Đa dạng sinh học cá và mối quan hệ của chúng với chất lượng môi trường nước sông cầu thuộc địa phận huyện việt yên, tỉnh bắc giang - Pdf 36

MỞ ĐẦU
Sông Cầu hay còn gọi là sông Như Nguyệt hay sông Thị Cầu, là con
sông chảy qua 6 tỉnh Bắc Cạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc
Ninh và Hải Dương. Nó là con sông quan trọng nhất trong hệ thống sông Thái
Bình. Lưu vực sông Cầu là một trong những lưu vực sông lớn ở Việt Nam, có
vị trí địa lý đặc biệt, đa dạng và phong phú về tài nguyên cũng như về lịch sử
phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh nằm trong lưu vực của Nó. Sông Cầu
có nhiều vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, giao thông vận tải,
thủy điện, thủy lợi.v.v…Ngoài ra, nó còn cung cấp một lượng thực phẩm khá
phong phú, đặc biệt là nguồn lợi cá.
Những năm trước, lưu vực sông Cầu có sản lượng khai thác cá khá cao,
với thành phần loài đa dạng, phong phú, có nhiều loài cá mang lại giá trị kinh
tế cao. Tuy nhiên trong những năm gần đây, môi trường nước ở lưu vực sông
Cầu bị ô nhiễm đã làm suy giảm đến nguồn tài nguyên thiên nhiên, phá hủy
môi trường sống của nhiều loài thủy sinh, đặc biệt là các loài cá. Nguyên nhân
chính gây ra tình trạng này là do có rất nhiều lượng chất thải đổ vào sông Cầu
như: chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp, chất thải sinh hoạt, chất thải từ các
bệnh viện, chất thải rắn và các loại thuốc bảo vệ thực vật.v.v…Đặc biệt là
hiện tượng khai thác cát, sỏi diễn ra hàng ngày trên sông Cầu, mạnh mẽ nhất
là khu vực các làng Đông Tiến, Nam Ngạn gần cầu Bắc Ninh cũ thuộc huyện
Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
Chính vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đa
dạng sinh học cá và mối quan hệ của chúng với chất lượng môi trường
nước sông Cầu thuộc địa phận huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang”, với
mong muốn đánh giá đúng hiện trạng thành phần loài cá và xem xét mối quan
hệ của chúng với chất lượng môi trường nước. Từ đó nhằm giúp chính quyền

1


địa phương có những giải pháp hữu hiệu để bảo tồn ĐDSH và phần nào cải

Hệ thống sông Thái Bình là tên gọi của một hệ thống sông gồm sông
Thái Bình cùng các phụ lưu và chi lưu của nó. Các phụ lưu gồm sông Cầu,
sông Thương và sông Lục Nam ở thượng nguồn với tổng chiều dài khoảng
1.650km và diện tích lưu vực khoảng 10.000km2. Ngoài ra, hệ thống sông này
còn nhận một phần dòng chảy của sông Hồng trước khi đổ ra biển Đông [30].
- Hệ thống sông Cửu Long – Đồng Nai:
Sông Mekông là con sông lớn nhất ở Đông Dương, bắt nguồn từ dãy
Tuyết Sơn, Tây Tạng, tại độ cao trên 5.000m, với chiều dài dòng chính là
4.350km (ở Trung Quốc 2.000km, Lào 1.500km), chảy qua lãnh thổ nước ta
trên một đoạn dài 220km. Diện tích lưu vực sông là 810.000km 2, phần ở nước

