Xây dựng phương pháp định lượng một số hoạt
chất kháng HIV trong thuốc bằng phương pháp
Điện di mao quản Nguyễn Thị Thùy Linh Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS chuyên ngành: Hóa Phân tích; Mã số: 60 44 29
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Văn Ri
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Giới thiệu về các thuốc điều trị (virus gây suy giảm miễn dịch ở người) HIV;
tình hình sử dụng thuốc HIV ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay; các phương pháp phân
tích định lượng thuốc HIV; Giới thiệu chung về phương pháp điện di mao quản. Nghiên
cứu các tài liệu về (điện di mao quản) CE và các đặc tính lý hóa của hoạt chất cần phân
tích. Khảo sát các điều kiện điện di nhằm tìm ra điều tối ưu nhất để tách và định lượng
đồng thời Lamivudin, Zidovudin và Nevirapin trong chế phẩm viên nén. Tiến hành kiểm
tra chất lượng các thuốc có cùng hoạt chất đang được sử dụng trên thị trường.
Keywords: Hóa phân tích; Định lượng thuốc; Phương pháp điện di mao quản Content
MỞ ĐẦU
Theo phân tích của các chuyên gia, tổng số người nhiễm HIV vẫn đang tiếp tục duy
trì sự sống ngày càng được tăng cao là hệ quả của hai tác động chủ yếu. Một là số người
nhiễm HIV hàng năm trên toàn cầu vẫn ở mức cao. Chỉ tính riêng năm 2008, thế giới vẫn có
khoảng 2,7 triệu người mới nhiễm HIV. Hai là do kết quả tích cực của liệu pháp điều trị
Vì thế đây là kỹ thuật rất hữu hiệu để thay thế hay hỗ trợ HPLC trong nhiều lĩnh vực phân
tích, trong đó có nghiên cứu về Dược.
Hơn nữa, chuyên luận chung về CE đã được quy định trong Dược điển một số nước như
Hoa Kỳ, Anh, Trung Quốc…Tuy nhiên ở Việt Nam, CE chưa được ứng dụng nhiều và kinh
nghiệm ứng dụng trong phân tích dược phẩm còn hạn chế. Do vậy chúng tôi nhận định
hướng nghiên cứu của mình sẽ rất có ý nghĩa thực tiễn cho công tác nghiên cứu quản lý chất
lượng thuốc ở nước ta.
Từ những phân tích trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ứng dụng của phương pháp điện
di mao quản vào định lượng thuốc kháng HIV với đề tài:
“Xây dựng phương pháp định lượng một số hoạt chất kháng HIV trong thuốc bằng phương
pháp điện di mao quản”
CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN
1.1.Giới thiệu về các thuốc điều trị HIV
Phác đồ phối hợp Lamivudin, Zidovudin và Nevirapin trong điều trị
Lamivudin và Zidovudin có cấu trúc tương tự nucleosid có tác dụng kháng retrovirus bao
gồm cả HIV-1 và HIV-2 do ức chế enzym phiên mã ngược của virus. Hai thuốc này được sử
dụng phối hợp trong liệu pháp kháng retrovirus để điều trị HIV. Bệnh nhân uống 3TC, AZT kết
hợp Nevirapine trong 6 tháng cho kết quả khá khả quan. Các chỉ số đánh giá tình trạng bệnh
nhân được cải thiện rõ rệt và có ý nghĩa thống kê. Người bệnh tăng cân, có số lượng tế bào
lymphocyte tăng rõ rệt (từ 1273/mm
3
lên 1547/mm
3
), số lượng tế bào CD4 từ 70/mm
3
lên
145/mm
3
làm cho số lượng tế bào CD4 bị phá hủy giảm đi. Như vậy, phác đồ D4T/3TC/NVP có
( C = 0,38 % trong methanol )
Hằng số pK
a
= 3,31.
Lamivudin hấp thụ UV ở bước sóng hấp thụ cực đại là 278nm; A
1%
1cm
trong H
+
1M ~ 600
*Zidovudin:
(AZT)
Công thức phân tử C
10
H
13
N
5
O
4
. Phân tử lượng 267.242 g/mol.
