xây dựng phương pháp định lượng một số hoạt chất kháng hiv trong thuốc bằng phương pháp điện di mao quản - Pdf 24



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

NGUYỄN THỊ THÙY LINH

XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH LƯỢNG MỘT SỐ HOẠT
CHẤT KHÁNG HIV TRONG THUỐC BẰNG PHƯƠNG PHÁP
ĐIỆN DI MAO QUẢN

Chuyên ngành: Hóa phân tích
Mã số: 604429
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN VĂN RI Hà Nội – Năm 2012
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN 3
1.1. Giới thiệu về các thuốc điều trị HIV 3
1.2. Tình hình sử dụng thuốc HIV ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay 6
1.3. Các phƣơng pháp phân tích định lƣợng thuốc HIV 7
1.3.1.Các phƣơng pháp sắc ký 7
1.3.2.Phƣơng pháp điện di mao quản (Capillary electrophoresis-CE) 8
1.4. Giới thiệu chung về phƣơng pháp điện di mao quản 9
1.4.1. Nguyên tắc của phƣơng pháp điện di mao quản 9

3.1.14. Định tính 3TC, AZT và NVP trong điều kiện điện di thiết lập 47
3.2. Đánh giá phƣơng pháp phân tích. 50
3.2.1. Khảo sát tính tƣơng thích hệ thống 50
3.2.2 Tính đặc hiệu 50
3.2.3. Khảo sát khoảng tuyến tính và lập đƣờng chuẩn 52
3.2.4. Giới hạn phát hiện (LOD) và giới hạn định lƣợng (LOQ) 56
3.2.5. Độ lặp lại của phƣơng pháp 57
3.2.6. Độ đúng của phƣơng pháp 58
3.2.7. Kết quả định lƣợng trong chế phẩm 61
3.3. Ƣu nhƣợc điểm của phƣơng pháp điện di mao quản điện động học kiểu Mixen
(MEKC) 63
3.4. Hƣớng phát triển của đề tài 64
KẾT LUẬN 65 DANH MỤC CÁC BẢNG
STT bảng
Tên bảng
Trang
1.1
Các chất hoạt động bề mặt dùng trong MEKC
19
3.1
Tổng kết các điều kiện điện di tối ƣu
47
3.2
Kết quả khảo sát tính tƣơng thích hệ thống
49
3.3
Diện tích pic trên điện di đồ và nồng độ 3TC tƣơng ứng

3.12
Kết quả khảo sát độ đúng của phƣơng pháp trên thêm
chuẩn NVP
60
3.13
Kết quả định lƣợng viên nén Avocomb-N
61
3.14
Kết quả định lƣợng viên nén Lamivudine 150mg &
Zidovudine 300mg
62 DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
1.1
Sơ đồ nguyên tắc cấu tạo của hệ điện di mao quản
11
1.2
Quá trình tách các chất trong CZE
13
1.3
Cấu trúc của Mixen và dòng EOF trong MEKC
15
1.4
Cấu trúc không gian của β- cyclodextrin
20
1.5

Điện di đồ của chuẩn hỗn hợp 3TC, AZT và NVP tại
điều kiện tối ƣu
48
3.10
Điện di đồ của chuẩn hỗn hợp 3TC, AZT và NVP sau khi
thêm 3TC tại điều kiện tối ƣu
49
3.11
Điện di đồ của chuẩn hỗn hợp 3TC, AZT và NVP sau khi
thêm AZT tại điều kiện tối ƣu
49
3.12
Điện di đồ của chuẩn hỗn hợp 3TC, AZT và NVP sau khi
thêm NVP tại điều kiện tối ƣu
49
3.13
Điện di đồ mẫu trắng
51
3.14
Điện di đồ của chuẩn hỗn hợp 3TC, AZT và NVP
51 3.15
Điện di đồ của chế phẩm làm việc 3TC, AZT và NVP
51
3.16
Điện di đồ của chế phẩm làm việc 3TC, AZT và NVP
thêm hỗn hợp chuẩn
52

