NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG MỘT SỐ HOẠT CHẤT THUỐC KHÁNG SINH THUỘC NHÓM SULFAMID BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHỔ KẾ HỒNG NGOẠI GẦN VÀ TRUNG BÌNH - Pdf 42

Header Page 1 of 126.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
.....o0o…..

Vũ Thị Huệ
NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG MỘT SỐ HOẠT CHẤT THUỐC
KHÁNG SINH THUỘC NHÓM SULFAMID BẰNG PHƯƠNG PHÁP
PHỔ KẾ HỒNG NGOẠI GẦN VÀ TRUNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2015

Footer Page 1 of 126.


Header Page 2 of 126.

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------

Vũ Thị Huệ
NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG MỘT SỐ HOẠT CHẤT THUỐC
KHÁNG SINH THUỘC NHÓM SULFAMID BẰNG PHƯƠNG PHÁP
PHỔ KẾ HỒNG NGOẠI GẦN VÀ TRUNG BÌNH
Chuyên ngành: Hóa phân tích
Mã Số: 60440118



Header Page 4 of 126.

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học

Vũ Thị Huệ - K23 Hóa Học

Mục Lục
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................... 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN ....................................................................................... 2
1.1. Tổng quan về thuốc giả và hiện trạng sử dụng thuốc tại Việt Nam………….2
1.1.1. Định nghĩa về thuốc giả ............................................................................ 2
1.1.2. Hiện trạng sử dụng thuốc giả .................................................................... 2
1.2. Tổng quan về thuốc kháng sinh nhóm Sulfamid…………………………….3
1.2.1. Lịch sử ra đời nhóm Sulfamid .................................................................. 3
1.2.2. Cấu tạo chung của nhóm Sulfamid ........................................................... 4
1.2.3. Tính chất vật lý và hóa học của các sulfamid ........................................... 6
1.2.4. Phân loại sulfamid..................................................................................... 6
1.2.5. Dược động học .......................................................................................... 7
1.2.6. Độc tính của sulfamid ............................................................................... 7
1.2.7. Giới thiệu về Sulfaguanidin, Sulfamethoxazol và Trimethoprim............. 8
1.3. Tổng quan về phương pháp phân tích các hoạt chất nhóm sulfamid.............10
1.3.1. Phương pháp định tính sulfamid ............................................................. 10
1.3.2. Phương pháp định lượng ......................................................................... 11
1.3.1.1. Phương pháp chuẩn độ thể tích ........................................................ 11
1.3.1.2. Phương pháp trắc quang .................................................................. 12
1.3.1.3. Phương pháp trắc quang kết hợp với thuật toán hồi quy đa biến .... 12
1.3.1.4. Phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao .......................................... 13
1.4. Phương pháp quang phổ kế hồng ngoại gần và trung bình kết hợp với thuật
toán hồi quy đa biến..............................................................................................14

2.2.1. Phương pháp đối chứng xác định Sulfaguanidin .................................... 32
2.2.2. Phương pháp đối chứng xác định Sulfamethoxazol và Trimethoprim ... 32
2.3. Hóa chất và thiết bị…………………………………………………………34
2.3.1. Hóa chất .................................................................................................. 34
2.3.2. Thiết bị và phần mềm máy tính .............................................................. 34
2.4. Chương trình máy tính của các phương pháp hồi quy đa biến......................35
2.4.1. Phương pháp bình phương tối thiểu thông thường (CLS) ...................... 35
2.4.2. Phương pháp bình phương tối thiểu nghịch đảo ( ILS) .......................... 36
2.4.3. Phương pháp bình phương tối thiểu từng phần (PLS) ............................ 37
2.4.4. Phương pháp hồi qui cấu tử chính (PCR) ............................................... 38
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN .......................................................... 41
3.1. Khảo sát điều kiện tối ưu xác định đồng thời sulfaguanidin, sulfamethoxazol
và trimethoprim trong cùng hỗn hợp....................................................................41
3.1.1. Khảo sát phổ hấp thụ của các hoạt chất .................................................. 41
3.1.2. Khảo sát tỷ lệ khối lượng mẫu / KBr ...................................................... 44
3.1.3. Khảo sát độ lặp lại của quá trình ép viên ................................................ 44
3.1.4. Khảo sát ảnh hưởng của các tá dược ...................................................... 45

Chuyên ngành hóa phân tích
Footer Page 5 of 126.