Tên khoa học:
1-[(2R,4S,5S)-4-azido-5-(hydroxymethyl) oxolan-2-yl]-5-methylpyrimidine-2,4-dione
Tính chất : Tinh thể trắng hoặc hơi nâu.
Nhiệt độ nóng chảy: ~ 124
0
C. Khó tan trong nước, ít tan trong cồn .
Năng suất quay cực + 60,5
0
→ + 63,0
a
= 2,42.
1.2. Tình hình sử dụng thuốc HIV ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay
Tính đến 31/5/2012, trên toàn quốc có 66.191 người nhiễm HIV trong đó có 62.654 người
lớn và 3.537 trẻ em, đạt 94,6% kế hoạch năm 2012. Kết quả báo cáo tại 10 tỉnh có số người
được điều trị cao nhất là 46.332 bệnh nhân, chiếm 70% số người nhiễm HIV đang được điều trị
trên toàn quốc. Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục là thành phố dẫn đầu cả nước về số lượng
người nhiễm HIV đang điều trị. Tính đến 31/5/2012, thành phố Hồ Chí Minh có 20.435
người nhiễm HIV đang điều trị, chiếm 30,9% số lượng bệnh nhân đang điều trị trên toàn
quốc
[10].
Kể từ ca nhiễm HIV được phát hiện đầu tiên tại Mỹ từ năm 1981, cho đến nay loài người đã
trải qua 30 năm đối phó với một đại dịch quy mô lớn, phức tạp, tính đến cuối năm 2009, có 33,3
triệu người đang bị nhiễm HIV, tỷ lệ người nhiễm HIV trong nhóm tuổi 15-49 là 0,8%. Riêng
năm 2009 ước tính có 2,6 triệu người nhiễm mới HIV và 1,8 triệu người tử vong do AIDS. So
sánh với năm 1999, số người nhiễm mới HIV đã giảm 21%. Báo cáo UNAIDS cũng ghi nhận
tính cuối năm 2009 đã có 33 nước có số ca nhiễm mới giảm, trong đó 22 nước khu vực cận
Saharan, Châu Phi. Tuy nhiên hiện vẫn còn 7 nước tỷ lệ nhiễm mới tăng trên 25% khi so sánh
giữa năm 1999 và 2009[11].
1.3. Các phƣơng pháp phân tích định lƣợng thuốc HIV
1.3.1. Các phƣơng pháp sắc ký (HPLC & HPTLC)
Trong những năm gần đây, phương pháp HPLC đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng
trong việc tách và phân tích các chất trong mọi lĩnh vực khác nhau, nhất là trong việc tách và
phân tích lượng vết các chất. Phương pháp HPLC với cột tách pha đảo được sử dụng rất rộng rãi
để xác định thuốc HIV trong các loại mẫu khác nhau do có nhiều ưu thế so với các phương pháp
khác vì có độ chính xác, độ nhạy, độ lặp lại cao, khoảng tuyến tính rộng…
Detector ghép nối trong máy HPLC cho phép phát hiện sự xuất hiện chất sau khi rửa giải.
Hiện nay có rất nhiều loại detector được sử dụng cho mục đích này đã mở rộng khả năng phân
tích được rất nhiều loại chất bằng phương pháp HPLC. Đối với phân tích dư lượng, detector khối
= 0,9985) cho d4T và 25-250 µg/ml (r
2
= 0,9987)
cho NVP[24]
Nhóm nghiên cứu đã tách được lamivudin và tạp đồng phân hoàn toàn (độ phân giải 1,95)
với điều kiện điện di thích hợp là: cột mao quản silaca nung chảy, đường kính trong 50 µm,
chiều dài 48 cm, chiều dài hiệu quả 39,5 cm, nhiệt độ cột 25
0
C, điện thế 15 kV, bước sóng phát
hiện 270 nm… Về định lượng lamivudin trong chế phẩm, với dung dịch đệm natri tetraborat (pH
khoảng 9,2) và sự hiện diện của chất hoạt động bề mặt là SDS (sodium dodecyl sulfat) có thể
