ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
--------------------------
Đỗ Thị Kim Thoa
SỬ DỤNG THIẾT BỊ ĐIỆN DI MAO QUẢN XÁCH TAY
XÁC ĐỊNH ĐỒNG THỜI THÀNH PHẦN
CÁC CATION VÀ ANION TRONG NƯỚC MƯA
Chuyên ngành: Hóa Môi trường
Mã số: 60440120
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - Năm 2015
Công trình được hoàn thành tại
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Người hướng dẫn khoa học: TS. DƯƠNG HỒNG ANH
Phản biện 1: PGS. TS. Từ Bình Minh
Phản biện 2: TS. Vũ Đức Lợi
Luận văn được bảo vệ trước hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: TT CETASD, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên vào hồi 14giờ 30 ngày
30 tháng 12 năm 2015
Có thể tìm hiểu luận văn tại
NO2-, SO42- NH4+, K+, Na+, Ca2+, Mg2+ ) trong mẫu nước mưa sử dụng thiết bị
điện di mao quản xách tay loại 2 kênh.
- So sánh kết quả phân tích các mẫu nước mưa với phương pháp sắc ký
ion tiêu chuẩn tại PTN Phân tích Môi trường của Trung tâm mạng lưới
KTTVvà MT và Phòng thí nghiệm VSL của Trung tâm CETASD để khẳng
1
định khả năng sử dụng phương pháp điện di mao quản xác định các thành
phần anion, cation cơ bản trong nước mưa
- Đánh giá kết quả thu được về cân bằng ion, các yếu tố liên quan tới
độ axit, khả năng trung hòa của nước mưa, nguồn gốc các ion trong nước
mưa
4. Bố cục của luận văn
Luận văn gồm 49 trang, không kể phần Phụ lục và Tài liệu tham khảo,
trong đó có 11 bảng và 10 hình cùng 15 tài liệu tham khảo. Kết cấu của luận
văn gồm: Mở đầu (2 trang), Chương 1. Tổng quan (16 trang), Chương 2.
Thực nghiêm (7 trang), Chương 3. Kết quả và thảo luận (25 trang), Kết luận
(1 trang).
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Lắng đọng khí quyển và pH của nước mưa [3,4]
1.1.1. Lắng đọng khí quyển
Các chất vết trong khí quyển có nồng độ luôn biến đổi theo thời gian và
không gian. Thời gian lưu của chúng có thể một vài giờ, môt vài tuần hoặc
một vài năm. Quá trình loại bỏ các chất vết này trong khí quyển hay nói cách
khác là quá trình chúng được chuyển từ bầu khí quyển đến bề mặt trái đất
được gọi là sự lắng đọng khí quyển. Sự lắng đọng này được chia làm hai loại:
lắng đọng khô và lắng đọng ướt.
− Lắng đọng khô: Là sự chuyển dịch của các chất vết khí và hạt dưới
thời tiết khô tới bề mặt của vật hấp thụ (đất, hệ thực vật và các bề mặt nước)
thải NOx là ống xả của các phương tiện giao thông. NO2 được tăng lên từ
nhiều hoạt động của con người và được coi là chất gây ô nhiễm.
1.3. Ô nhiễm môi trường không khí và lắng đọng axit
ở Việt Nam [1,4]
Cũng như các nước phát triển khác trên thế giới Việt Nam đang trên con
đường tiến tới một đất nước công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Trong 10 năm
trở lại đây hàng loạt các nhà máy xí nghiệp được nâng cấp và mở rộng, nhiều
nhà máy mới được xây dựng với quy mô lớn. Thêm vào đó vấn đề gia tăng
dân số và sự phát triển không ngừng của các khu đô thị chắc chắn sẽ gây ra ô
nhiễm môi trường trong đó có ô nhiễm không khí và nước nếu như chúng ta
không kiểm soát chặt chẽ.
Mặt khác về mặt địa lý Việt Nam nằm trong vùng Châu Á nơi mà hiện
nay đang được coi là khu vực đang phát triển nhanh nhất trên thề giới, đồng
thời lại có đường biên giới tiếp giáp với miền nam Trung Quốc, một trong
những vùng tiêu thụ than lớn trong khu vực, nên việc kiểm soát chất lượng
3
không khí là rất cần thiết và phải được thực hiện thường xuyên và mang tính
chất hệ thống. Các số liệu về thành phần hóa học nước mưa có một ý nghĩa
khoa học rất to lớn, giúp chúng ta đánh giá được mức độ ô nhiễm môi trường
và tìm ra nguồn gốc gây ô nhiễm.
