo theo vấn đề
tăng lượng rác thải, chất thải ra môi trường.
Như vậy, mặc dù có các điều kiện tự nhiên thuận lợi, nhưng tiềm năng đó là
có giới hạn. Nếu coi đảo Lý Sơn như một hệ thống thu nhỏ với những mối quan hệ
và rằng buộc lẫn nhau, với đầy đủ các thành phần tự nhiên – xã hội trong nó và mọi
biến động của một hay nhiều thành phần (tự nhiên và nhân sinh) trong hệ thống
cũng sẽ làm thay đổi (tiêu cực hay tích cực) đến các thành phần khác trong hệ, thì
hiện nay, không những mối quan hệ giữa HST trên đảo và HST biển bị phá vỡ mà
ngay bản thân các HST cũng đang bị phá hủy, mất cân bằng và cạn kiệt nguồn lợi.
Đảo Lý Sơn đang đứng trước bờ vực hủy diệt. Vì vậy, điều cần làm là phục hồi, bảo
tồn và phát triển các HST biển, HST trên đảo cũng như sử dụng hợp lý nguồn lợi
tiến đến mục tiêu lâu dài là phát triển bền vững. Và giải pháp duy nhất để thực hiện
điều đó chính là phát triển kinh tế sinh thái.
3.2. Định hướng phát triển kinh tế sinh thái đảo Lý Sơn
3.2.1. Xây dựng khu bảo tồn biển

3.2.1.3. Phân vùng chức năng khu bảo tồn
Theo nội dung hướng dẫn của Nghị định số 57/2008/NĐ-CP ngày 02 tháng
05 năm 2008 về việc Ban hành Quy chế quản lý các Khu bảo tồn biển Việt Nam có
tầm quan trọng quốc gia và quốc tế, thì khu BTB Lý Sơn có thể được phân chia
thành ba phân khu chức năng sau đây:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: là vùng biển được bảo toàn nguyên vẹn,
được quản lý và bảo vệ chặt chẽ để theo dõi diễn biến tự nhiên của các loài động,
thực vật, các HST thủy sinh tiêu biểu, tính ĐDSH sẽ được bảo tồn.
- Phân khu phục hồi sinh thái: Là vùng biển được quản lý, bảo vệ để phục
hồi, tạo điều kiện cho các loài thủy sinh vật, các HST tự tái tạo tự nhiên. Trong
vùng phục hồi sinh thái, đơn vị tư vấn chia ra thành khu vực phục hồi sinh thái rạn

Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT

10


Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

san hô và khu vực phục hồi sinh thái rong biển, khu vực phục hồi sinh thái rạn san
hô kết hợp với rong biển và sự phát triển của quần xã sinh vật biển.
- Phân khu phát triển: Là phần diện tích còn lại của các Khu bảo tồn, được
tiến hành các hoạt động được kiểm soát: nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản,
DLST, đào tạo và nghiên cứu khoa học.
3.2.1.4. Khoanh vùng khu bảo tồn
Đề xuất thiết lập các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là những vùng có độ
ĐDSH cao, đa dạng về các HST rạn san hô và cỏ biển và quần xã sinh vật biển.
Khu vực âu cảng ở phía Đông và Tây đảo Lớn được cách ra để đưa vào vùng phát
triển phục vụ các hoạt động về cảng cá. Khu vực phía Bắc đảo hầu như không có
dân cư nên xây dựng vùng bảo vệ nghiêm ngặt có đường giới hạn là ngay sát đường


Vùng triều bảo vệ nghiêm ngặt

147

2

Vùng biển bảo vệ nghiêm ngặt

475

3

Du lịch lặn ngầm trong khu bảo vệ nghiêm ngặt

90

4

Phục hồi và bảo vệ san hô

5

Phục hồi và bảo vệ bào ngư

32

6

Phục hồi và bảo vệ hải sâm


12


Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

TT

Tên đối tượng

Diện tích
(ha)