3


ta 64.300km2. Sông rất nhiều thác ghềnh, nhưng từ Kratie trở xuống, sông
chảy vào vùng đồng bằng thấp một cách êm đềm [30].
Phụ lưu chính của sông Mêkông là Nậm Hu, Nậm Ngạn, Nậm Nhiếp,
Nậm Kha Đinh, Xê Băngphai, Xê Băng Hiên, Xê San (tả ngạn), Nậm Kok,
Xế Mun, Xêreepoc (hữu ngạn). Từ Phom Penh, sông có 3 chi lưu: sông
Tonglesap đưa nước vào biển Hồ, sông Tiền và sông Hậu đưa nước ra biển
qua chín cửa mà ta quen gọi là sông Cửu Long [30].
1.1.2. Đặc điểm đăc trưng của hệ sinh thái sông
1.1.2.1. Điều kiện sống trong sông
Sông là thủy vực nước chảy tiêu biểu với đặc điểm là khối nước luôn
chảy theo một chiều nhất định, từ thượng lưu tới hạ lưu, do sự chênh lệch về
độ cao so với mặt nước biển của dòng sông. Dòng chảy của một con sông khi
nước đầy giữa hai bờ sông gọi là dòng chảy nền. Khi nước cạn, dòng chảy của
một con sông thu vào dòng chảy gốc, cách xa hai bờ sông. Bãi đất cạn hở ra
trong mùa nước cạn nằm giữa bờ sông và dòng chảy gốc gọi là bãi sông, có
thể phân thành nhiều tầng.

trước hết là sự thay đổi nguồn nước theo mùa, chế độ nước ngầm. Mực nước
trên sông chênh lệch nhau khá lớn giữa mùa lũ và mùa kiệt, có nơi đạt đến
5 – 15m.
Nhiệt độ nước trong sông phụ thuộc chủ yếu vào nhiệt độ của nước cấp
cho sông, vào khí hậu vùng mà dòng nước chảy qua và những đặc tính thủy
động học khác nhau của dòng chảy. Sự dao động nhiệt theo mùa trong sông
nằm trong giới hạn 0 – 300C, dao động ngày đêm 8 - 100C (vùng đồng bằng).
Độ trong của nước sông phụ thuộc chính vào hàm lượng các chất chứa
trong nước. Trong nước sông muối cacbonat có ý nghĩa quan trọng hơn là các
ion khác như sulphat, nitrat, muối photpho, canxi, sắt, mangan…

5


Lượng các chất hữu cơ phụ thuộc vào đặc tính của dòng chảy qua các
vùng khác nhau và tiếp nhận sự rửa trôi của các lưu vực lân cận.
Chế độ khí của sông nói chung thuận lợi cho đời sống sinh vật. Lượng
oxy giảm từ thượng lưu tới hạ lưu [30].
1.1.2.2. Sự phân bố của các quần xã sinh vật ở sông
Những quần xã sinh vật sống trong dòng chảy, nơi nước luôn vận động
có nhiều nét đặc trưng:
- Thành phần loài rất đa dạng do đa dạng về sinh cảnh (dạng hình, vị trí
địa lí của sông, tốc độ và mực nước, đặc tính của nền đáy,…). Hơn nữa, sinh
vật trong hệ thống sông bao gồm nhiều nhóm loài bản địa và những loài di
nhập từ nơi khác đến (từ các thủy vực nước đứng của nội địa và từ biển). Khi
những loài từ nơi khác rơi vào sông, nhiều loài trong chúng bị chết, một số
khác còn lại thích nghi với đời sống dòng chảy đã tồn tại và phát triển, đôi khi
khá hưng thịnh [30].
Từ thượng nguồn tới cửa sông, tính đa dạng về thành phần loài, sự phát
triển về số lượng, sinh vật lượng của quần xã sinh vật tăng dần, đồng thời có

nhập vào như các loài thuộc các giống Sinocalanus, Schmackeria,
Cyathura.v.v.. [31].
- Nekton: Sinh vật tự bơi là thành phần quan trọng trong các quần loại
sinh vật ở trong tầng nước, bao gồm các động vật có kích thước lớn và phần
lớn là các đối tượng khai thác. Sinh vật tự bơi đều là các sinh vật tiêu thụ ở
các bậc dinh dưỡng khác nhau, có cấu tạo cơ thể phức tạp, có cơ quan vận
động chủ động, tích cực. Sinh vật tự bơi ở sông gồm có cá, bò sát, ở nước và
động vật có vú ở nước. Các loài cá sông có thể là cá thường trú, có thể là cá từ
biển di nhập vào từng thời gian để sinh sản. Thành phần khu hệ cá sông
thường không đồng nhất từ thượng lưu về hạ lưu, ở mỗi quãng sông có một
khu hệ cá đặc trưng. Vùng thượng lưu sông Hồng có nhiều loài cá đặc trưng