phân tích đồng thời lamivudin và chất phối hợp zidovudin…; điều kiện điện di thích hợp là: cột
mao quản silaca nung chảy, đường kính trong 50 µm, chiều dài 48 cm, chiều dài hiệu quả 39,5
cm, nhiệt độ cột 25
0
C, điện thế 15 kV, bước sóng phát hiện 270 nm, dung dịch đệm natri
tetraborat 50 Mm chứa 50 mM SDS [9]
Micellar điện động sắc ký (MEKC) phương pháp để tách và định lượng đồng thời lamivudine
và zidovudine trong dược phẩm đã được phát triển. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tách, chẳng hạn
như pH, nồng độ chất hoạt động bề mặt (sodium dodecyl sulfate, SDS), dung môi hữu cơ và điện
áp áp dụng đã được tối ưu hóa. Dung dịch điện ly nền bao gồm 12,5 decahydrate tetraborat mM
sodium và 15 mM axit boric điều chỉnh pH 10,8, có chứa 90 mM SDS 5% (v / v) acetonitrile
(ACN) đã được khảo sát là phù hợp cho việc tách các loại thuốc. p-aminobenzoic acid (PABA)
đã được sử dụng như là chất chuẩn nội (IS). Phát hiện chất phân tích và IS được thực hiện ở
bước sóng 210 nm. Điện di đồ đã được quan sát thấy rằng cả hai loại thuốc và IS đã được di
chuyển trong vòng 20 phút ở điện áp 10 kV. Đánh giá của phương pháp này đã được thực hiện
về tính chính xác, độ tuyến tính, độ đúng, giới hạn phát hiện (LOD) và định lượng
(LOQ). Khoảng tuyến tính từ 10-80 mg / ml cho Lamivudine và 10-100 mg / ml cho
Zidovudine. Các giới hạn phát hiện cho Lamivudine và Zidovudine được tìm thấy là 2,5 và 2,0
mg / ml, tương ứng. Phương pháp đã được áp dụng để xác định đồng thời Lamivudine và
4
(HPLC) tính theo
nguyên trạng, SKS 0105143, bảo quản nhiệt độ 5
0
C, tránh ánh sáng – Viện kiểm nghiệm - Bộ Y
Tế.
- Chuẩn quốc gia Nevirapin (200 mg/ lọ) hàm lượng 99,49 % C
15
H
14
N
4
O tính theo nguyên
trạng, SKS WS 0109263, bảo quản nhiệt độ 2
0
C – 8
0
C, tránh ánh sáng – Viện kiểm nghiệm - Bộ
Y Tế.
2.1.1.2. Hóa chất:
- Nước cất deion: là nước cất hai lần mới, được lọc qua bộ lọc tinh khiết có cột trao đổi anion và
cation, sau đó lọc qua màng lọc 0,2µm.
- Axít Boric H
3
BO
3
, muối natri tetraborat Na
2
B
4
2.1.2. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.2.1. Chế phẩm làm việc
- Chế phẩm làm việc Lamivudine 150mg, Nevirapine 200mg & Zidovudine 300mg do công ty
Ranbaxy laboratories Limited Ấn Độ sản xuất . Ngày sản xuất 9/2011. Hạn sử dụng 9/ 2013.
- Chế phẩm làm việc Lamivudine 150mg & Zidovudine 300mg do công ty Matrix Laboratories
Limited Ấn Độ sản xuất. Ngày sản xuất 9/2011. Hạn sử dụng 10/2013
2.1.2.2. Chuẩn bị mẫu
* Pha dung dịch chuẩn và dung dịch thử:
- Dung dịch gốc chuẩn: cân chính xác khoảng 30,9 mg Lamivudin, 39,7 mg Nevirapin và 59,6
mg Zidovudin vào cốc có mỏ. Thêm vào 10,0 ml MeOH hòa tan, sau đó thêm nước cất deion hòa
tan. Chuyển hết vào bình định mức 100 ml, siêu âm cho tan hoàn toàn, thêm nước deion đến thể
tích vừa đủ và lắc đều.
- Dung dịch chuẩn: hút chính xác 5,0ml dung dịch gốc chuẩn pha vào bình định mức 10ml, thêm
nước deion vừa đủ thể tích và lắc đều. Lọc qua màng lọc 0,2µm.