Các số liệu pH của nước mưa của các vùng phía Bắc năm 2013, 2014
dưới đây được thu thập từ phòng Tài nguyên môi trường – Trung tâm mạng
lưới Quốc gia – Trung tâm khí tượng thủy văn. Kết quả đo độ pH nước mưa
hàng tháng của các năm được tóm tắt trong bảng (1.1)
Bảng 1.2. Phân loại các trận mưa theo đặc tính pH (%)
Khu
vực
Năm 2014
Trung
Axit
tính
Kiềm
pH
pH > pH > 6
50
bắc
Phủ liễu
8,4
50
41,7
0
44,5
55,5
Thái nguyên
18,2
54,5
27,2
0
77,8
22,2
Việt bắc
Việt trì
0
75
25
0
55,5
44,5
Từ kết quả phân tích thành phần của nước mưa hàng tháng đã cho thấy
ở các vùng đã thỉnh thoảng xuất hiện các trận mưa có pH thấp (pH
Nghiên cứu này được thực hiện với nội dung thu thập các mẫu nước
mưa lấy tại các trạm quan trắc khu vực miền Bắc, phân tích thành phần hóa
học: các anion, cation chính (Cl-, NO3-, NO2-, SO42- NH4+, K+, Na+, Ca2+,
Mg2+ ) trong mẫu nước mưa sử dụng thiết bị điện di mao quản xách tay loại 2
kênh, đánh giá kết quả thu được về cân bằng ion, các yếu tố liên quan tới độ
5
axit, khả năng trung hòa của nước mưa, nguồn gốc các ion trong nước mưa.
Nghiên cứu có mục tiêu:
- Đánh giá thành phần hóa học, xác định ảnh hưởng của các ion này
đến mức độ axit của nước mưa, xác định nguồn gốc của các ion này.
- Chứng minh khả năng sử dụng thiết bị điện di mao quản xách tay hai
kênh trong việc phân tích đồng thời nhóm cation và anion sử dụng cho quan
trắc môi trường nước.
2.2. Hóa chất và thiết bị
2.2.1. Hóa chất
Các hóa chất tinh khiết phân tích được mua từ Merck hoặc SigmaAldrich bao gồm: histidin C6H9N3O2 (rắn), axit axetic băng (100%), 18crown-6 (rắn), các muối rắn: natri clorua (NaCl), kali clorua (KCl), canxi
clorua (CaCl2), magie clorua (MgCl2.6H2O), amoni clorua (NH4Cl), natri
nitrat (NaNO3), natri sunfat (Na2SO4) và dung dịch gốc nitrit 1000 mg/L.
Nước đeion với điện trở 18,2 MΩ/cm được cung cấp từ thiết bị deion cho
nước tinh khiết (Milipore – Simplicity UV, Pháp).
2.2.2. Thiết bị
- Hệ điện di mao quản tự động, xách tay loại 2 kênh sử dụng
detector độ dẫn không tiếp xúc do Trung tâm CETASD, Đại học Khoa học
Tự nhiên tự chế tạo. Hệ thiết bị gồm những phần chính như sau: hệ thống
bơm mẫu và dẫn lỏng, bộ phát cao thế EMCO (± 30 kV), mao quản silica
nóng chảy, cảm biến đo độ dẫn không tiếp xúc (C4D- version 12), bộ ghi
tín hiệu eDAQ 401.
- Thiết bị sắc ký ion IC, Shimadzu, Nhật Bản
2.3.2.1. Phương pháp điện di mao quản sử dụng thiết bị điện di mao
quản 2 kênh đi kèm detector độ dẫn không tiếp xúc [2]
* Chuẩn bị hóa chất
Các dung dịch chuẩn gốc của các ion Na +, K+, Mg2+, Ca2+, NH4+ 100
mg/L được pha từ các muối NaCl, KCl, MgCl 2.6H2O, CaCl2, NH4Cl bằng
nước đeion. Các dung dịch chuẩn gốc của các ion Cl -, SO42-, NO3- được pha
từ các muối NaCl, Na2SO4, NaNO3 bằng nước đeion. Dung dịch chuẩn gốc
của NO−2 được sử dụng là dung dịch chuẩn bán sẵn 1000 mg/L theo NO−2 .