Trường ĐHKHTN


Header Page 6 of 126.

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học

Vũ Thị Huệ - K23 Hóa Học



Vũ Thị Huệ - K23 Hóa Học

DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Phổ hồng ngoại của Sulfaguanidin trên hai loại thiết bị khảo sát .............41
Hình 3.2: Phổ hồng ngoại của Sulfamethoxazol tren hai thiết bị khảo sát ...............42
Hình 3.3: Phổ hồng ngoại của Trimethoprim trên hai loại thiết bị khảo sát .............42
Hình 3.4: Phổ hồng ngoại của ba hoạt chất Sulfaguanidin, sulfamethoxazol và
trimethoprim ............................................................................................43
Hình 3.5: Phổ hồng ngoại của Canxiphosphat ..........................................................46
Hình 3.6: Phổ hồng ngoại của Tinh bột sắn ..............................................................46
Hình 3.7: Phổ hồng ngoại của Maltodextrin .............................................................46
Hình 3.8: Phổ hồng ngoại của Magie Stearat............................................................47
Hình 3.9: Phổ hồng ngoại của Talcum ......................................................................47
Hình 3.10: Đồ thị score plot và đồ thị loading plot của tín hiệu phân tích 25 mẫu
chuẩn ........................................................................................................54
Hình 3.11: Đồ thị score plot và đồ thị loading plot của tín hiệu phân tích 30 mẫu
chuẩn ........................................................................................................60
Hình 3.12: Phổ hồng ngoại của Sulfaguanidin .........................................................66
Hình 3.13: Phổ hồng ngoại của Sulfamethoxazol .....................................................66
Hình 3.14: Phổ hồng ngoại của Trimethoprim .........................................................67
Hình 3.15: Kết quả định tính mẫu tự tạo ...................................................................67
Hình 3.16: Kết quả định tính mẫu thực tế S1 ............................................................68
Hình 3.17: Kết quả định tính mẫu thực tế S2 ............................................................68
Hình 3.18: Kết quả định tính mẫu thực tế S3 ............................................................69
Hình 3.19: Kết quả định tính mẫu thực tế S4 ............................................................69
Hình 3.20: Kết quả định tính mẫu thực tế ST1 .........................................................70
Hình 3.21: Kết quả định tính mẫu thực tế ST2 .........................................................70
Hình 3.22: Kết quả định tính mẫu thực tế ST3 .........................................................71
Hình 3.23: Kết quả định tính mẫu thực tế ST4 .........................................................71

Bảng 3.11: Ma trận chuẩn hàm lượng bốn cấu tử SFG, SFM, TMP và tá dược trong
hỗn hợp ....................................................................................................59
Bảng 3.12: Ma trận nồng độ các mẫu tự tạo chứa SFG, SFM, TMP và tá dược để
đánh giá tính phù hợp của phương trình hồi quy .....................................62
Bảng 3.13: Hàm lượng SFT, SFM, TMP và tổng tá dược tìm được trong các hỗn
hợp mẫu kiểm tra theo phương pháp PCR ..............................................63
Bảng 3.14: Giá trị LOD, LOQ của phương pháp hồi quy cấu tử chính xác định đồng
thời SFG, SFM, TMP và tá dược.............................................................65
Bảng 3.15: Mẫu thực tế .............................................................................................65
Bảng 3.16: Khối lượng bột viên và tá dược tinh bột trộn thêm vào các mẫu ...........73
Bảng 3.17: Hàm lượng (mg/viên) của SFG trong các mẫu thực tế...........................74
Bảng 3.18: Hàm lượng (mg/viên) của SFM và TMP trong các mẫu thực tế ............74

Chuyên ngành hóa phân tích
Footer Page 8 of 126.