- Dung dịch mẫu thử: Cân 20 viên thuốc viên, xác định khối lượng trung bình một viên và nghiền
thành bột mịn. Cân một lượng bột viên tương ứng với 15,00 mg Lamivudin, 20,00 mg
Nevirapin và 30,00 mg Zidovudin cho vào bình định mức 100,0 ml, thêm 70 ml nước deion siêu
âm cho tan hết, thêm nước deion đến vừa đủ thể tích, lắc đều. Lọc qua giấy lọc đường kính lỗ lọc
11cm. Bỏ 20 ml dịch lọc đầu. Dịch lọc được tiếp tục lọc qua bộ lọc hút chân không màng lọc
0,45µm. Tiếp tục bỏ 20ml dịch lọc đầu. Dịch lọc được lọc qua màng lọc 0,2µm trước khi tiêm
vào lọ đựng mẫu.
-Dung dịch mẫu trắng: Chuẩn bị như mẫu chuẩn nhưng không có chất phân tích.
*Chuẩn bị dung dịch điện ly nền:
- Dung dịch điện ly nền Na
2
B
4
O
7
10mM: Cân chính xác khoảng 0,1906 g Na
g Na
2
B
4
O
7
và 0,4820g β-cyclodextrin vào bình định mức 50,0 ml thêm nước để siêu âm đuổi khí
và hòa tan hoàn toàn. Điều chỉnh nước tới vạch và lắc đều.
2.2. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Nội dung nghiên cứu
Tham khảo và nghiên cứu các tài liệu về CE và các đặc tính lý hóa của hoạt chất cần phân
tích. Trên cơ sở đó khảo sát các điều kiện điện di nhằm tìm ra điều tối ưu nhất để tách và định
lượng đồng thời Lamivudin, Zidovudin và Nevirapin trong chế phẩm viên nén. Từ phương pháp
đã xây dựng được, tiến hành kiểm tra chất lượng các thuốc có cùng hoạt chất đang được sử dụng
trên thị trường.
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu
Hai kỹ thuật được lựa chọn ở đây là CZE, MEKC xem ở kiểu điện di nào có thể tách tốt các
hoạt chất.
Sau đó tiến hành khảo sát các điều kiện để chọn chương trình điện di thích hợp, cụ thể là:
- Lựa chọn kiểu (mode) điện di phù hợp.
- Nghiên cứu chọn điều kiện tối ưu tách 3 hoạt chất và định lượng đồng thời như: pH, nồng độ
chất điện ly, điện thế, nhiệt độ….
- Đánh giá thống kê phương pháp phân tích
- Áp dụng phân tích một số mẫu thuốc
- Đánh giá ưu khuyết điểm của phương pháp
CHƢƠNG 3 - KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Nghiên cứu khảo sát tối ƣu điều kiện tách 3TC, AZT và NVP
3.1.1. Chọn bƣớc sóng phát hiện chất
Để khảo sát phổ 3TC,AZT và NVP, detector được chọn là DAD. Do 3 hoạt chất đều là
là Mixen được hình thành bởi các phân tử SDS.
3.1.5 Lựa chọn cơ chế tách
Tiến hành chạy điện di hỗn hợp mẫu chuẩn tương ứng với nồng độ của Lamivudin
150µg/ml, Nevirapin 200 µg/ml và Zidovudin 300 µg/ml trên 3 loại dung dịch điện li nền là
dung dịch Na
2
B
4
O
7
10mM; Na
2
B
4
O
7
10mM + SDS 50mM ; Na
2
B
4
O
7
10mM + β-cyclodextrin
10mM.
Thế điện di 20kV, bơm mẫu áp suất 50mbar, thời gian bơm mẫu 5s, nhiệt độ mao quản
25
0
C
Nhận thấy nếu chỉ dùng phương pháp điện di mao quản vùng (CZE) thì không tách được 3 chất
ra khỏi nhau. Vì pK
Ảnh hưởng pH trong dung dịch đệm điện di được khảo sát với dung dịch điện di với giá trị pH
thay đổi tại pH = 8,76; 9,06; 9,30; 9,62; 10,17.
Từ hình 3.3, ở pH =8,76 đến 9,06 các chất vẫn tách nhau tốt, nhưng thời gian phân tích
dài hơn, đường nền dốc.
