cơ sở khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo lý sơn, tỉnh quảng ngãi - Pdf 24

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Lê Thị Hoa CƠ SỞ KHOA HỌC CHO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ
SINH THÁI TẠI ĐẢO LÝ SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC Hà Nội – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Luận văn thạc sỹ khoa học chuyên ngành Sinh thái môi trường “Cơ sở
khoa học cho định hướng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng
Ngãi” đã được hoàn thành vào tháng 12/2012. Để hoàn thành được luận văn,
trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Lê Đức Tố, giáo viên
hướng dẫn trực tiếp, người đã tận tình chỉ bảo cho việc định hướng cũng như
hoàn thiện luận văn và đồng thời tạo mọi điều kiện để tôi được tiếp cận với
những phương pháp nghiên cứu, tài liệu mới nhất phục vụ cho luận văn đạt
được kết quả tốt nhất.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Môi trường nói chung và các
thầy cô trong bộ môn Sinh thái Môi trường nói riêng, đặc biệt là PGS.TS Trần
Văn Thụy đã kịp thời giải đáp và tháo gỡ những khó khăn cho tôi trong quá trình
hoàn thành luận văn.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đặc
biệt là các bạn lớp K18 Cao học Khoa học Môi trường đã luôn giúp đỡ, động viên
tôi trong suốt quá trình làm luận văn để tôi hoàn thành tốt mọi công việc.
Xin chân thành cảm ơn! Học viên
Lê Thị Hoai
MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH VẼ v
BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN 4

3.1.2. Đặc điểm thổ nhƣỡng 26
3.1.3. Địa chất 27
3.1.4. Điều kiện khí tƣợng thủy văn 28
3.1.5. Điều kiện hải văn 32
3.1.6. Điều kiện về tài nguyên thiên nhiên 36
3.1.7. Nguồn lợi sinh vật vùng biển Lý Sơn 43
3.1.8. Đặc điểm hệ sinh thái đảo Lý Sơn 44
3.2. Đánh giá điều kiện kinh tế - xã hội 48
3.2.1. Dân số, lao động và phân bố dân cƣ 48
3.2.2. Văn hóa, giáo dục, y tế 51
3.2.3. Kinh tế 53
3.3. Hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên đảo Lý Sơn 62
3.3.1. Khai thác nƣớc ngầm và sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong
sản xuất nông nghiệp 62
3.3.2. Hiện trạng khai thác và sử dụng đất 64
3.2.3. Khai thác cát san hô 73
3.2.4. Khai thác và đánh bắt thủy sản bằng phƣơng pháp hủy diệt 74
3.4. Hiện trạng môi trƣờng đảo Lý Sơn 76
3.4.1. Hiện trạng môi trƣờng nƣớc 76
3.4.2. Hiện trạng chất thải rắn 82
3.4.3. Hiện trạng môi trƣờng đất 84
3.4.4. Hiện trạng môi trƣờng không khí 85 iii
3.5. Hiện trạng các hệ sinh thái đặc trƣng 86
3.5.1. Hiện trạng HST san hô 86
3.5.2. Hiện trạng HST thảm cỏ biển 86
3.6. Thuận lợi và thách thức 87
3.6.1. Thuận lợi 87

Bảng 3-16: Hiện trạng sử dụng đất năm 2010 đảo Lý Sơn 66
Bảng 3-17: Tên và diện tích khu vực chức năng [20] 94 v
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Mô hình kinh tế sinh thái ven biển ở CHLB Đức [15] 9
Hình 1.2: Khu kinh tế mới tại đảo Ngọc Vừng 11
Hình 1.3: Vườn “âm phủ” và ao thả cá tại làng cát Hải Thủy, Quảng Bình 13
Hình 1.4: Xây dựng cơ sở hạ tầng cho mô hình KTST hộ gia đình 14
Hình 1.5: Vườn thực nghiệm trong mô hình KTST hộ gia đình 15
Hình 1.6: Sơ đồ vị trí huyện đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi 16
Hình 1.7: Đảo Lý Sơn chụp từ vệ tinh và từ trên tàu cao tốc 17
Hình 3.1: Bản đồ đẳng sâu khu vực biển ven bờ Lý Sơn 25
Hình 3.2: Hệ thống dòng chảy biển tháng 2 và tháng 8 34
Hình 3.3: Hồ chứa nước trên đỉnh núi Thới Lới 37
Hình 3.4: Bản đồ hiện trạng nước ngầm đảo Lý Sơn [9] 39
Hình 3.5: Một số loài san hô tại đảo Lý Sơn 45
Hình 3.6: Cỏ biển đảo Lý Sơn 47
Hình 3.7. Tưới nước cho cánh đồng hành của người nông dân 63
Hình 3.8: Giếng khoan và máy bơm là điều hay bắt gặp trên những cánh đồng ở Lý Sơn 63
Hình 3.9: Làm đất 65
Hình 3.10: Cơ cấu sử dụng đất năm 2010 đảo Lý Sơn 67
Hình 3.11: Hiện trạng sử dụng đất đảo Lý Sơn năm 2010 [9] 67
Hình 3.12: Khai thác cát biển 74
Hình 3.13: Một con cá kìm vừa bị chết do thuốc nổ trôi dạt vào bờ 75
Hình 3.14: Vị trí lấy mẫu phân tích chất lượng nước [20] 76
Hình 3.15: Biểu đồ diễn biến giá trị pH 77
Hình 3.16: Biểu đồ giá trị DO trong nước 78
Hình 3.17: Biểu đồ giá trị TSS trong môi trường nước 80