11

Phát triển cơ sở hạ tầng, dân sinh, kinh tế và quốc phòng trên đảo

450

12

Phát triển du lịch trên đảo

200

13

Phát triển du lịch tắm biển

50


19

Vành đai bảo vệ

1500

20

Vùng biển phía ngoài khu bảo tồn

2500

Tổng cộng

9920

3.2.1.5. Đánh giá hiệu quả của khu bảo tồn
a. Hiệu quả về môi trường sinh thái
Việc thành lập khu BTB Lý Sơn sẽ phát huy hiệu quả về môi trường đối với
vấn đề quản lý nghề cá ngay trong khu bảo tồn, bên ngoài bảo tồn và nhiều lợi ích
khác như:
- Phục hồi và bảo tồn được đa dạng sinh học, đặc biệt là các HST điển hình
(san hô, cỏ biển) và sinh cảnh tự nhiên quan trọng đối với các loài thủy sinh; tạo ra
nơi cư trú, bảo vệ cho những loài bị khai thác mạnh, bị đe dọa và có nguy cơ tuyệt
chủng (bào ngư, cá mú, tôm hùm).
- Làm tăng mật độ sinh vật biển, tăng sinh khối và kích thước của sinh vật
cũng như tính đa dạng sinh học so với các vùng nằm ngoài của khu bảo tồn. Cấu
trúc tuổi, tiềm năng sinh sản lớn hơn và nhiều biến dị di truyền hơn;
- Bảo vệ đa dạng nguồn gen của những quần thể bị khai thác nhiều và làm

hoặc gián tiếp) thông qua việc phát triển du lịch và các dịch du lịch.
- Thu hút vốn đầu tư của các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong đầu tư
bảo tồn và phát triển du lịch dịch vụ.
c. Hiệu quả về xã hội
- Nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư địa phương về công tác bảo vệ
nguồn lợi thủy sản và tài nguyên biển;
- Gắn kết trách nhiệm, vai trò và kiến thức bản địa của người dân địa phương
trong các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật biển. Tiến hành
công tác đồng quản lý tài nguyên có sự gắn kết của cộng đồng
- Đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của người dân địa phương được nâng

Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT

14


Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

cao nhờ việc tăng thu nhập; Đồng thời, giảm bớt sức ép lên nguồn tài nguyên biển
đang dần cạn kiệt.
- Nâng cao vai trò của các tổ chức, đoàn thể trong công tác quản lý và bảo tồn
đa dạng sinh học biển
- Khu BTB Lý Sơn được thành lập sẽ góp phần quan trọng trong việc khẳng
định chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển, đảm bảo an ninh quốc phòng của địa
phương trên tuyến phòng thủ vùng Trung Bộ.
3.2.2. Định hướng phát triển trong khu bảo tồn biển
3.2.2.1. Dịch vụ du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng
Lý Sơn có đầy đủ các điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển loại hình
DLST, nghỉ dưỡng chữa bệnh. Và đây được xem là một thế mạnh trong định hướng
phát triển kinh tế của đảo trong thời gian tới.

- Dịch vụ lữ hành: phối hợp với đất liền tổ chức tốt các tour thu hút khách
chủ yếu từ khu kinh tế Dung Quất và các khu vực lân cận;
- Dịch vụ lưu trú: homestay.
- Dịch vụ vận chuyển: đầu tư tàu có trọng tải lớn, bảo đảm an toàn hàng hải,
xây dựng sân bay trực thăng trên núi Thới Lới.
- Dịch vụ thông tin: internet, dịch vụ truyền hình.
- Dịch vụ ẩm thực: đảm bảo cung cấp mọi lúc, mọi nơi.
DLST có tác động tích cực tới BTB và đem lại nguồn thu nhập cho khu BTB
và cộng đồng địa phương. DLST đòi hỏi các hoạt động bảo tồn phải có hiệu quả để
thu hút du khách tới tham quan. DLST đem lại nguồn tài chính phục vụ bảo tồn và

Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT

16


Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

cộng đồng địa phương. DLST thúc đẩy hoạt động giáo dục môi trường làm cho du
khách nhận thức được giá trị của thiên nhiên và tôn trọng khu vực họ tới tham quan
và những khu vực khác.
3.2.2.2. Phát triển nông – lâm nghiệp bền vững
- Đối với lâm nghiệp: tập trung khoanh nuôi 110 ha rừng, phủ xanh toàn bộ
diện tích có khả năng lâm nghiệp (khoảng 197ha) và nghiêm chặt phá rừng (khu
vực số 6, hình 3.2); trồng rừng sinh thái tại các ngọn núi của cả 2 đảo (khu vực số 2,
hình 3.2) phục vụ cho mục đích phát triển DLST dựa vào cộng đồng
- Đối với nông nghiệp: Việc trồng tỏi và hành tuy đã đem lại việc làm và thu
nhập kể cho người dân nhưng đây là đối tượng sử dụng nhiều nước nhất trên đảo
(chiếm 40% tổng nhu cầu sử dụng nước) đặc biệt là cây hành và tỏi. Ngoài ra, nông
nghiệp trồng tỏi đã khai thác cạn kiệt cát trên đảo cũng như mất đất trên các bề mặt

đặc biệt là những thiết bị dò tìm trên không, trên các thuỷ phi cơ loại nhẹ, hoặc
dùng máy bay trực thăng chuyên dụng. Từ những dự đoán, dự báo đã đưa ra, có thể
hướng dẫn tàu thuyền đón bắt và điều hành số lượng tàu thuyền hợp lý, tránh ít cá
mà lại dùng nhiều tàu thuyền, hoặc ngược lại. Điều này làm tăng hiệu quả của việc
đánh bắt xa bờ, giảm chi phí và thời gian cho các phương tiện hoạt động trên biển.
Trên đảo có thể xây dựng và nâng cấp các cơ sở hạ tầng dịch vụ nghề cá trên
biển nâng cấp các cơ sở sản xuất nước đá, cung cấp dầu, nhớt cho tàu thuyền, cung
cấp lương thực, thực phẩm, nước ngọt v.v... cho các đội tàu ra khơi. Xây dựng các
kho bãi và cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá, mở rộng và nâng cấp cảng cá tại xã An
Vĩnh thành cảng cá tổng hợp. Có thể tiến hành thành các cơ sở sửa chữa nhỏ để sửa
chữa những hư hỏng nhẹ của các tàu thuyền, thay thế những bộ phận cơ khí hoạt
động kém. Đảo Lớn có thể bố trí diện tích neo đậu tàu thuyền và dịch vụ sửa chữa
nhỏ tại phía Đông Nam xã An Hải, gần cảng quân sự (khu vực số 7, hình 3-22)
Các cơ sở hậu cần trên đảo còn có thể tiến hành các hoạt động tư vấn, dạy
nghề đi biển xa; truyền nghề, kinh nghiệm cho các thuyền viên trẻ; tổ chức trao đổi,
toạ đàm về kinh nghiệm đón bắt các luồng cá giữa các đội tàu, với các chuyên gia
trong, ngoài nước.
3.2.2.4. Dịch vụ giao thông trên biển, công ứng cho hoạt động khai thác
dầu khí
a. Dịch vụ giao thông trên biển
Với vị trí địa lý, địa thế thuận lợi trên biển, là nơi giao lưu của nhiều tuyến
giao lưu quốc tế trên biển với số lượng tàu thuyền hoạt động rất lớn, trên đảo Lý
Sơn đã xây dựng ngọn hải đăng và một số đèn biển quanh đảo làm nhiệm vụ hướng
dẫn tàu thuyền tham gia giao thông trên Biển Đông định vị vị trí của mình, đồng
thời hướng dẫn tàu tuyến ra vào cảng Dung Quất. Có thể hình thành trung tâm điều
hành dịch vụ tổng hợp hướng dẫn giao thông trên biển trên núi Thới Lới.
b. Dịch vụ cung ứng cho hoạt động khai thác dầu khí, giao lưu hàng hóa
Với vị trí phân bố gần các khu vực khai thác dầu khí trên biển và trên thềm
lục địa, đảo Lý Sơn có khả năng và tiềm năng để xây dựng các kho chứa các trang,


thác nguồn lợi hải sản ở các ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa và các ngư trường
khác. Trong 5, 10 năm tới, cần có những đầu tư mang tính toàn diện về phương tiện,
công cụ đánh bắt, đầu tư đào tạo nguồn nhân lực, kỹ thuật ngành sản xuất này sẽ
đưa lại cho địa phương hiệu quả kinh tế rất lớn.
Nghề đánh bắt xa khơi trên huyện đảo Lý Sơn tập trung vào:
- Đánh bắt cá ngừ đại dương
- Ngoài những loài cá ngừ đại dương như ngừ vằn, ngừ chù, ngừ vây vàng,

Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT

19


Cơ sở khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

ngừ bu, ngừ bò v.v... ở vùng biển khơi Trung Bộ và Biển Đông, còn có thể khai
thác các loài cá cờ phương Đông, cá nục heo, cá cờ ấn Độ, cá ó dơi Nhật Bản, cá
ngừ mắt to, cá kiếm cá mập đuôi dài. Tổng trữ lượng cá ở vùng này là gần 2,4 triệu
tấn, cho phép đánh bắt là gần 1,1 triệu tấn trong đó cá nổi chiếm 72% [9].
Khai thác nguồn lợi tôm, trong đó có các loài tôm giá trị kinh tế cao là tôm
he, hào, tôm vàng, tôm bộp, tôm hùm. Nguồn lợi mực có thể khai thác là các loài
mực ống Trung Hoa, mực thẻ, mực nang vân hổ và bạch tuộc.
Nguồn lợi hải sản ở khu vực khá phong phú, có thể tập trung vào khai thác
tiềm năng của các nhóm cá san hô, ốc đụn cái, bào ngư, cua, trai ngọc, hải sâm,... ở
các rạn san hô với nhưng quy hoạch đánh bắt hợp lý, bảo tổn nguồn gen và đa dạng
sinh học, sinh thái cảnh của rạn san hô, nhằm khai thác lâu dài.
3.2.4. Giải pháp thực hiện
Để các định hướng thực hiện được nhằm mục tiêu phát triển bền vững đảo
Lý Sơn, cần có các giải pháp cụ thể và cần phải thực hiện đồng bộ như sau:
3.2.4.1. Tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường

từ các tổ chức kinh tế, xã hội trong và ngoài nước phù hợp với mục tiêu phát triển
của huyện đảo và đảm bảo vấn đề an ninh, chủ quyền Quốc gia.
Chế độ chính sách đối với KBT biển cần được xây dựng phù hợp nhằm tăng
cường nhân lực khi đưa KBT đi vào hoạt động như các chế độ đãi ngộ với cán bộ
tham gia vào Ban quản lý KBT, thu hút sự tham gia của lực lượng thanh niên xung
phong và những quy chế phối hợp liên ngành giữa phòng Kinh tế hạ tầng nông
thôn, phòng Tài nguyên và Môi trường với lực lượng bộ đội Biên phòng, Cảnh sát
biển,...
Cần có những chính sách cương quyết đối với những hành vi vi phạm về bảo
vệ môi trường, vi phạm trong phạm vi KBT, khai thác trái phép tài nguyên,...
Về thể chế, tiếp tục đẩy mạnh và kiện toàn bộ máy quản lý hành chính các
cấp, đảm bảo thực hiện đầy đủ và hiệu quả cơ chế, chính sách đề ra.
3.2.4.4. Tài chính
Nguồn tài chính nhằm thực hiện các định hướng phát triển bao gồm:
- Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước: hàng năm, nguồn vốn này được cấp về
địa phương và địa phương cần có biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn vốn này, tránh
gây lãng phí, không hiệu quả.
- Nguồn vốn từ việc thu hút đầu tư nước ngoài: có rất nhiều các tổ chức nước
ngoài của các tổ chức phi chính phủ (NGOs), các ngân hàng đa quốc gia, tổ chức
môi trường, tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (quỹ Môi trường toàn cầu GEF,
Ngân hàng thế giới WorldBank, quỹ SIDA, quỹ phát triển ADB, chương trình môi
trường của Liên hiệp quốc UNEP, chương trình phát triển của Liên hiệp quốc
UNDP, tổ chức liên chính phủ về đại dương IOC, tổ chức Bảo tồn thiên nhiên quốc
tế IUCN,...), các tổ chức này thường hỗ trợ không hoàn lại cho các dự án phát triển
xã hội, bảo vệ môi trường; ngoài ra còn có nguồn vốn từ các chương trình hợp tác

Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT

21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status