Nhận thấy càng tăng pH từ 9,62 đến 10,17 thì khả năng tách tốt hơn, và pic nhọn hơn,
ảnh hưởng của nền có hấp thụ UV và các chất phân tích hấp thụ UV giảm dẫn đến diện tích pic
giảm. Ở pH= 9,30 các chất tách nhau tốt, độ hấp thụ tốt, giảm hấp thụ đường nền và thời gian
phân tích hợp lý.Vì thế chúng tôi chọn pH= 9,30 cho các nghiên cứu tiếp theo.
3.1.7. Ảnh hƣởng của thành phần dung dịch đệm
Cùng với pH của dung dịch đệm, chất điện ly trong pha động cũng có vai trò rất quan
trọng và nó phải có nồng độ phù hợp.
Thực nghiệm nhận thấy, khi chạy điện di trong dung dịch điện li nền Na
2
HPO
4
10mM và
Natricitrat 10mM thì chưa xuất hiện pic trước thời gian 15 phút, mặt khác cường độ dòng điện
không ổn định. Vì vậy chúng tôi quyết định chọn dung dịch điện li nền Natritetraborat cho các
khảo sát tiếp theo.
3.1.8. Khảo sát ảnh hƣởng của nồng độ chất tạo mixen SDS
Chất hoạt động bề mặt SDS được xem như pha tĩnh giả của quá trình tách vì thực chất nó
vẫn chuyển động cùng với dòng điện di. Nồng độ SDS trong dung dịch đệm điện di có ảnh
hưởng mạnh tới độ điện li hiệu dụng của các chất bởi nó liên quan đến sự hình thành hạt Mixen
cũng như nồng độ Mixen trong dung dịch đệm điện di. Để khảo sát ảnh hưởng của SDS đến quá
trình điện di, nồng độ SDS đã bị thay đổi tại ba giá trị là 25 mM; 50 mM và 75 mM. Tại nồng độ
75 mM nhận thấy thời gian phân tích dài hơn so với nồng độ 50 mM và 25 mM,chiều cao pic
giảm. Nồng độ SDS 25 mM hiệu quả tách cũng tốt nhưng chiều cao pic không bằng 50 mM, sẽ
gây ảnh hưởng độ nhạy. Vì vậy chúng tôi chọn nồng độ SDS = 50 mM tối ưu để khảo sát các thí
nghiệm tiếp theo.
3.1.9. Khảo sát ảnh hƣởng của nồng độ đệm
mao quản gây ra sự doãng pic. Tức là làm giảm hiệu quả tách. Vì vậy chúng tôi chọn thế tại
20kV là phù hợp.
3.1.12. Ảnh hƣởng nhiệt độ của mao quản
Sự khác nhau về nhiệt độ ảnh hưởng không lớn tới hiệu quả tách nên để bảo vệ cột và hệ
thống CE, chúng tôi sẽ làm mát Cột và để Cột trong hệ thống điều nhiệt Cột. Cột được giữ ổn
định ở nhiệt độ phòng 25
0
C.
3.1.13.Tổng kết điều kiện tối ƣu
Bảng 3.1. Tổng kết các điều kiện tối ưu
Các yếu tố
Điều kiện
Detector
DAD
Số đo bước sóng chung
Lamivudin 270nm, Zidovudine 264,5 nm và Nevirapin 268,5nm
Kích thước mao quản
Mao quản silica trần, tổng chiều dài 64.5cm, chiều dài hiệu
dụng 60 cm, đường kính trong 75µm, loại bubble cell.
Chất tạo mixen
SDS
Phương pháp bơm mẫu
Thủy động hoc : 5s; 50 mbar
Thế điện di
20 kV
Dung dịch điện ly
Na
2
B
4
tích pic tăng lên. Vậy phương pháp có tính đặc hiệu.
3.2.3. Khảo sát khoảng tuyến tính và lập đƣờng chuẩn
Chúng tôi tiến hành khảo sát khoảng tuyến tính trong điều kiện tối ưu mục 3.1.14 của
3TC, AZT và NVP. Chuẩn bị 6 hỗn hợp dung dịch chuẩn có chứa 3TC nồng độ từ 77,25 µg/ml
đến 231,7µg/ml, NVP nồng độ từ 99,25 µg/ml đến 297,7 µg/ml và AZT nồng độ từ 149,0 µg/ml
đến 447,0 µg/ml , mỗi nồng độ được đo lặp lại 3 lần.