Trường ĐHKHTN


Header Page 9 of 126.

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học

Vũ Thị Huệ - K23 Hóa Học

BẢNG KÍ HIỆU NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
Bình phương tối thiểu thông thường
(classical least square)

CLS


Hồi qui cấu tử chính (principal
component regression)
Maltodextrin

PCR

Sulfaguanidin

SFG

Sulfamethoxazol

SFM

Tinh bột

Tbot

Trimethoprim

TMP

Malt

 Ghi chú: Trong luận văn này chúng tôi sử dụng các tên hóa chất và hoạt
chất theo quy định trong Dược điển Việt Nam 4 [1]

Chuyên ngành hóa phân tích
Footer Page 9 of 126.

và trung bình”. Luận văn này là một phần trong chương trình hợp tác quốc tế giữa
Việt Nam và Pháp với mục đích nghiên cứu phát triển phương pháp quang phổ
hồng ngoại gần và trung bình kết hợp với các phương pháp hồi quy đa biến tuyến
tính để kiểm định nhanh chất lượng thuốc. Nghiên cứu này sẽ góp phần khẳng định
xu hướng đưa các phép phân tích ra khỏi nghiên cứu đơn thuần và áp dụng nhanh
trong thực tế, đồng thời cho phép tiết kiệm thời gian, hóa chất và đặc biệt là tăng
tính thời sự của công tác giám định chất lượng.

Chuyên ngành hóa phân tích
Footer Page 10 of 126.

1

Trường ĐHKHTN


Header Page 11 of 126.

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học

Vũ Thị Huệ - K23 Hóa Học

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1.

Tổng quan về thuốc giả và hiện trạng sử dụng thuốc tại Việt Nam

1.1.1. Định nghĩa về thuốc giả
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), thuốc giả là sản phẩm
được sản xuất và dán nhãn dưới dạng thuốc với ý đồ lừa đảo về nguồn gốc và lai

-

Được dán nhãn, cất giữ hay bảo quản không đúng cách.

-

Quá hạn sử dụng (hết hạn).

1.1.2. Hiện trạng sử dụng thuốc giả
Theo thống kê của WHO, đã có sự bùng nổ thuốc giả trên phạm vi toàn cầu.
Thuốc giả chiếm tới 10% thị trường dược phẩm thế giới với doanh thu 45 tỉ
euro/năm, trung bình mỗi năm có khoảng 200.000 người tử vong do thuốc giả [35].
Tại Việt Nam, theo Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương, năm 2011, trong
số hơn 31.000 mẫu thuốc được kiểm tra gần đây thì đã có hơn 1.000 mẫu không đạt
tiêu chuẩn chất lượng như nhiễm khuẩn, không đủ độ hòa tan, không đủ định lượng.
Nguồn tin từ Bộ Y tế cũng cho biết, trong hơn 10 ngày đầu tháng 2/2012, hầu như
ngày nào Bộ cũng phát hiện thuốc giả, thuốc kém chất lượng.[3]
Chuyên ngành hóa phân tích
Footer Page 11 of 126.

2

Trường ĐHKHTN


Header Page 12 of 126.

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học

Vũ Thị Huệ - K23 Hóa Học

đó có thể tạo muối dễ tan. Năm 1935, Domagk, Trefouel và Levaditikhisi dùng
prontosil kháng khuẩn thì nhận thấy: mặc dù có kết quả tốt trên liên cầu trên in vivo
nhưng lại không có tác dụng trên in vitro, như vậy có thể khi vào cơ thể, prontosil
Chuyên ngành hóa phân tích
Footer Page 12 of 126.

3

Trường ĐHKHTN


Header Page 13 of 126.