kinh tế hội nhập toàn cầu, Biển Đông Việt Nam là cửa mở lớn giao lưu với các
nước khu vực và quốc tế.
Hàng trăm năm nay, nhân dân Việt Nam đã gắn bó với biển, khai thác tiềm
năng biển. Biển, không chỉ nuôi sống cộng đồng dân cư ven biển mà còn cung cấp
các sản phẩm của biển cho cả dân tộc Việt Nam. Trong thời kỳ kinh tế hội nhập
quốc tế, lợi thế về biển là điều kiện, là thời cơ Việt Nam làm giầu từ biển, mạnh lên
từ biển. Phát triển kinh tế biển phải có chiến lược. Khoa học và công nghệ phải thực
sự là động lực phát triển của lĩnh vực liên quan đến biển.
Hệ thống đảo ven bờ có vị trí là tiền đồn của đất nước, là cầu nối để vươn ra
biển xa. Mỗi đảo là những hệ sinh thái (HST) biển đa dạng học cao, phong phú về
nguồn lợi biển, đồng thời là các trung tâm nuôi dưỡng, phát triển nguồn gen sinh vật
cho cả vùng biển. Khí hậu hải dương trong lành, môi trường sạch và yên tĩnh,
không hoặc ít chịu tác động của lục địa là một ưu thế của đảo biển. HST đảo biển có
nhiều lợi thế cho phát triển du lịch, nghỉ dưỡng, song cũng có những thách thức,
diện tích đảo có hạn, nguồn nước ngọt không phong phú, môi trường dễ bị tổn
thương, HST kém bền vững, cần nghiên cứu phát triển bền vững và phát triển kinh
tế sinh thái là một hướng đi phù hợp. Trong những năm cuối của thế kỷ 20, kinh tế
du lịch sinh thái (DLST) biển đảo nổi lên như một điểm nhấn của kinh tế hội nhập
đã đem lại phồn vinh cho các quốc gia có biển, trong đó có Việt Nam.
Lý Sơn hay còn gọi là Cù Lao Ré là đảo ven bờ nằm ở miền Trung Việt
Nam, cùng với đảo Cù Lao Chàm là 2 đảo có tầm quan trọng chiến lược của miền
Trung Việt Nam, nằm trên con đường biển từ Bắc vào Nam, ngay cửa ngõ khu kinh
tế Dung Quất, khu kinh tế trọng điểm miền Trung. Đảo Lý Sơn là một HST nhiệt
Cơ sở khoa học cho định hƣớng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT
2
đới rất đặc trưng, phát triển trên nền đá bazan và có hệ động thực vật biển phong
phú, tính đa dạng sinh học cao, cảnh quan hùng vĩ, giàu tài nguyên.
Với diện tích khoảng 10km
2

Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên, phát hiện tiềm năng
phát triển và những hạn chế trong phát triển của đảo Lý Sơn.
Nhiệm vụ 2: Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội trên đảo.
Nhiệm vụ 3: Đánh giá hiện trạng môi trường.
Nhiệm vụ 4: Đưa ra được những kết luận sau
- Những thuận lợi và thách thức, chọn con đường hủy diện hay tồn tại và
phát triển;
- Xu thế thời đại và con đường phải chọn để vươn lên làm giầu đó chính là
kinh tế sinh thái;
- Thành lập khu bảo tồn biển nhằm bảo tồn các HST trên biển và trên đảo;
phân khu chức năng trong khu bảo tồn; phát triển kinh tế sinh thái - dịch vụ cao cấp;
- Giải pháp cụ thể.
Bố cục của luận văn không kể mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo
và phụ lục gồm 3 chương:
Chương 1: Tô
̉
ng quan;
Chương 2: Đối tượng và phương pha
́
p nghiên cư
́
u;
Chương 3: Kết quả nghiên cứu.
Sau đây là chi tiết của luận văn.