được như sau:
Bảng 3.3: Diện tích pic trên điện di đồ và nồng độ 3TC tương ứng
Nồng độ (µg/ml)
77,25
123,6
154,5
169,95
185,4
231,7
Diện tích pic
(mAU.s)
29,85
47,60
62,10
70,70
78,76
97,80
Phương trình hồi quy tuyến tính : S = (-6,10 ±5,79) + (0,449 ±0,036)C
Hệ số tương quan : r = 0,996
Bảng 3.4. Diện tích pic trên điện di đồ và nồng độ AZT tương ứng
Nồng độ (µg/ml)
149,0
238,4
298,0
Hệ số tương quan : r = 0,998
3.2.4. Giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lƣợng (LOQ)
Bảng 3.6.Giới hạn phát hiện(LOD) và giới hạn định lượng (LOQ) của đường chuẩn
Chất
phân
tích
Phương trình đường
chuẩn
Hệ số góc (b)
Độ lệch
chuẩn (S
y
)
LOD
(µg/ml)
LOQ
(µg/ml)
3TC
S= -6,10 +0,449.C
0,449
1,50
10.02
33,41
AZT
S= -8,29 + 0,439.C
0,439
2,13
14,55
48,52
NVP
Zidovudin
Lamivudin
Nevirapin
Zidovudin
T
1
152,6
203,5
298,3
100,4
101,8
99,43
T
2
148,3
205,0
295,5
98,87
102,5
98,5
T
3
154,3
200,8
286,4
102,87
100,4
101,0
100,83
Nhận xét: Chế phẩm được khảo sát có hàm lượng nằm trong khoảng giới hạn định lượng cho
phép (95%- 105%) ( theo phụ lục 11.1 Dược điển Việt Nam IV)
3.3. Ƣu nhƣợc điểm của phƣơng pháp điện di mao quản (CE)
Phương pháp CE là một phương pháp phân tích hiện đại cho độ tin cậy và hiệu quả tách
cao. Phương pháp có thể xác định được trên nhiều đối tượng khác nhau bao gồm cả chất mang
điện tích và chất trung tính. Phương pháp có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Lượng mẫu phân tích nhỏ, tốc độ phân tích nhanh, thao tác đơn giản hơn nhiều so với
kỹ thuật phân tích HPLC.
- Dung dịch điện li nền cũng như mẫu phân tích thường được pha trong nước deion và sử
dụng rất ít, không sử dụng các dung môi hữu cơ độc hại nên CE rất thân thiện với môi trường và
với người làm phân tích.
- Cột tách là ống mao quản nhỏ, rẻ, cho hiệu suất tách cao, dễ tái sinh hơn nhiều so với
phương pháp HPLC.
- Có thể can thiệp trực tiếp các loại cơ chế tách một cách đơn giản bằng cách thêm vào các
chất phụ gia cần thiết.
Tuy nhiên phương pháp cũng có một số nhược điểm sau:
- Do flowcell nằm ngay trên mao quản nên độ nhạy của phương pháp thấp hơn nhiều so
với phương pháp khác. Giới hạn của nó khoảng cỡ mg/l đối với detector UV-VIS, DAD. Trong
khi đó các phương pháp khác như: HPLC có giới hạn nhỏ hơn nhiều.
- Máy làm việc ở vùng điện áp rất cao nên phải cẩn trọng khi làm việc.
- Lượng mẫu sử dụng nhỏ là một ưu điểm của phương pháp, đồng thời cũng là nhược
điểm của nó. Khi lượng mẫu nhỏ và không tập trung dẫn đến sai số lớn khi phân tích hàm lượng
lớn do hệ số pha loãng cao. Đối với mẫu có hàm lượng nhỏ, khi tăng thời gian bơm mẫu thì gây
ra hiện tượng doãng pic, hiệu suất tách không cao.
- Thời gian lưu của của dung dịch phụ thuộc rất nhiều vào thành phần đệm, dung dịch
điện ly vì vậy đòi hỏi phải cẩn thận và tỉ mỉ.
3.4. Hƣớng phát triển của đề tài.
B
4
O
7
10mM + SDS 50mM, pH = 9,30.
Nhiệt độ : 25
0
C
3. Đánh giá phương pháp phân tích
- Phương pháp đạt tính tương thích hệ thống với RSD <2% và R
s
>1,5.