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học

Vũ Thị Huệ - K23 Hóa Học

đã chuyển hóa thành chất khác có tác dụng kháng khuẩn [15]. Khi phân tích công
thức của prontosil ta thấy đó là các azoic được điều chế bằng cách diazo hóa pamino benzene sulfonamid(sulfanilamid) ngưng tụ với m-phenylendiamin. Khi thay
m-phenylendiamin bằng các amin hoặc các phenol khác chúng ta thu được các dẫn
chất có tác dụng kháng khuẩn nhưng khi thay sulfanilamid bằng các anilin khác
nhau thì thu được các chất không có tác dụng kháng khuẩn. Như vậy, có thể các
sulfanilamid là phần có tác dụng kháng khuẩn. Thật vậy, khi thử tác dụng của
sulfanilamid cho thấy có tác dụng kháng khuẩn tốt. Khi kiểm tra nước tiểu của
người uống prontosil thấy có mặt sulfanilamid dưới dạng acetyl hóa. [6, 13]
Sulfanilamid đã trở thành sulfamid đầu tiên trong lịch sử. Việc phát hiện ra
prontosil và sulfanilamid đã mở ra một kỉ nguyên mới cho việc hóa trị liệu các bệnh
nhiễm khuẩn. Dựa trên cấu trúc của sulfanilamid người ta đã tổng hợp rất nhiều
sulfamid, trong đó có khoảng 40 loại được sử dụng làm thuốc. Ngày nay, việc ra đời
của các kháng sinh có tác dụng kháng khuẩn rất mạnh nên các sulfamid được sử


Header Page 14 of 126.

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học

Vũ Thị Huệ - K23 Hóa Học

Sulfamid có công thức cấu tạo gần giống với PABA (para amino benzoic
acid) là nguồn nguyên liệu cần thiết cho vi khuẩn tổng hợp acid folic để phát triển.
Do đó sulfamid tranh chấp với PABA ngăn cản quá trình tổng hợp acid folic của vi
khuẩn. Ngoài ra, sulfamid còn ức chế dihydrofolat synthetase, một enzym tham gia
tổng hợp acid folic. Về mặt lý thuyết, phổ kháng khuẩn của sulfamid rất rộng, gồm
hầu hết các cầu khuẩn, trực khuẩn gram (+) và (-). Hiện nay, tỷ lệ kháng thuốc và
kháng chéo giữa các sulfamid đang rất cao nên đã hạn chế việc sử dụng sulfamid rất
nhiều. Mặt khác do có nhiều độc tính và đã có kháng sinh thay thế, sulfamid ngày
càng ít dùng một mình, thường dùng dạng phối hợp sulfamethoxazol với
trimethoprim để tăng khả năng điều trị của thuốc. Dưới đây là công thức cấu tạo của
một số sulfamid phổ biến
Bảng 1.1: Công thức cấu tạo của một số Sulfamid phổ biến
Tên

Công thức

R1

R2
NH2

Sulfaguanidin


-H
H3OC

Chuyên ngành hóa phân tích
Footer Page 14 of 126.

5

OCH3

Trường ĐHKHTN


Header Page 15 of 126.

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học

Vũ Thị Huệ - K23 Hóa Học

1.2.3. Tính chất vật lý và hóa học của các sulfamid


Tính chất vật lý
Sulfamid ở dạng tinh thể màu trắng hoặc màu vàng nhạt trừ prontosil, không

mùi, thường ít tan trong nước, benzen, chloroform. Sulfamid tan trong dung dịch
acid vô cơ loãng và hydroxyd kiềm (trừ sulfaguanidin) [6]. Các sulfamid có các
thông số xác định về: độ chảy, phổ IR, phổ UV (do có chứa nhân thơm).



Chuyên ngành hóa phân tích
Footer Page 15 of 126.

6

Trường ĐHKHTN


Header Page 16 of 126.