Dung dịch đệm điện di sử dụng cho phân tích nhóm anion là histidine
12 mM có pH 4,0 điều chỉnh bằng axit lactic.
Dung dịch đệm điện di sử dụng cho phân tích nhóm cation là histidin 12
mM có pH 3,8 điều chỉnh bằng axit axetic và bổ sung thêm 18-crown-6 nồng
độ 2 mM.
* Phân tích định tính và định lượng các anion và cation:
Nguyên tắc: Nhóm anion (clorua, nitrit, nitrat, sunfat) và nhóm cation
(amoni, natri, kali, canxi, magie) được phân tích trên 2 kênh riêng biệt của
thiết bị điện di mao quản sử dụng detector độ dẫn không tiếp xúc (C 4D). Trên
từng kênh, khi có sự chênh lệch điện thế giữa hai đầu mao quản, các ion với
7
điện tích và kích thước khác nhau sẽ di chuyển với vận tốc khác nhau trong
mao quản và được tách ra khỏi nhau. Việc nhận biết các ion sẽ được thực
hiện bằng detector C4D đặt cuối mao quản.
Các ion được định tính bằng cách so sánh thời gian lưu của tín hiệu
trong dung dịch mẫu với thời gian lưu của tín hiệu trong dung dịch chuẩn.
Nồng độ các ion được xác định bởi chiều cao hoặc diện tích tín hiệu tương
ứng thu được từ detector C4D.
Cách tiến hành phân tích:
Bước 1: Cài đặt các thông số hoạt động của thiết bị như Bảng 2.1.
Bước 2: Xác định thời gian lưu của các ion trong hỗn hợp. Bơm các
dung dịch chuẩn hỗn hợp anion và cation vào máy. Dựng các đường chuẩn
để định lượng cho từng ion trong hỗn hợp anion/cation, mỗi đường chuẩn
gồm 7 điểm với các nồng độ 0,2 tới 20 mg/l cho anion và 0,2 mg/l tới 10
mg/l cho cation.
Bước 3. Đo mẫu thật : Sau khi lập các đường chuẩn, bơm mẫu thật vào
hệ điện di mao quản 2 kênh và đo tín hiệu của dung dịch mẫu. Các kết quả
diện tích tín hiệu được đưa vào phương trình đường chuẩn để xác định nồng
độ từng ion trong mẫu. Nếu nồng độ của chất phân tích cao hơn điểm cao
nhất của đường chuẩn cần pha loãng mẫu theo tỷ lệ thích hợp.
8
Bảng sau đây trình bày giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định
lượng (LOQ) của phương pháp phân tích trên với các cation và anion trong
nước mưa.
Bảng 2.2. LOD và LOQ của phương pháp điện di mao quản sử dụng
điện cực đo độ dẫn không tiếp xúc cho phân tích các cation và anion
trong nước mưa
Anion xác
LOD
LOQ
Cation xác
LOD
LOQ
định
mg/L
mg/L
định
Magie (Mg )
0,06
0,20
2.3.2.2. Phân tích mẫu đối chứng bằng phương pháp sắc ký ion
Để đánh giá độ đúng của phương pháp điện di mao quản sử dụng
detector độ dẫn không tiếp xúc cần phân tích các mẫu đối chứng đồng thời
phương pháp tiêu chuẩn là sắc ký ion. Độ đúng của phương pháp nghiên cứu
được phản ánh qua phần trăm sai số của các kết quả cung cấp bởi hai phương
pháp. Trong nghiên cứu này, nồng độ các cation và các anion trong nước
mưa được phân tích đối chứng theo phương pháp sắc ký ion tại Trung tâm
Mạng lưới Khí tượng Thủy văn và Môi trường và Trung tâm CETASD.