7


cho vùng núi như: cá Bỗng, cá Sỉnh, cá Hỏa, cá Chát, cá Lòa.v.v., trong khi
đó ở vùng hạ lưu, khu hệ cá gồm các loài phổ biến ở vùng đồng bằng (cá
Chép, cá Diếc, cá Mè, cá Chày.v.v.) và các loài cá từ biển di cư vào như (cá
Mòi, cá Cháy.v.v.). Một số loài cá khác phân bố rộng từ thượng lưu tới hạ lưu
sông như cá Mương, cá Chạch, cá Măng, cá Nheo.v.v.[31].
- Benthos: Thành phần sinh vật sống ở nền đáy bao gồm cả sinh vật
sản xuất, tiêu thụ, và phân hủy. Sinh vật tiêu thụ ở đây được đặc trưng bởi
những nhóm động vật ăn mùn bã sinh vật hoặc bùn đáy. Ở những vùng nước
sâu không còn ánh sáng thì thực vật không còn nữa và sinh vật đáy chỉ còn là
những sinh vật tiêu thụ (động vật) ở các bậc dinh dưỡng khác nhau và sinh vật
phân hủy (vi khuẩn).
+ Theo vị trí nơi ở thì benthos được chia thành: sinh vật sống trên mặt
nên đáy (epifauna) và nhóm sống chui xuống nền đáy (infauna).
+ Theo tính ưa nền đáy thì benthos được chia thành: sinh vật ưa đáy
bùn (pelophile), sinh vật ưa đáy cát (psammophile), sinh vật ưa đáy đá

Điều đó cho phép giảm sức cản của nước đến mức tối thiểu.
- Cơ thể dẹp: Nhiều loài động vật sống ở nơi nước chảy nhanh không
chỉ có cơ thể dạng hình thoi nhọn mà còn dẹp nữa. Điều đó cho phép chúng
dễ dàng ẩn náu vào trong khe, kẽ và vào phía dưới các tảng đá. Ví dụ như
thiếu trùng phù du và thiêu thân.
- Tính hướng dương theo dòng chảy: Động vật sống ở sông luôn luôn
định hướng ngược với dòng chảy. Đó là loại hình tập tính bẩm sinh.
- Tính hướng tiếp xúc dương: Nhiều động vật ở sông có tập tính bẩm
sinh đặc trưng là bám chặt vào bề mặt hoặc duy trì tiếp xúc chặt chẽ với bề
mặt. Nếu như thả một nhóm thiếu trùng thiêu thân vào lọ trơn thì chúng tìm

9


bám ngay vào các que hoặc mảnh vụn thực vật nằm ở đáy. Nếu như không có
bề mặt tiếp xúc thích hợp thì chúng bám vào nhau [3].
1.2. Đa dạng sinh học cá và ý nghĩa của nó trong các hệ sinh thái nước
1.2.1. Đa dạng sinh học cá
- Khái niệm về Đa dạng sinh học:
Thuật ngữ đa dạng sinh học (biodiversity) ra đời từ những năm 80 của
thế kỷ trước và được hiểu là “sự phồn vinh của sự sống trên Trái Đất, là hàng
triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa trong các loài,
là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường “
(WWF, 1989).
McNeely et al. (1991) cho rằng, “Đa dạng sinh học là một khái niệm
chỉ tất cả động vật, thực vật và vi sinh vật, những đơn vị phân loại dưới chúng
và các hệ sinh thái mà sinh vật là những đơn vị cấu thành”. Đó là một thuật
ngữ bao trùm đối với mọi mức độ biến đổi của thiên nhiên, gồm cả số lượng
và tần suất xuất hiện của các hệ sinh thái, của loài hay gen trong một tập hợp
đã biết”.