- Phương pháp có tính đặc hiệu ( tính chọn lọc) cao.
- Khoảng tuyến tính của chất phân tích rộng : 3TC (77,25- 231,7 µg/ml) với r=0,996 ; NVP
(99,25- 297,7 µg/ml) với r= 0,998 ; AZT (149,0- 447,0 µg/ml) với r= 0,998 ; đã xử lý thống kê
để khẳng định không có sai số hệ thống.
- Xác định LOD, LOQ dựa vào đường chuẩn : 3TC có LOD= 10,02µg/ml và LOQ= 33,41µg/ml ;
AZT có LOD= 14,55 µg/ml và LOQ= 48,52 µg/ml ; NVP có LOD= 9,85 µg/ml và LOQ= 32,83
µg/ml.
- Phương pháp có độ lặp lại cao RSD < 2%.
- Phương pháp có độ đúng cao, độ thu hồi nằm trong khoảng 98%- 102%
4.Phân tích hàm lượng trong viên nén
-Với viên nén 3 thành phần dược chất, hàm lượng 3TC từ 98,87%- 102,87% ; NVP từ 100,4%-
102,5% ; AZT từ 95,47%- 99,43% so với hàm lượng trên nhãn, nằm trong giới hạn cho phép
95% → 105% (Theo Dược điển Việt Nam IV).
-Với viên nén 2 thành phần dược chất, hàm lượng 3TC từ 99,0%- 102,4% ; AZT từ 99,13%-
101,57% so với hàm lượng trên nhãn, nằm trong giới hạn cho phép 95%-105% ( Theo Dược điển
Việt Nam IV).
„‟Comparison of HPLC & spectrophotometric method for estimation of antiretroviral drug
content in pharmaceutical products‟‟, Indian J Med Res, 132, pp. 390- 394.
18. Arthur L.L. Silva (2012), Journal of pharmaceutical sciences, vol.101 (1), pp.12.
19. Hammer S. M. (2006), “Treatment for Adults HIV infection 2006 Recommendations of the
international AIDS Society - USA Panel”, The journal of American medical Association,
pp.827-843.
20. Heifer D. (2000), High performance capillary electrophoresis, Agilent Technologies, pp.61-
77.
21. Hiren.N.Mistri, ArvindG.Jangid, Ashutosh Pudage, Noel Gomes, Mallika, Sanyal, Pranav,
Shrivastav(2007), “High throughput LC-MS/MS method for simultaneous quantification of
Lamivudine, stavudine and Nevirapine in human plasma”, Journal of Chromatography B,
volum 853, p320-332.
22. Namita Kapoor, Sateesh Khandavilli, Ramesh Panchagnula(2006); Anylytica Chimica
Acta;Volum 570, Issue1, p. 41- 45.
23. Mikaela Malm(2008), Drug Analysis Bioanalytical Method Development and Validation;
p.23- 25.
24. Ramaiya Sekar, Srinivasan Azhaguvel (2008), “MEKC Determination of Antiretroviral
Reverse Transcriptase Inhibitors Lamivudine, Stavudine and Nevirapine in Pharmaceutical
Formulations‟‟, Chromatographia, (67), pp.389-398.
25. Shintani H.; Pholonsky J. (1997), Handbook of capillary electrophoresis application,
Blackie academic & professional, p.158.
26. SekarR, Azahaguvels (2005), “Simultaneous determination of HIV- protase inhibitors
lamivudin and zidovudin in pharmaceutical formulations by micellar electrokinetic
chromatography”, Journal of Pharmaceutical and biomedical analysis, India, p.653-660.
27. Sokalingam Anbazhagan (2005), “Simultaneous quantification of Stavudine, Lamivudine
and Nevirapine by UV spectroscopy, reverse phase HPLC and HPTLC in tablets”, Journal of
Pharmacy and Biomedical Analysis, Volum 39, Issues 3-4, Pages 801-804.
28. Weerasak Samee, Paron Srilamai, Sasithorn Ongart, Ritthichai Suwannaratana, Chayanid
Sornchaithawatwong, Suwanna Vorarat (2007), „‟Simultaneous Determination of
Lamivudine, Stavudine and Nevirapine in the Presence of Their Acid- Induced Degradation