2.3.3. Phương pháp tính xác định hàm lượng bicacbonat, cân bằng
ion và đánh giá thành phần nước mưa
2.3.3.1. Hàm lượng bicacbonat
Hàm lượng bicacbonat được tính toán theo công thức lý thuyết sau:
[HCO3 –]= {K(S+[Me2+])}/(10–pH+K)
trong đó:
K = 4,2 x 10–7 là hằng số phân lý bậc 1 của H2CO3,
S = 3,05 x 10–2 molL–1 là độ tan của CO2 trong nước ở điều kiện 25 °C, 1
atm,
[Me2+]=([Ca2+]+[Mg2+]) molL–1.
9
2.3.3.2. Chỉ số cân bằng ion
Chỉ số cân bằng ion được tính cho các mẫu đã phân tích để xác định
tính hợp lý của các kết quả phân tích, dự đoán ion còn thiếu cho cân bằng.
Chỉ số này được xác định dựa trên công thức sau:
(Tổng nồng độ cation – Tổng nồng độ anion)
Chỉ số cân bằng ion = ------------------------------------------------------------ x 100%
được tính theo công thức sau:
(biển) % SSF= 100x [X/Na+]biển/[X/Na+]nước mưa
(đất)
%CF= 100x [X/Na+]đất/[X/Na+]nước mưa
(nhân tạo)
%AF= 100 - % SSF - %CF
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Kết quả xác định thành phần nước mưa lấy tại các trạm quan trắc
Các ion trong nước mưa được định tính trong từng nhóm anion hoặc
cation theo thời gian lưu. Phương trình đường chuẩn để xác định nồng độ
từng ion trong mẫu. Bảng dưới đây là thời gian lưu, phương trình hồi quy xác
định được khi phân tích hỗn hợp chuẩn.
Bảng 3.1. LOD và LOQ, t (thời gian lưu), R2 của
phương pháp điện di mao quản sử dụng điện cực đo
độ dẫn không tiếp xúc cho phân tích các cation và
anion trong nước mưa
Anion xác
định
Khoảng nd
đường
chuẩn
mg/l
Thời
285
0,2-20
Sunfat (SO42-) 0,05
0,15
305
0,2-20
11
Phương
trình hồi
quy
y=0,0082x0,0003
y=0,0051x0,0008
y=0,0067x0,0018
y=0,0058x0,0007
Hệ số
tuyến
tính
(R2)
0.9997
0.9989
0.9997
0,06
0,20
250
0,2-10
Kali (K+)
0,06
0,20
195
0,2-10
Canxi (Ca2+)
0,08
0,25
240
0,2-10
Magie
1
0.9998
1
0.999
0.9999
Hình 3.2. Điện di đồ phân tích mẫu chuẩn của kênh cation
Từ các dữ liệu thu được khi phân tích mẫu chuẩn có thể xây dựng được
các đường chuẩn để định lượng từng anion/cation. Các đường chuẩn đã xây
dựng đều có hệ số tuyến tính tốt R2 > 0,99 (Hình 3.3).
Điện di đồ tiêu biểu khi phân tích mẫu nước mưa thật đồng thời trên 2
kênh của hệ thiết bị được thể hiện trên hình 3.4. Trong thời gian 6 phút có thể
hoàn thành phép phân tích cả hai nhóm cation và anion với độ phân giải các
tín hiệu trong từng nhóm tốt.
Hình 3.3. Điện di đồ phân tích mẫu nước mưa M3-19 sử dụng hệ thiết
bị điện di mao quản 2 kênh
13
Thành phần anion, cation cơ bản và pH của 22 mẫu nước mưa được chỉ
ra trong các bảng 3.2a, 3.2b, 3.3a và 3.3b. Để khẳng định khả năng sử dụng
phương pháp điện di mao quản xác định các thành phần anion, cation cơ bản
trong nước mưa, các mẫu đã được gửi đi phân tích đối chứng bằng phương
pháp sắc ký ion tiêu chuẩn tại Phòng thí nghiệm Phân tích Môi trường của
Trung tâm mạng lưới khí tượng Thủy văn và Môi trường và Phòng thí
nghiệm VSL của Trung tâm Nghiên cứu Công nghệ Môi trường và Phát triển
Bền vững.