Cơ sở khoa học cho định hƣớng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT
4
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN

nguồn tài nguyên thiên nhiên như khoáng sản.
- Nguồn vốn xã hội đề cập đến những lợi ích tích cực đã đạt được thông qua
tương tác giữa con người với con người trong xã hội (bạn bè, gia đình, nhóm xã
hội) và các cấu trúc chung của xã hội (ngôn ngữ, các tổ chức, hệ thống giáo dục,
pháp luật). Nguồn vốn xã hội đóng góp lớn trong đời sống con người, nhưng rất khó
để định lượng về tiền tệ.
- Nguồn vốn con người: là tổng hợp sức khỏe con người, kinh nghiệm cá
nhân, giáo dục, tài năng, kỹ năng và lợi ích. Nguồn vốn con người (và nguồn vốn xã
hội) không thể đạt được tối đa trừ khi có công bằng xã hội, khi sự tiếp cận với
những cơ hội mà xã hội mang lại là như nhau.
1.1.2. Mục tiêu
- Duy trì đa dạng sinh học;
- Đảm bảo phát triển bền vững các HST tại khu vực và có sức lan tỏa;
- Đảm bảo sự phát triển bền vững hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường
sinh thái.
1.1.3. Cách tiếp cận
- Ứng dụng công nghệ cao trong khai thác tài nguyên thiên nhiên nhằm giảm
chi phí, đảm bảo lợi ích kinh tế cao và bền vững. Đối với đảo biển ven bờ nhiệt đới
thì KTST, trong đó phát triển DLST là mục tiêu chủ đạo;
- Tiếp cận sinh thái, tổng hợp: biển là HST dễ bị tổn thương, kém bền vững,
phụ thuộc nhiều vào các quá trình tự nhiên và đặc biệt nhạy cảm với các hoạt động
nhân sinh. Cân bằng sinh thái đảm bảo duy trì các chức năng, giá trị, bảo vệ được
tài nguyên – thiên nhiên của biển cũng là nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền
vững. Để đạt được mục tiêu này, mọi hoạt động về khai thác, sử dụng HST biển
phải được tiến hành trong khả năng chịu đựng và phục hồi của các HST biển. Việc
Cơ sở khoa học cho định hƣớng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT
6
quản lý bền vững biển phải dựa trên tiếp cận sinh thái học (ecosystem approach).
Mặt khác, để đánh giá những mâu thuẫn lợi ích trong phát triển đảo biển cần phải có

ích và là duy nhất cho phát triển kinh tế xã hội ở đảo biển. KTST giúp cải tạo các
HST nhạy cảm, kém bền vững ở đảo biển thành các HST bền vững hơn, giảm mức
độ suy thoái môi trường, đồng thời nâng cao được đời sống cho người dân. KTST
dựa trên những hiểu biết về các quy hoạt động của các HST, những kiến thức bản
địa về trồng trọt, chăn nuôi kết hợp với những kiến thức khoa học hiện tại. Đối với
đảo biển, công tác điều tra nghiên cứu đánh giá nguồn vốn tự nhiên đảo biển phải
tuân thủ quy định của Tổ chức Hải dương học liên chính phủ (IOC) đã tổng kết kinh
nghiệm phát triển kinh tế của các quốc gia có đảo biển phát triển, đó là: chất lượng
môi trường trên đảo và nhất là vùng nước xung quanh đảo, dự đoán tai biến thiên
nhiên tiềm ẩn và có kế hoạch phòng tránh, bảo vệ và phát triển các HST, sử dụng
hợp lý nguồn lợi sinh vật.
Chức năng của HST phải được đánh giá trong những điều kiện tự nhiên cụ
thể (ở đây là đảo biển) và ngưỡng suy giảm không phục hồi của các HST phụ thuộc
vào nhận thức về chức năng của chúng. KTST đảo biển là sự khai thác đồng thời
đan xen hỗ trợ lẫn nhau HST rừng, HST dưới biển, DLST và ngư nghiệp, trong đó
DLST là động lực phát triển bền vững. Đảo biển có nhiều lợi thế về sinh thái cảnh
quan và dịch vụ nhưng các HST đảo biển lại kém bền vững. Vì vậy phát triển KTST
là con đường duy nhất.
1.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.2.1.1. Lịch sử phát triển
Lợi ích về sinh thái và kinh tế sớm được nhận ra vào những năm 1960 và
được nghiên cứu bởi các nhà khoa học Kenneth Boulding và Herman Daly, nhưng
vấn đề này lần đầu tiên được đề cập tại cuộc họp diễn ra vào những năm 1980. Cụ
Cơ sở khoa học cho định hƣớng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT
8
thể là tại một hội nghị được tổ chức vào năm 1982 tại Thụy Điển có sự tham dự của
những người sau này sẽ là nòng cốt trong lĩnh vực nghiên cứu về kinh tế sinh thái,
bao gồm Robert Costanza, Herman Daly, Charles Hall, Ann-Mari Jansson, Bruce