ở các HST nước. Làm cho không một loài nào đó phát triển hoặc là suy giảm
số lượng một cách quá mức.
- Là nguồn gen dự trữ.
- Cung cấp nguồn thực phẩm phong phú cho con người. Trong đó phải kể
đến HST sông cung cấp thường xuyên rất nhiều loại cá nước ngọt có chất
lượng cao về thịt như (cá Anh Vũ, cá Chép, cá trôi, cá chuối, cá Trắm…).
- Cung cấp nguồn dược liệu. Ở HST sông có một số loài cá có thể dùng
làm thuốc. Ví dụ: mật cá Trắm đen có thể làm thuốc sát trùng [36].

11


- Thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ của con người do một số loài được nuôi
cảnh.
- Phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học để phát triển nghề cá và bảo
tồn ĐDSH; đồng thời có thể sử dụng chỉ số đa dạng sinh học cá (index of
biotic intergrity - IBI) để việc đánh giá chất lượng môi trường nước.
- HST nước có ĐDSH cá có thể phát triển làm nơi du lịch. Ví dụ: ao cá
Bác Hồ, ở Thanh Hóa có suối cá thần Cẩm Lương – Cẩm Thủy thu hút rất
nhiều khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm, quan [10,24].
1.3. Quan hệ của Đa dạng sinh học cá với một số yếu tố sinh thái chính ở
HST sông
Các nhân tố vô sinh của môi trường sống bao gồm các yếu tố lý, hóa,
cơ học của môi trường nước và nền đáy cùng với quá trình biến đổi của chúng
trong đời sống thủy vực. Ở hệ sinh thái sông có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng
đến ĐDSH cá như: đặc tính cơ lý học (áp lực nước, độ nhớt, ánh sáng, nhiệt
độ,…), đặc tính thủy học (chuyển động của khối nước trong thủy vực), đặc
tính thủy hóa học (chất hòa tan, chất vẩn, pH) của khối nước, đặc tính nền
đáy, các yếu tố hữu sinh. Trong phạm vi luận văn này chúng tôi chỉ đề cập
đến các yếu tố chính ảnh hưởng mẽ tới ĐDSH cá: độ trong, nhiệt độ, pH, chất

Cùng với nồng độ muối, chế độ nhiệt trong thủy vực quyết định sự phân bố
theo vĩ độ, theo thủy vực của thủy sinh vật nói chung và cá nói riêng [3,31].
- Độ muối:
Độ mặn hay độ muối được ký hiệu S‰ (S - salinity - độ mặn) là tổng
lượng (tính theo gram) các chất hòa tan chứa trong 1 kg nước. Đối với các
loài thủy sinh vật, độ muối là một nhân tố sinh thái quan trọng vì nó ảnh
hưởng lớn tới các yếu tố khác như: pH, nhiệt độ, hàm lượng oxy hòa tan, các

13


nguồn thức ăn .v.v…[49], đồng thời có vai trò xác định giới hạn phân bố của
các loài.
- Độ dẫn:
Độ dẫn điện của nước liên quan đến sự có mặt của các ion trong nước.
Các ion này thường là muối của kim loại như muối NaCl, KCl và các iôn
SO42-, NO3- , PO43- v.v... Tác động ô nhiễm của nước có độ dẫn điện cao
thường liên quan đến tính độc hại của các ion hòa tan trong nước. Để xác định
độ dẫn điện, người ta thường dùng các máy đo điện trở hoặc cường độ dòng
điện [49].
1.3.2. Quan hệ với các yếu tố thủy hóa
- Độ pH:
Trong thành phần nước thiên nhiên, ion H+ có hàm lượng rất nhỏ,
nhưng có một vai trò rất quan trọng. Độ pH trong nước phụ thuộc vào nhiều
yếu tố và ảnh hưởng đến hàm lượng của nhiều thành phần khác. Độ pH phụ
thuộc vào hàm lượng muối hữu cơ đáy hồ và khả năng thủy phân của các
muối kim loại nặng. Ở các thủy vực nội địa nước thay đổi từ axit (pH từ 3,4 –
6,95), trung tính (pH từ 6,95 – 7,3), kiềm (pH từ 7,3 – 10) [31].
Độ pH trong thủy vực có thể biến đổi theo ngày đêm, do biến đổi của
hàm lượng CO2 trong nước trong quá trình quang hợp. Độ pH cũng thay đổi

như phần triệu (ppm) [49].
- Hàm lượng oxy sinh hóa (BOD):
Nhu cầu ôxy hóa sinh học hay nhu cầu ôxy sinh học (ký hiệu: BOD Biochemical (hay Biological) Oxygen Demand), là một chỉ số được sử dụng
để xác định xem các sinh vật sử dụng hết ôxy trong nước nhanh hay chậm
như thế nào. Nó được sử dụng trong quản lý và khảo sát chất lượng nước