Dữ liệu từ bảng 3.2a, 3.2b và 3.3a, 3.3b cho thấy, kết quả nồng độ các
0,54
-9
Bảng 3.3a. Kết quả phân tích các cation amoni, kali và natri trong nước
mưa bằng phương pháp CE và đối chứng bằng phương pháp IC
NH4+
ST
T
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
0,18
0,16
0,53
0,15
< 0,05
0,34
0,28
0,57
< 0,05
0,40
0,80
0,15
0,20
0,35
0,39
1,35
1,06
0,18
0,52
0,40
0,36
< 0,05
IC
SS
(mg/L)
%
9
-10
6
4
0
4
-6
-11
9
0
-14
-17
-14
-18
-
CE
K+
IC
(mg/L
(mg/L
)
< 0,20
< 0,20
0,42
< 0,20
0,09
0,46
0,79
0,15
0,31
5,66
2,97
0,92
0,10
1,24
0,11
0,09
15
SS
%
-2
12
2
-9
-19
-1
-1
0
-2
-12
-14
-
0,93
1,09
1,04
0,96
0,24
0,06
0,63
1,73
0,29
0,21
0,04
1,06
1,09
0,05
0,60
5,78
2,56
3,11
0,83
1,31
1,28
0,08
8
14
1
-9
-13
4
-16
14
15
16
17
18
19
20
21
22
Mẫu
CE
Ca2+
IC
M2-19
M2-20
M3-19
M3-20
M3-21
M4-21
M5-20
M6-19
M6-20
M7-20
M7-21
M8-19
M8-20
6,71
3,04
0,62
(mg/L)
1,33
1,14
3,02
3,12
0,87
1,47
0,83
4,53
0,57
1,10
0,83
3,69
2,65
1,31
1,64
8,85
6,75
5,01
1,33
6,20
3,07
0,56
SS (%)
6
< 0,2
< 0,2
< 0,2
0,36
0,48
< 0,2
0,22
1,34
1,79
0,77
< 0,2
1,20
< 0,2
< 0,2
Mg2+
IC
(mg/L)
0,48
0,10
0,63
0,41
0,69
0,10
0,31
0,70
0,09
0,18
0,05
0,41
khác, kết quả thu được từ phương pháp CE và IC có sự tương quan tuyến tính
với nhau.
Sử dụng phần mềm Minitab (v17) để so sánh hai tập số liệu thu được từ
hai phương pháp thông qua chuẩn T-Test,. Kết quả : các giá trị P-value >0.05
cho thấy kết quả thu được từ hai phương pháp là như nhau
: Paired T for Cl-CE - Cl-IC
N Mean StDev SE Mean
16
Cl-CE
22 1.977 1.264 0.269
Cl-IC
22 2.000 1.258 0.268
Difference
22 -0.0223 0.1892 0.0403
95% CI for mean difference: (-0.1062, 0.0616)
T-Test of mean difference = 0 (vs ≠ 0): T-Value = -0.55 P-Value =
0.586
Paired T for Na-CE - Na-IC
N Mean StDev SE Mean
Na-CE
18 1.273 1.148 0.271
Na-IC
18 1.375 1.328 0.313
Difference
18 -0.1012 0.2395 0.0565
95% CI for mean difference: (-0.2203, 0.0179)
T-Test of mean difference = 0 (vs ≠ 0): T-Value = -1.79 P-Value =
0.091
mẫu
Thái
M2-19
nguyên M2-20
M3-19
Việt
M3-20
trì
M3-21
Bắc
M4-21
Giang
Bãi
M5-20
cháy
M6-19
Phủ liễu
M6-20
Cúc
M7-20
Phương M7-21
M8-19
MT
M8-20
Hà nội M8-21
Hải
M9-20
Dương
NH4+ K+
Na
+
Ca2+
M
g2+
H3O+
pH
41,6
55,2
32,1
33,7
25,1
11,6
10,0
20,3
12,9
-
7,6
11
-
84,0
-
1,7
5,76
65,4
-
-
42,4
13,0
16,6
-
28,5
54,1
32,4
1,0
1,2
1,5
75,6
81,1
11,8
26,1
0,0
22,1
44,2
8,3
11,0
19,5
13,3
30,8
8,2
9,6
20,0
-
60,9
12,4
8,7
39,1
45,2
-
218,5
23,5
2,7
21,6
28,0
15,1
-
68,1
4,8
5,32
118,9
61,2
-
539,1
0,2
6,73
143,9
-
224,3
51,8
28,9
-
121,3 23,9
176,
3
171,
1
118,
8
25,3
170,
1
18
8,3