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học

Vũ Thị Huệ - K23 Hóa Học

viêm loét đại tràng như sufaguanidin (Ganidan). Loại thải trừ chậm: duy trì được
nồng độ điều trị trong máu lâu, t1/2 có thể tới 7 - 9 ngày nên chỉ cần uống 1 lần/ngày.
Hiện dùng sulfadoxin (Fanasil), phối hợp với pyrimethamin trong Fansidar để dự
phòng và điều trị sốt rét kháng cloroquin. Loại để dùng tại chỗ: ít hoặc khó tan
trong nước. Dùng điều trị các vết thương tại chỗ (mắt, vết bỏng) dưới dạng dung
dịch hoặc kem. Có sulfacetamid, silver sulfadiazin, mafenid. [2]
Hiện nay hầu hết các vi khuẩn đều kháng với sulfamid nên thuốc này rất ít
được sử dụng. Để khắc phục nhược điểm này người ta thường dùng sulfamid ở dạng
phối hợp. Dạng phối hợp phổ biến nhất của sulfamid là việc kết hợp giữa
sulfamethoxazol và trimethoprim với tỉ lệ 1 trimethoprim và 5 sulfamethoxazol
nhằm tạo ra kháng sinh có khả năng kháng khuẩn, tăng hiệu quả điều trị và giảm tỉ
lệ kháng thuốc của vi khuẩn, thuốc hấp thu tốt qua đường tiêu hóa, t/2 của thuốc từ
9-11 giờ. [2]
1.2.5. Dược động học
Các sulfamid được hấp thu nhanh qua dạ dày và ruột (trừ loại sulfaguanidin),
70 - 80% liều uống vào được máu, gắn với protein huyết tương 40 - 80%, nồng độ

thiếu máu bất sản. Một số trường hợp có thể gây tím tái do tạo methemoglobin.
Thận: đây là trường hợp không mong muốn thường gặp nhất khi sử dụng
sulfamid. Sulfamid có thể gây kết tinh ở thận, gây tổn thương thận, viêm thận, sỏi
thận, đái ra máu. Nhược điểm này đã được khắc phục dần do tìm được những
sulfamid ít acetyl hóa, ít kết tinh…
Phản ứng tăng nhạy cảm: phản ứng rất khác nhau với từng loại sulfamid và
với từng người, thường xuất hiện khi sử dụng các loại sulfamid tác động chậm.
Triệu chứng có thể là nổi ban đỏ, xuất huyết…Khi dùng ngoài da có thể gây nám da
do sự kích thích sự nhạy cảm của da khi tiếp xúc với tia tử ngoại. [2]
1.2.7. Giới thiệu về Sulfaguanidin, Sulfamethoxazol và Trimethoprim
Trong số những kháng sinh nhóm sulfamid đã được tổng hợp, sulfaguanidin
và sulfamethoxazol là một trong những hoạt chất được sử dụng phổ biến nhất hiện
nay. Tuy nhiên, do khả năng kháng thuốc của vi khuẩn ngày càng tăng nên hiện nay
người ta thường sử dụng dạng phối hợp của sulfamid với trimethoprim như
sulfamethoxazol, sulfadiazin với trimethoprim để tăng thêm hiệu quả điều trị [2].
Do đó trong luận văn này chúng tôi đã tiến hành đi sâu nghiên cứu ba hoạt chất là:
sulfaguanidin, sulfamethoxazol (thuộc nhóm sulfamid) và trimethoprim (dạng phối
hợp phổ biến với sulfamid).
 Giới thiệu về Sulfaguanidin
Công thức: C7H10N4O2S

KLPT: 214,2
Sulfaguanidin là (4-aminophenylsulfonyl)guanidin, tồn tại ở dạng bột kết
tinh mịn màu trắng hoặc gần như trắng. Rất khó tan trong nước và ethanol 96 %,
Chuyên ngành hóa phân tích
Footer Page 17 of 126.

8

Trường ĐHKHTN

96 %, hơi tan trong cloroform, thực tế không tan trong ether. [6]

Chuyên ngành hóa phân tích
Footer Page 18 of 126.

9

Trường ĐHKHTN


Header Page 19 of 126.