ARV
Thuốc kháng virut
USP
Dƣợc điển Mỹ (United State Pharmacopiea)
CE
Điện di mao quản (Capillary Electrophoresis)
CEC
Điện sắc ký mao quản (Capillary Electrochromatography)
CGE
Điện di mao quản gel (Capillary Gel Electrophoresis)
CZE
Điện di mao quản vùng (Capillary Zone Electrophoresis)
DAD
Detector mảng diod (Diod Array Detector)
EOF
Dòng điện thẩm (Electro- osmotic Flow)
HPLC
Sắc kí lỏng hiệu năng cao (High Performance Liquid
Chromatography)
MEKC
Sắc ký điện động micell (Micellar Electrokinetic
chromatography)
S
pic
Diện tích pic
t
m
Thời gian di chuyển (Migration times)
SD
Độ lệch chuẩn (Standard Deviation)

giảm 10% [12].
HIV/AIDS đang là vấn đề lớn hiện nay trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam.
Ở nƣớc ta Thành Phố Hồ Chí Minh là nơi có nhiều ca nhiễm HIV/AIDS nhất
(Sau đó là Hội An, An Giang, Hải Phòng, Quảng Ninh, ). Chúng ta không chỉ
ngăn chặn sự lây lan của bệnh mà còn điều trị hiệu quả để giảm nguy cơ tử vong
kéo dài và cải thiện chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời HIV/AIDS. Trong điều trị
thì kháng Retrovirut đóng vai trò rất lớn. Trƣớc đây nƣớc ta chƣa đầy đủ các loại
thuốc Retrovirut nên thƣờng dùng đơn hóa hoặc phối hợp hai loại thuốc trong
điều trị HIV/AIDS. Giờ có thể kết hợp 3 hoặc 4 loại thuốc trong những trƣờng
hợp lâm sàng nặng hơn. Hiện nay, nƣớc ta đã sản xuất đƣợc thuốc chống HIV là
Lamididrir (Lamivudine 150mg + Zidovudine 300mg). Tuy nhiên phần lớn vẫn
đang sử dụng thuốc kháng HIV theo chƣơng trình quốc gia đƣợc cấp [12]
Để đảm bảo trong điều trị, an toàn trong sử dụng, việc quản lý chất lƣợng
thuốc kháng HIV là rất cần thiết. Vì vậy cần có phƣơng pháp phân tích có độ tin
cậy cao, nhanh nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát tốt chất lƣợng thuốc HIV.
Cho tới nay sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) là phƣơng pháp phân tích hóa lý
đa số đƣợc sử dụng để định lƣợng các loại thuốc. Ƣu điểm của phƣơng pháp này
là độ lặp lại, độ chính xác và khả năng tách tốt. Đồng thời thiết bị HPLC hiện đã
2

đƣợc tích hợp với hầu hết các kỹ thuật hóa lý hiện có (phổ UV-VIS, phân tích
điện hóa, MS, NMR,…) cho phép nâng cao độ nhạy và hạ thấp giới hạn phát
hiện của phƣơng pháp. Tuy vậy, phƣơng pháp HPLC đòi hỏi sử dụng dung môi
có độ tinh khiết cao, đắt tiền, có nhiều loại gây ảnh hƣởng xấu, gây ô nhiễm môi
trƣờng. Đó là xuất phát điểm của việc lựa chọn và phát triển phƣơng pháp định
lƣợng thuốc dựa trên kỹ thuật hóa lý khác thay thế cho HPLC mà chúng tôi thực
hiện trong nghiên cứu này. Kỹ thuật tách mà chúng tôi lựa chọn làm cơ sở cho
nghiên cứu này là điện di mao quản (CE) [15].
CE là phƣơng pháp mới đƣợc phát triển, tuy nhiên có nhiều ƣu điểm vƣợt
trội là hiệu lực tách rất cao, kinh tế và đặc biệt là thời gian phân tích nhanh có