9,1
29,7
8,5
-
5,07
74,8 145,0
59,0
74,4
8,3
15,6
28,6
-
22,1
20,0
213,
4
119,
0
109,
396,9
367,3
112,
1
149,
-
55,3
151,8
1,0
6,00
7
100,
0
10,0
Mẫu nước mưa
Nồng độ các anion cơ bản (µEqL-1)
HC
Trạm
lấy
Mẫu
Cl
-
pH
H3O+
h
M13-
12,7
-
-
26,9
0,7
-
-
-
30,8
Min
7,9
-
Max
0,7
176,
396,9
149
12,9
7,16
Trung bình
55,7
17,1
9,2
119,1
20,7
17,5
131,0 40,3
4
44,4
(49,
6)
38,5
10,0 11,5
4,94
(116,6) (39,2) (4,2)
77,2
31,2
1,0
6,0
6,0
“-“ dưới giới hạn phát hiện của phương pháp
Bảng 3.5. Tổng nồng độ anion, cation cơ bản trong nước mưa và chỉ số
cân bằng ion
Mẫu nước mưa
Trạm
Mẫu
lấy mẫu
M2-19
Thái nguyên
Tổng anion
(µEqL-1)
Tổng cation
(µEqL-1)
Cân bằng ion (%)
163
124
257
179
52,1
95,0
121
339
68,3
110
82,5
229
226
97,9
123
896
729
435
140
172
138
8,1
2,6
5,7
2,5
2,6
2,3
1,7
19
Mẫu nước mưa
Trạm
Mẫu
lấy mẫu
M12-19
Thanh hóa
M12-20
Vinh
M13-20
Min
Max
Trung bình
(SD)
Median
Tổng anion
(µEqL-1)
Tổng cation
77,4% tổng ion trong nước mưa. Trong số các ion này, chỉ có sunfat có
nguồn gốc chính từ hoạt động đốt than và nhiên liệu hóa thạch.
Hình 3.4. Phần trăm đóng góp của các ion trong thành phần nước mưa
3.3. Quá trình axit hóa và trung hòa nước mưa
Người ta thường sử dụng hệ số FA = [H+]/([SO42- ]+ [NO3-]) biểu thị
phần axit phát sinh do các axit mạnh nói trên không bị trung hòa bởi thành
phần bazơ, hệ số này tính được với các mẫu đã phân tích (dựa trên giá trị
20
mean của nồng độ các ion) là 0,02, chứng tỏ 98% axit trong nước mưa đã
được trung hòa.
Khả năng trung hòa nước mưa của các dạng bazơ có thể tính theo
phương trình: NFx = [X]/ [SO42- ]+ [NO3-] (nồng độ tính theo đương lượng).
Các giá trị NFCa, NFMg, NFNH4 tính được lần lượt là 0,94, 0,38 và 0,23 như vậy
Ca2+ là thành phần quan trọng nhất trong quá trình trung hòa mưa axit ở khu
vực nghiên cứu.
3.4. Phân tích tương quan các thành phần trong nước mưa
Trên cơ sở số liệu thành phần cụ thể của các mẫu nước mưa, ta có thể
xây dựng các tương quan các cặp thành phần theo chuẩn Pearson. Kết quả
xây dựng tương quan cho thấy, pH không có tương quan với các thành phần
ion khác của nước mưa (p < 0,01 trong tất cả các trường hợp). Tương quan
đồng biến tốt giữa SO42- với NH4+ và NO3- (hệ số tương quan 0,785 và 0,781
tại p
3,58
+
+
K
Na
Mg2+
[X/Ca2+] đấta 0,504
0,569
0,561
2+
[X/Ca ]nước mưa 0,053
0,498
0,404
EF đất
0,11
0,88
0,72
a
: giá trị tham khảo từ tài liệu [15].
Cl1,16
1,355
1,17
Cl0,0031
0,675
217,8
SO420,125
1,719
13,8
Biển (%)
7,3
85,6
2,2
72,0
20,0
23
Nguồn đóng góp
Lục địa
Đất (%)
Nhân tạo (%)
2,2
90,5
1,0
99,0
0,5
13,9
97,8
28,0
80,0