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học

Vũ Thị Huệ - K23 Hóa Học

Triemthoprim được sử dụng trong các trường hợp điều trị đợt cấp của viêm
phế quản mạn, dự phòng lâu dài nhiễm khuẩn tiết niệu tái phát, nhiễm khuẩn tiết
niệu dưới cấp tính nhạy cảm với trimethoprim, viêm phổi do Pneumocystis carinii.
Hiện nay so khả năng kháng các thuốc nhóm sulfamid ngày càng cao nên
người ta thường sử dụng dạng phối hợp giữa sulfamethoxazol và trimethoprim để
tăng cường khả năng kháng khuẩn của thuốc. Bản chất của sulfamethoxazol là một
sulfonamid, ức chế cạnh tranh sự tổng hợp acid folic của vi khuẩn. Trimethoprim là
một dẫn chất của pyrimidin, ức chế đặc hiệu enzym dihydrofolat reductase của vi
khuẩn. Khi phối hợp trimethoprim và sulfamethoxazol như vậy sẽ ức chế hai giai
đoạn liên tiếp của sự chuyển hóa acid folic, do đó ức chế có hiệu quả việc tổng hợp
purin, thymin và cuối cùng DNA của vi khuẩn. Sự ức chế nối tiếp này có tác dụng
diệt khuẩn. Cơ chế hiệp đồng này cũng chống lại sự phát triển vi khuẩn kháng thuốc
và làm cho thuốc có tác dụng ngay cả khi vi khuẩn kháng lại từng thành phần của
thuốc. [2]

Vũ Thị Huệ - K23 Hóa Học

 Phương pháp phổ hồng ngoại
Phương pháp phổ hồng ngoại cho phép nhận dạng sự xuất hiện và có mặt của
các nhóm chức đặc trưng [13, 7]. Cụ thể, xác định sự có mặt nhóm sulfoamid bậc 2
(-SO2-NH-) cho các băng sóng hấp thu ở gần 3265 cm-1, dị vòng isoxazol có băng
sóng hấp thụ dao động trong vùng 3500- 3200 cm-1, băng sóng hấp thụ ở 3335 cm-1
thuộc về dao động hóa trị của nhóm N-H (amin bậc 2). Băng sóng hấp thụ ở vùng
3100- 3000 cm-1 thuộc về dao động hóa trị của nhóm C-H thuộc vòng aren. Các dao
động hóa trị của C=N- thuộc vùng 1250-1020 cm-1, vùng 1360- 1250 cm-1 là dao
động hóa trị của C-N (vòng thơm), vùng 1340-1250 cm-1 là vùng dao động hóa trị
của nhóm N-H (amin thơm bậc một).
Để định tính các mẫu thuốc, tiến hành đo phổ IR của các mẫu thử sau đó so
sánh với phổ IR của mẫu chuẩn trong các thư viện phổ tham chiếu.
1.3.2. Phương pháp định lượng
1.3.1.1.

Phương pháp chuẩn độ thể tích

- Dựa trên cơ sở phản ứng diazo hóa các sulfamid trong môi trường acid các
Sulfamid được xác định theo phương pháp chuẩn độ nitrit chậm, điểm tương đương
được phát hiện bằng phương pháp chuẩn độ điện thế [1]. Đây là một phương pháp
định lượng rất nhanh chóng, đơn giản, tiết kiệm được áp dụng phổ biến để xác định
các Sulfamid trong dược phẩm
- Nhóm tác giả D. Amin, B. Shaba và các cộng sự đã sử dụng dung dịch

brôm làm thuốc thử để xác định các sulfamid trong dược phẩm bằng phương
pháp chuẩn độ gián tiếp [17]. Theo đó phương pháp này dựa trên cơ sở phản ứng
của các sulfamid với một lượng dư nước brom bão hòa để tạo thành các dẫn xuất
N- bromo tương ứng, quá trình này giải phóng một lượng tương đương của iot