nắng trên các thảm cỏ, thưởng thức cái thơm của hương “đồng nội” và cái mát lành
của gió biển, quên đi những mệt nhọc của những ngày làm việc căng thẳng. Đây là
công trình nghiên cứu của Viện Đại học sinh thái Kill chuyên nghiên cứu, phục hồi
các HST và phát triển kinh tế-sinh thái vùng ven biển tây bắc nước Đức.
b. Mô hình du lịch biển đảo tại các quốc gia ven biển
Du lịch biển đảo là một thể thống nhất, nước biển, bờ biển, đáy biển, đảo
biển, các HST biển và khí hậu biển. Hiện nay, dải ven biển vĩ độ thấp và vừa đều là
các điểm nóng du lịch. Các quốc gia ven biển rất coi trọng việc khai thác nguồn tài
nguyên du lịch biển ven bờ. Hoạt động du lịch biển luôn đáp ứng 3 nhu cầu của con
người mà các loại hình khác không thể có được: sinh tồn, hưởng thụ và phát triển.
Các nước phát triển đều là quốc đảo, bán đảo hoặc quốc gia ven biển như Nhật Bản,
Hà Lan, Iceland, Thụy Điển. Đảo biển có nhiều ưu thế, khí hậu hải dương trong
lành, cảnh quan thiên nhiên đa dạng, phong phú. Nhiều đảo trên thế giới đã phát
triển thành thánh địa du lịch nổi tiếng như Tahiti, nằm ở khu vực nam Thái Bình
Dương, có rặng dừa xanh ngút ngàn, nước biển xanh như ngọc, Bali (Indonexia),
Hải Nam (Trung Quốc), Hawai (Mỹ) là những thiên đường của du lịch. Nhưng
không đâu giống như đảo Malta nằm trong Địa Trung Hải, có diện tích 316km
2
, chỉ
bằng 1/2 đảo Phú Quốc, có đỉnh núi cao 253m, thiếu nước ngọt nghiêm trọng, thực
vật kém phát triển, hàng ngày phải vận chuyển nước tới từ Italy và từ Pháp. Do
Cơ sở khoa học cho định hƣớng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT
10
nhận thức được vị trí quan trọng của đảo, người ta đã “biến không thành có” xây
dựng Malta thành trung tâm du lịch nổi tiếng Địa Trung Hải, là nơi tấp nập các hội
nghị quốc tế lớn và nổi tiếng thế giới bởi các hàng thủ công mỹ nghệ bằng vàng và
đồng, thu nhập của cộng đồng dân cư vào loại cao trên thế giới.
Quần đảo Chu Sơn, một thắng cảnh du lịch nghỉ ngơi dạng quần đảo trên
một vùng biển rộng lớn của Trung Quốc có tới 1.339 hòn đảo được mang danh là

KTST trong đó phát triển bền vững là xu thế tất yếu của thời đại.
1.2.2.2. Một số mô hình kinh tế sinh thái tại Việt Nam
a. Mô hình kinh tế mới ở đảo Ngọc Vừng, Quảng Ninh
Trong những năm 80 của thế kỷ trước, nhà nước ta đã có chủ trương di dân ra
các đảo để phát triển kinh tế, là chủ trương đúng đắn, song các giải pháp thực hiện
không trên cơ sở khoa học sinh thái đảo, đã bê nguyên mô hình xóa đói giảm nghèo
trên đất liền ra đảo, để lại những hậu quả nặng nề. Mỗi hộ dân di cư ra đào gọi là hộ
“kinh tế mới” được trợ cấp một năm lương thực, một khoản tiền nhỏ nhoi 4 -5 triệu
đồng làm vốn và một căn hộ 30m
2
trên khuôn viên đất cát rộng khoảng 80 - 100m2
(hình 1.2). Nguồn vốn sản xuất không rõ ràng, nguồn vốn con người lại là đội quân
dân trí thấp, không có kỹ thuật, không vốn liếng. Sau một vài năm, người dân nơi
đây do không có các dịch vụ và điều kiện phát triển kinh tế nên đã trở về đất liền.