15


cũng như trong sinh thái học hay khoa học môi trường. BOD không là một
thử nghiệm chính xác về mặt định lượng, mặc dù nó có thể coi như là một chỉ
thị về chất lượng của nguồn nước [49].
- Các chất hòa tan trong nước:
Chất hòa tan trong nước thiên nhiên bao gồm nhiều thành phần khác
nhau. Có thể chia làm ba nhóm lớn là: chất vô cơ hòa tan, chất hữu cơ hòa tan
và chất khí hòa tan [31].
 Chất vô cơ hòa tan: Chất vô cơ hòa tan trong tự nhiên gồm 3 thành
phần:
+ Thành phần muối cơ bản là thành phần chủ yếu của muối vô cơ hòa tan
trong nước thiên nhiên. Trong nước ngọt thành phần này chiếm tới 90 – 95%,
trong nước có nồng độ muối cao, tới 99%. Thành phần muối cơ bản này gồm
các muối clorit, sunfat cacbonat, hidrocacbonat của Na, Mg, Ca và K. Thành
phần này tồn tại trong nước thiên nhiên dưới dạng các ion chủ yếu: Cl, SO 4,
HCO3, CO3, Na, K, Mg, và Ca.
+ Các nguyên tố tạo sinh (biogen) gồm các hợp chất vô cơ và hữu cơ hòa
tan của N, P và Si, là các chất cần thiết cho sự tạo thành cơ thể sống. Thuộc
vào nhóm này còn có thể kể cả một số muối khác như Na, Ca, K, Mg…và
được gọi chung là các muối dinh dưỡng. N ở trong nước ở dạng các ion NH 4+,
NO2-, NO3-, và các chất hữu cơ hòa tan và không hòa tan trong nước. P cũng
ở dạng vô cơ và hữu cơ hòa tan hoặc không hòa tan trong nước. Dạng vô cơ

đáy. Khi mất oxy, chất này lại trở thành hợp chất Mn hòa tan, lấy lại oxy
trong nước rồi lại lắng xuống đáy.

17


+ Khí Cacbonic: Cũng từ không khí, từ hoạt động hô hấp của thủy sinh vật
và từ các quá trình phân hủy chất hữu cơ mà tạo ra trong nước. CO 2 hòa tan
trong nước được tiêu thụ trong quá trình quang hợp, trong quá trình chuyển
hóa thành HCO3 và CO32- và có thể thoát ra ngoài nước.
Hàm lượng oxy và CO2 trong nước của các thủy vực phụ thuộc vào rất
nhiều yếu tố như nhiệt độ nước và nồng độ muối,… Hàm lượng oxy và CO 2
trong thủy vực còn biến đổi theo mùa, theo ngày đêm, theo độ sâu, theo hoạt
động sống của thủy sinh vật, các quá trình chuyển hóa vật chất hữu cơ trong
thủy vực và theo sự thay đổi đặc tính vận động của khối nước. Phân bố của
oxy và CO2 trong các thủy vực cũng theo quy luật nhất định. Các tầng nước
trên thường giàu oxy, có khi tới bão hòa, rồi giảm dần theo độ sâu. Các tầng
nước sâu thường giàu CO 2 và nghèo oxy, có khi còn có các khí độc (CH 4,
H2S).
+ H2S: Trong thủy vực, H2S được hình thành do hoạt động của vi khuẩn
thối rữa phân hủy chất hữu cơ và vi khuẩn lưu huỳnh khử sunfat trong nước.
Loại thứ nhất hay gặp ở nước ngọt, loại thứ hai hay gặp ở biển và đại dương,
nơi có nhiều sunfat. Khối lượng H 2S sinh ra trong thủy vực nhiều khi rất lớn,
làm nhiễm độc một diện tích rất rộng trong thủy vực. H 2S là khí rất độc, trực
tiếp hay gián tiếp gây tác hại cho thủy sinh vật. Có những thủy sinh vật chết ở
nổng độ H2S rất nhỏ. H2S còn làm giảm lượng oxy hòa tan trong nước, thu
hẹp diện tích hoạt động bắt mồi của thủy sinh vật trong các thủy vực [31].
1.4. Khái quát về chỉ số tổ hợp sinh học (Index of Biotic Integrity - IBI)
1..4.1. Lịch sử của chỉ số tổ hợp sinh học – IBI
Chỉ số tổ hợp sinh học được phát triển bởi James R. Karr từ năm 1981