trong các mẫu dược phẩm.
Cũng trên cơ sở phản ứng diazo hóa các sulfamid các tác giả Padmarajaiah
Nagaraja, Hemmige S Yathirajan, Kallanchira R Sunitha, Ramanathapura A
Vasantha [31] lại đưa ra phương pháp xác định các sulfamid như sulfathiazol,
sulfadiazine, sulfacetamid, sulfamethoxazol, sulfamerazin, sulfaguanidin và
sulfamethazin trong dược phẩm dựa trên phản ứng diazo hóa các sulfamid trên, sau
đó tiến hành tạo phức với dopamine trong sự có mặt của ion molybdat trong môi
trường acid H2SO4 tỷ lệ (1:1). Sản phẩm của phản ứng này là dung dịch có màu đỏ
có độ hấp thụ trong vùng từ 490-510 nm, các dung dịch này có độ bền trong 48 giờ
tại 27C. Nồng độ tuân theo định luật Beer từ 0,04 đến 8,0 µg/ml. Phương pháp này
được áp dụng thành công trong việc xác định các sulfamid trong các sản phẩm
thuốc viên và thuốc nhỏ mắt. Các tá dược trong thuốc không ảnh hưởng đến kết quả
đo. Do đó đây là phương pháp khá đơn giản, nhanh chóng, kinh tế và có độ nhạy
cao áp dụng để phân tích các sulfamid tron dược phẩm mà không cần chiết tách hay
gia nhiệt.
1.3.1.3.

Phương pháp trắc quang kết hợp với thuật toán hồi quy đa biến

Phương pháp trắc quang kết hợp với các thuật toán hồi quy đa biến như: bình
phương tối thiểu thông thường (CLS), bình phương tối thiểu từng phần (PLS ), hồi
qui cấu tử chính ( PCR) là một phương pháp khá đơn giản, nhanh chóng và tiết
Chuyên ngành hóa phân tích
Footer Page 21 of 126.

12

Trường ĐHKHTN



acetonitril vào 700 ml nước, điều chỉnh đến pH 5,9 bằng dung dịch acid acetic 1 %,
sau đó thêm nước vừa đủ 1000 ml, trộn đều, lọc. Điều kiện sắc ký: Cột thép không
gỉ (30 cm × 3,9 mm) được nhồi pha tĩnh B (5 m) với detector quang phổ tử ngoại
đặt ở bước sóng 230 nm, tốc độ dòng: 2,0 ml/phút, thể tích tiêm: 20 l. [1].
Theo dược điển Mỹ USP 34- NF 29 [37] Sulfamethoxazol (trong hỗn hợp
thuốc chứa Sulfamethoxazol và trimethoprim) được xác định với điều kiện sắc ký:
Cột C 18 (250 x 4,6 mm; 5µm), detector UV: 254 nm, tốc độ dòng: 1,8 ml/ phút,
thể tích tiêm: 20 µl. Pha động: 700ml nước + 200ml Acetonitril + 1ml triethylamin
(điều chỉnh pH 5,9 ± 0,1 bằng dung dịch acid acetic 1% hoặc dung dịch natri
hydroxyd 0,2N, thêm nước vừa đủ 1000 ml.
Chuyên ngành hóa phân tích
Footer Page 22 of 126.

13

Trường ĐHKHTN


Header Page 23 of 126.

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học

Vũ Thị Huệ - K23 Hóa Học

Nhóm tác giả Cemal Akay, Sibel A. Ozkan [16] đã tiến hành nghiên cứu
thành công quy trình định lượng Sulfamethoxazol (trong hỗn hợp thuốc chứa
Sulfamethoxazol và trimethoprim) theo phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao với
pha động là hỗn hợp của methanol : nước (60: 40) điều chỉnh đến pH=3,0 bằng acid
phosphoric 10 %. Điều kiện sắc ký: Cột C18, detector quang phổ tử ngoại đặt ở bước
sóng 213 nm, tốc độ dòng 1,8 ml/min, thể tích tiêm 10 l. Khoảng tuyến tính của

Phương pháp phân tích theo phổ hồng ngoại là một trong những kĩ thuật
phân tích rất hiệu quả. Một trong những ưu điểm quan trọng nhất của phương pháp
Chuyên ngành hóa phân tích
Footer Page 23 of 126.