Qua nghiên cứu, ngƣời ta thấy không nên đơn hóa trị liệu mà nên phối hợp các
thuốc nhóm 1 với nhau và với một thuốc nhóm 2 hoặc với một thuốc nhóm 3 để đạt
đƣợc hiệu quả điều trị cao.
Phác đồ phối hợp Lamivudin, Zidovudin và Nevirapin trong điều trị
Lamivudin và Zidovudin có cấu trúc tƣơng tự nucleosid có tác dụng kháng
retrovirus bao gồm cả HIV-1 và HIV-2 do ức chế enzym phiên mã ngƣợc của virus.
Hai thuốc này đƣợc sử dụng phối hợp trong liệu pháp kháng retrovirus để điều trị
HIV. Bệnh nhân uống 3TC, AZT kết hợp Nevirapine trong 6 tháng cho kết quả khá
khả quan. Các chỉ số đánh giá tình trạng bệnh nhân đƣợc cải thiện rõ rệt và có ý
nghĩa thống kê. Ngƣời bệnh tăng cân, có số lƣợng tế bào lymphocyte tăng rõ rệt (từ
1273/mm
3
lên 1547/mm
3
), số lƣợng tế bào CD4 từ 70/mm
3
lên 145/mm
3
làm cho số
lƣợng tế bào CD4 bị phá hủy giảm đi. Nhƣ vậy, phác đồ D4T/3TC/NVP có thể
khống chế sự phát triển của virus. Liệu pháp kháng retrovirus làm tăng thời gian
sống sót của ngƣời bệnh có số lƣợng tế bào CD4 dƣới 500 trong 1mm
3
. Liệu pháp
này cũng có thể dùng cho những ngƣời bệnh có mật độ virus HIV trên 30000/ml
huyết tƣơng, không phụ thuộc vào số lƣợng tế bào CD4, vì mật độ HIV là một yếu
tố tiên lƣợng sự tiến triển của bệnh [12].
4

Liều dùng dựa trên thể trọng và tuổi của ngƣời bệnh, bệnh lý mắc kèm.

Hằng số pK
a
= 3,31.
Lamivudin hấp thụ UV ở bƣớc sóng hấp thụ cực đại là 278nm; A
1%
1cm
trong H
+
1M
~ 600 abs
Sau khi uống Lamivudin khoảng 1giờ, sinh khả dụng 80%, không bị ảnh hƣởng bởi
thức ăn. Đạt T
max
khoảng 1h sau khi dùng thuốc. Nồng độ đỉnh sau khi uống 150mg
là khoảng 1,5μg/ml.
5

*Zidovudin:
(AZT)
Công thức phân tử C
10
H
13
N
5
O
4

N
4
O. Phân tử lƣợng 266.888 g/mol.
Tên khoa học:
6

11-cyclopropyl-4-methyl-5,11-dihydro-6H- dipyrido[3,2-b:2′,3′-e][1,4]diazepin-6-
one
Tính chất : Bột kết tinh màu trắng hoặc gần nhƣ trắng. Thực tế không tan trong
nƣớc, ít tan trong CH
3
Cl.
Năng suất quay cực + 60,5
0
→ + 63,0
0
( C = 1% trong EtOH) ; + 99
0
(C = 0,5%
trong nƣớc)
Hằng số pK
a
= 2,42.
Sau khi uống Nevirapin khoảng 4 giờ, sinh khả dụng > 90%, không bị ảnh hƣởng
bởi thức ăn hoặc thuốc kháng acid. Đạt T
max
khoảng 4h sau khi dùng liều duy nhất.
1.2. Tình hình sử dụng thuốc HIV ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay
Tính đến 31/5/2012, trên toàn quốc có 66.191 ngƣời nhiễm HIV trong đó có
62.654 ngƣời lớn và 3.537 trẻ em, đạt 94,6% kế hoạch năm 2012. Kết quả báo cáo