sinh học, do phương pháp sinh học thu được kết quả tác động tổng hợp của

19


nhiều yếu tố trên cá thể sinh vật hoặc qua quần xã sinh vật trong môi trường
nước bị ô nhiễm [31].
+ Phương pháp phân tích lý, hóa xác định chất lượng môi trường nước
chỉ ở trong một thời điểm tức thời nhưng các chất ô nhiễm có thể biến đổi
hoàn toàn theo thời gian. Trong khi đó, phương pháp sinh học thể hiện chất
lượng môi trường nước qua một quá trình diễn ra trong một thời gian nhất
định đủ cho một vài chu kỳ sống của sinh vật chỉ thị [44].
+ Các phương pháp kỹ thuật phân tích lý, hóa học hiện nay chưa có khả
năng xác định các chất có hàm lượng siêu nhỏ trong môi trường nước nằm
dưới giới hạn phân tích. Trong khi đó phương pháp sinh học có khả năng gián
tiếp xác định được các chất có hàm lượng siêu nhỏ, dựa vào khả năng tích tụ
sinh học của sinh vật chỉ thị.
+ Có đến hơn 1500 chất ô nhiễm được thải vào trong môi trường nước
song chỉ có 25 chất trong số đó là được xác định. Với số lượng lớn các chất
độc hại như vậy thì không thể có phân tích hóa, lý nào có thể kiểm soát được
các hóa chất thực tế đang gây ô nhiễm [31].
- Ý nghĩa của chỉ số tổ hợp sinh học cá:
Những nghiên cứu sử dụng chỉ số tổ hợp sinh học IBI đã ứng dụng ở
nhiều sinh vật khác nhau như: cá, động vật không xương sống, sự kết hợp
giữa cá và những sinh vật khác. Nhưng chỉ số tổ hợp sinh học cá lại được ứng
dụng nhiều nhất trong số các nhóm sinh vật và cá được sử dụng cá để phát
triển IBI [38]. Vì cá có nhiều ưu điểm sau:
+ Cá có mặt ở hầu hết tất cả các loại môi trường nước, từ những dòng
suối rất nhỏ đến những dòng suối lớn và cả những thủy vực có môi trường bị
ô nhiễm.

Lần đầu tiên IBI được sử dụng để đánh giá chất lượng môi trường nước ở các
dòng suối thuộc phía tây ở miền Trung nước Mỹ. Sau đó nó được biến đổi đi