14

Trường ĐHKHTN


Header Page 24 of 126.

Luận Văn Thạc Sĩ Khoa Học

Vũ Thị Huệ - K23 Hóa Học

phổ hồng ngoại vượt hơn những phương pháp phân tích cấu trúc khác (nhiễu xạ tia
X, cộng hưởng từ điện tử…) là phương pháp này cung cấp thông tin về cấu trúc
phân tử nhanh, không đòi hỏi các phép tính toán phức tạp.[27]
Kỹ thuật này dựa trên hiệu ứng đơn giản là: các hợp chất hóa học có khả
năng hấp thụ chọn lọc bức xạ hồng ngoại. Sau khi hấp thụ các bức xạ hồng ngoại,
các phân tử của các hợp chất hóa học dao động với nhiều vận tốc dao động và xuất
hiện dải phổ hấp thụ gọi là phổ hấp thụ bức xạ hồng ngoại. [7]
Các đám phổ khác nhau có mặt trong phổ hồng ngoại tương ứng với các
nhóm chức đặc trưng và các liên kết có trong phân tử hợp chất hóa học. Bởi vậy,
phổ hấp thụ hồng ngoại là phổ dao động quay vì khi hấp thụ bức xạ hồng ngoại thì
cả chuyển dộng dao động và chuyển động quay đều bị kích thích. Bức xạ hồng
ngoại (IR) là một vùng phổ bức xạ điện từ rộng nằm giữa vùng trông thấy và vùng
viba, vùng này có thể chia thành ba vùng nhỏ:
 Hồng ngoại gần (near infrared): 14000- 4000 cm-1 (0,8- 2,5µm).

vùng chỉ vân tay. Vùng phổ từ 650-250 cm-1 cung cấp các thông tin có giá trị đối
với hợp chất vô cơ và phức chất, vì chứa các vân phổ liên quan đến dao động hóa trị
của C-Br, C-I và M-X(M- kim loại;O,N,S,C…) nhưng không phải máy hồng ngoại
nào cũng đo được ở vùng này.[7]
1.4.1.3.

Điều kiện hấp thụ bức xạ hồng ngoại

Không phải bất kỳ phần tử nào cũng có khả năng hấp thụ bức xạ hồng ngoại.
Mặt khác bản thân sự hấp thụ đó cũng có tính chất chọn lọc. Một phân tử chỉ có khả
năng hấp phụ bức xạ hồng ngoại khi chúng phải thỏa mãn 2 yếu tố sau [7]. Một là
tần số dao động tự nhiên của một phần phân tử (các nguyên tử hoặc nhóm nguyên
tử cấu tạo nên phân tử đó) bằng chính tần số dao động cùng tần số của bức xạ tới.
Hai là phân tử đó phải có momen lưỡng cực, vì khi phân tử lưỡng cực được giữ
trong điện trường, các điện tích trái dấu sẽ chịu ảnh hưởng bởi các lực theo những
chiều ngược nhau, và làm các nguyên tử tích điện này dao dộng, chúng hấp thụ bức
xạ hồng ngoại. Vì vậy các phân tử như O2, N2 không xuất hiện phổ hấp thụ hồng
ngoại.
1.4.1.4.

Các yếu tố ảnh hưởng đến tín hiệu đo phổ hồng ngoại

Tín hiệu đo phổ hồng ngoại đặc trưng cho tần số dao động của phân tử [7].
Do đó phổ hồng ngoại bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chính như sau:
Ảnh hưởng do cấu trúc của phân tử: do tần số dao động của phân tử phụ
thuộc vào sự bền vững của liên kết, các hiệu ứng electron, hiệu ứng không gian và
liên kết nội phân tử.
Ảnh hưởng do tương tác giữa các phân tử: ở trạng thái khí các phân tử
chuyển động tự do và hầu như không có tương tác với nhau nên phổ hồng ngoại của
các chất ở thể kí phản ánh khá trung thực cấu trúc của phân tử. Tuy nhiên kỹ thuật


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status