ngày uống 1 lần.[10]
Kể từ ca nhiễm HIV đƣợc phát hiện đầu tiên tại Mỹ từ năm 1981, cho đến nay
loài ngƣời đã trải qua 30 năm đối phó với một đại dịch quy mô lớn, phức tạp, tính
đến cuối năm 2009, có 33,3 triệu ngƣời đang bị nhiễm HIV, tỷ lệ ngƣời nhiễm HIV
trong nhóm tuổi 15-49 là 0,8%. Riêng năm 2009 ƣớc tính có 2,6 triệu ngƣời nhiễm
mới HIV và 1,8 triệu ngƣời tử vong do AIDS. So sánh với năm 1999, số ngƣời
nhiễm mới HIV đã giảm 21%. Báo cáo UNAIDS cũng ghi nhận tính cuối năm 2009
đã có 33 nƣớc có số ca nhiễm mới giảm, trong đó 22 nƣớc khu vực cận Saharan,
Châu Phi. Tuy nhiên hiện vẫn còn 7 nƣớc tỷ lệ nhiễm mới tăng trên 25% khi so
sánh giữa năm 1999 và 2009[11].
1.3. Các phƣơng pháp phân tích định lƣợng thuốc HIV
1.3.1. Các phƣơng pháp sắc ký (HPLC & HPTLC)
Trong những năm gần đây, phƣơng pháp HPLC đã đóng một vai trò vô cùng
quan trọng trong việc tách và phân tích các chất trong mọi lĩnh vực khác nhau, nhất
là trong việc tách và phân tích lƣợng vết các chất. Phƣơng pháp HPLC với cột tách
pha đảo đƣợc sử dụng rất rộng rãi để xác định thuốc HIV trong các loại mẫu khác
nhau do có nhiều ƣu thế so với các phƣơng pháp khác vì có độ chính xác, độ nhạy,
độ lặp lại cao, khoảng tuyến tính rộng…
Detector ghép nối trong máy HPLC cho phép phát hiện sự xuất hiện chất sau khi
rửa giải. Hiện nay có rất nhiều loại detector đƣợc sử dụng cho mục đích này đã mở
rộng khả năng phân tích đƣợc rất nhiều loại chất bằng phƣơng pháp HPLC. Đối với
8

phân tích dƣ lƣợng, detector khối phổ (MS) là một sự lựa chọn ƣu tiên do có thể
phát hiện và phân tích chất trong các đối tƣợng phức tạp.
Phƣơng pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao pha đảo (RP-HPLC) với pha động là
20mM đệm Natri photphats (8mM muối Natrioctanesulphonic acid) : axetolnitril
(04:01,v/v), pH= 3,5 điều chỉnh bằng acid photphoric. Pha tĩnh là Cột C18-ODS
Hypersil (5µm x 250mm x 4,6mm). Thời gian lƣu của mỗi chất là Stavudine là 2,85
phút, Lamivudine là 4,33 phút và Nevirapine là 8,39 phút.[26]

9

kính trong 50 µm, chiều dài 48 cm, chiều dài hiệu quả 39,5 cm, nhiệt độ cột 25
0
C,
điện thế 15 kV, bƣớc sóng phát hiện 270 nm… Về định lƣợng lamivudin trong chế
phẩm, với dung dịch đệm natri tetraborat (pH khoảng 9,2) và sự hiện diện của chất
hoạt động bề mặt là SDS (sodium dodecyl sulfat) có thể phân tích đồng thời
lamivudin và chất phối hợp zidovudin…; điều kiện điện di thích hợp là: cột mao
quản silaca nung chảy, đƣờng kính trong 50 µm, chiều dài 48 cm, chiều dài hiệu
quả 39,5 cm, nhiệt độ cột 25
0
C, điện thế 15 kV, bƣớc sóng phát hiện 270 nm, dung
dịch đệm natri tetraborat 50 Mm chứa 50 mM SDS [9]
Micellar điện động sắc ký (MEKC) phƣơng pháp để tách và định lƣợng đồng
thời lamivudine và zidovudine trong dƣợc phẩm đã đƣợc phát triển. Các yếu tố ảnh
hƣởng đến sự tách, chẳng hạn nhƣ pH, nồng độ chất hoạt động bề mặt (sodium
dodecyl sulfate, SDS), dung môi hữu cơ và điện áp áp dụng đã đƣợc tối ƣu
hóa. Dung dịch điện ly nền bao gồm 12,5 decahydrate tetraborat mM sodium và 15
mM axit boric điều chỉnh pH 10,8, có chứa 90 mM SDS 5% (v / v) acetonitrile
(ACN) đã đƣợc khảo sát là phù hợp cho việc tách các loại thuốc. p-aminobenzoic
acid (PABA) đã đƣợc sử dụng nhƣ là chất chuẩn nội (IS). Phát hiện chất phân tích
và IS đƣợc thực hiện ở bƣớc sóng 210 nm. Điện di đồ đã đƣợc quan sát thấy rằng cả
hai loại thuốc và IS đã đƣợc di chuyển trong vòng 20 phút ở điện áp 10 kV. Đánh
giá của phƣơng pháp này đã đƣợc thực hiện về tính chính xác, độ tuyến tính, độ
đúng, giới hạn phát hiện (LOD) và định lƣợng (LOQ). Khoảng tuyến tính từ 10-80
mg / ml cho Lamivudine và 10-100 mg / ml cho Zidovudine. Các giới hạn phát hiện
cho Lamivudine và Zidovudine đƣợc tìm thấy là 2,5 và 2,0 mg / ml, tƣơng
ứng. Phƣơng pháp đã đƣợc áp dụng để xác định đồng thời Lamivudine và
Zidovudine trong huyết tƣơng. Độ thu hồi của cả hai thuốc ở dạng bào chế viên