Hình 1.2: Khu kinh tế mới tại đảo Ngọc Vừng
Dân địa phương sống ở trên đảo đã có thâm niên hàng chục năm thậm chí
trăm năm, là những người đầu tiên khai phá đất này nên họ có điều kiện sinh thái
thuận lợi hơn, có ruộng có vườn, có nghề thu lượm đặc sản bãi triều kiếm tiền, tuy
vậy vẫn là dân nghèo. Chúng ta được gì từ thực trạng này, ngoại trừ các đảo nằm
Cơ sở khoa học cho định hƣớng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT
12
trong ngư trường khai thác hải sản truyền thống như Bạch Long Vĩ, Hòn Mê, Phú
Qúy, Phú Quốc, nghề khai thác hải sản của người dân sống trên các đảo không đảm
bảo cuộc sống tối thiểu, thường phải kết hợp nông nghiệp. Dân sống trên đảo phải
có vườn, có rừng và có nghề biển.
b. Mô hình làng kinh tế sinh thái vùng cát ven biển Hải Thủy, Quảng
Bình
Quảng Bình là một trong những tỉnh miền Trung Việt Nam có một dải cát

13 Hình 1.3: Vƣờn “âm phủ” và ao thả cá tại làng cát Hải Thủy, Quảng Bình
c. Mô hình phát triển kinh tế sinh thái và du lịch thung lũng Đồng Chùa,
đảo Cù Lao Chàm
Mô hình này là mô hình thử nghiệm nằm trong Đề tài của chương trình Khoa
học và Công nghệ biển KC 09-12 của GS. TS. Lê Đức Tố, GS.TSKH Lê Đức An,
PGS.TS. Đặng Văn Bào.
Cù Lao Chàm là cụm đảo gồm 8 hòn đảo lớn nhỏ, khác nhau về sinh thái.
Tuy nhiên, có một đặc điểm chung là thảm thực vật ở đây khá nghèo nàn, khô cằn,
lớp thổ nhưỡng kém phát triển. Nghiên cứu cho thấy, để phát triển kinh tế bền vững
trên đảo Cù Lao Chàm, cần thiết phải phát triển KTST, trong đó DLST là chủ đạo.
Đảo Cù Lao Chàm với những đặc thù về sự phong phú của các HST biển,
HST đồi núi trên đá granit và các HST nông nghiệp dọc trũng nhỏ hẹp giữa núi,
chúng cần được quy hoạch, khôi phục lại nhằm mục tiêu bảo tồn và tham quan. Một
trong những khu mô hình KTST được lựa chọn là khu vực thung lũng Đồng Chùa.
Tại đây, các nhà khoa học đã xây dựng một mô hình kinh tế sinh thái quy mô
hộ gia đình với nhà nghỉ và công viên cây cảnh với các loài quý tại đảo. Đây sẽ là
điểm nhấn về du lịch tại Cù Lao Chàm:
- Diện tích dành cho xây dựng nhà ở thoáng mát rộng 300 m
2
, trên đó đã xây
dựng một nhà nghỉ, một nhà ở của chủ và các công trình phụ (hình1.4).
Cơ sở khoa học cho định hƣớng phát triển kinh tế sinh thái tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Lê Thị Hoa – K18 CHKHMT
14

Hình 1.4: Xây dựng cơ sở hạ tầng cho mô hình KTST hộ gia đình
- Trong vườn thực nghiệm, tiến hành thu thập và khôi phục các loài cây đặc

- Từ 109
o
05’04’’ đến 109
o
14’12’’ kinh độ Đông

Hình 1.6: Sơ đồ vị trí huyện đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi
Vị thế này của Lý Sơn đưa huyện đảo trở thành đơn vị hành chính cấp tiền
tiêu của đất nước án ngữ về phía Đông miền Trung Trung Bộ, nằm trên con đường
ra biển Đông của khu vực kinh tế trọng điểm miền Trung qua cửa ngõ Dung Quất,
bao quát toàn bộ tuyến đường giao thông trên biển Đông từ Bắc vào Nam và ngược
lại

Trích đoạn Nguồn lợi sinh vật vùng biển Lý Sơn Đặc điểm hệ sinh thái đảo Lý Sơn Văn hĩa, giáo dục, y tế Kinh tế Hiện trạng khai thác và sử dụng đất
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status