21


và sử dụng ở những vùng khác ở phía bắc nước Mỹ và ở Canada, Mexico,
Pháp, Ấn Độ, …(Hghes et al 1998). IBI được sử dụng dựa trên các quần xã cá
ở phía nam Carolina Coastal Plain để đánh giá tác động của môi trường
(Paller và các cộng sự, 1996) và ở các dòng sông thuộc Nam Phi (Kleynhans,
1996). Adams và các cộng sự (1992) đã so sánh các quần thể cá dọc theo một
dòng sông ô nhiễm. Hall và các cộng sự (1994) đã sử dụng IBI để so sánh các
quần thể cá ở các dòng suối thuộc Maryland Coastal Plain để đánh giá chất
lượng nước.
Kerans và Karr (1994) đã sử dụng IBI để xác định các điều kiện sống ở
các dòng suối thuộc Tennesee. Frenzel và Swanson (1996) sử dụng IBI ở các
thủy vực vùng trung tâm Nebraska (Mỹ). Ganasan và Hughes (1998) đã sử
dụng IBI ở các dòng sông thuộc Trung Ấn [38,42].
Fausch và cộng sự (1984) sử dụng 12 chỉ số để tính IBI. Bramblett và
cộng sự (1991) khi đánh giá suy thoái môi trường sông vùng đồng bằng miền
tây dùng 9 chỉ số. John Lyon (1992) phát triển kỹ thuật chỉ thị sinh học để kiểm
định sinh học qua IBI đối với vùng nước ấm Winconsin cũng dùng 12 chỉ số.
Robert M. Perez và J. Gammon (1987) khi nghiên cứu vùng sông Willamette
dùng 13 chỉ số IBI. John Lyon, Sonia Navarro, Perez và cộng sự (1997) tính
IBI đối với suối và sông ở vùng trung tâm phía tây Mexico dùng 10 chỉ số. Khi
chỉ số IBI để đánh giá môi trường sông Xen ở Pháp, Oberdoff và Hughes
(1992) đã dùng 12 chỉ số. Ganasan và Hughes (1997) khi sử dụng IBI ở sông
Khan và sông Kshipra thuộc Ấn Độ cũng dùng 12 chỉ số [24, 38,42].
1.4.3.2. Ở Việt Nam
Nguyễn Kiêm Sơn (2000) là người đầu tiên ở Việt Nam đã sử dụng IBI

mùa nóng, ẩm, có mùa đông khá lạnh, mùa hè nóng, mưa nhiều. Nhiệt độ
phân hóa mạnh mẽ trong toàn lưu vực. Vùng thấp (dưới 100m) nhiệt độ trung

23


bình năm vào khoảng 22,5 - 23 0C; vùng có độ cao đến 500m, nhiệt độ trung
bình năm vào khoảng 2000C; vùng cao trên 1.000m, nhiệt độ trung bình năm
vào khoảng 17,5 - 180C. Nhiệt độ cao nhất trong lưu vực đạt đến 40 0C (tại
Hiệp Hòa - Bắc Giang), còn nhiệt độ thấp nhất là – 1 0C (tại Bắc Kạn). Lưu
vực sông Cầu có lượng mưa khá lớn, lượng mưa hàng năm vào khoảng từ
1.500 - 2.700mm. Trong lưu vực tồn tại một trung tâm mưa lớn đó là Tam
Đảo. Ở đây lượng mưa hàng năm có thể đạt đến 3.000mm. Vùng có lượng
mưa lớn này kéo dài sang phía Đông qua thành phố Thái Nguyên, với lượng
mưa năm vượt quá 2.000 mm.
- Thủy văn và nguồn nước
Tổng lượng dòng chảy trung bình năm của lưu vực sông Cầu như sau:
+ Trên sông Cầu: 4,50 km3/năm, trong đó đóng góp của sông Công là
0,8992 km3/năm (chiếm 19,8%), sông Cà Lồ là 0,8800 km 3/năm (chiếm
19,5%).
+ Mức bảo đảm nước trung bình năm của toàn lưu vực sông Cầu vào
khoảng 116.103 m3/km2 và 2.250 m3/người. Giá trị này thấp hơn nhiều so với
mức bảo đảm nước trung bình của toàn lãnh thổ Việt Nam (2.500.103 m 3/km2
và 10.800 m3/người). Mùa mưa trên lưu vực sông Cầu từ tháng 5 đến tháng
10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng dòng chảy mùa khô chỉ
chiếm khoảng 15 - 20% tổng lượng dòng chảy năm. Tháng 2 là tháng có
lượng dòng chảy nhỏ nhất.Trong những năm gần đây, do rừng đầu nguồn bị
chặt phá nên dòng chảy sông suối đầu nguồn có xu thế cạn kiệt. Theo thống
kê, trong thời kỳ 1960 – 1991, trên lưu vực xuất hiện 22 trận lũ lớn, trong đó
có 11 trận đặc biệt lớn (tại Phả Lại Hmax > 7m). Những năm gần đây, lũ quét

bình quân 38% / năm.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status