quản là cơ chế di chuyển khác nhau của chất tan ( chất phân tích ), dƣới tác dụng
của lực điện trƣờng E nhất định (Electric Field Force: EFF) và tính chất (đặc trƣng)
của dòng điện di thẩm thấu (Electro-Osmotic Flow: EOF), trong sự phụ thuộc vào
điện tích và kích thƣớc của chúng. (Trong đó dòng EOF gọi là dòng điện di thẩm
thấu, hay dòng điện thẩm).
1.4.2. Thiết bị của phƣơng pháp điện di mao quản
Trang thiết bị của hệ: Theo nguyên tắc, để thực hiện điện di, hệ thống máy
phải có các bộ phận chính nhƣ sau:
1. Buồng điện cực, bình điện di và các điện cực trơ (Au hay Pt).
2. Cột tách (cột mao quản hay gọi tắt là mao quản),
3. Nguồn cấp thế cao một chiều (15-40 kV), tạo lực điện trƣờng E, để điều khiển
quá trình điện di của các chất.
4. Bộ phận nạp mẫu vào mao quản (cột tách).
5. Bô
̣
phâ
̣
n pha
́
t hiê
̣
n ca
́
c chất sau khi ta
́
ch (detector).
6. Bộ phận điều nhiệt cho mao quản.
7. Bộ phận ghi nhận sắc đồ tách của các chất trong hỗn hợp mẫu.
Các bộ phận này có thể xem trong sơ đồ nguyên lý mô tả ở hình 2.1


Sắc ký điện di mao quản rất đa dạng, nhiều kiểu, từ đơn giản đến hoàn chỉnh
và phức tạp, nhƣng tuỳ theo cơ chế, bản chất, và đặc điểm của sự tách (sự điện di)
xẩy ra trong ống mao quản mà ngƣời ta thƣờng phân chia thành các loại hay các
kiểu (Mode) khác nhau, và gán cho mỗi kiểu một tên riêng, để dễ hiểu, hay phân
biệt và sử dụng chúng cho thích hợp. Cụ thể các kiểu đó là:
1. Điện di mao quản vùng (Capillary Zone Electrophoresis: CZE)
2. Điện di mao quản điện động học kiểu Mixen (Micell), (Micellary Capillary
Electro-Kenetic:MEK hay MCEK).
3. Điện di mao quản Gel-Filter (sàng lọc hay rây phân tử), (Capillary Gel
Electrophoresis: Gel-CE),
4. Điện di mao quản hội tụ đẳng điện (Capillary Iso-electric Focusing : CIEF).
5. Điện di mao quản đẳng tốc độ (Capillary Iso-Tacho-Phoresis: CITP).
1.4.5 Điện di mao quản vùng (CZE)
Điện di mao quản vùng (Capillary Zone Electrophiresis- CZE) là phƣơng pháp
phân tích cơ bản nhất của kỹ thuật CE vì đơn giản, linh hoạt và dễ thao tác. Phƣơng
pháp này có phạm vi ứng dụng rộng trong việc tách và phân tích nhiều loại hợp chất
khác nhau, bao gồm các amino acid, peptid, các hợp chất cấu tạo ion, các hợp chất
đồng phân không gian và nhiều loại hợp chất có khả năng ionic hóa [8].
Đây là phƣơng pháp tách dựa trên sự di chuyển của chất tan có điện tích trong
điện trƣờng với tốc độ khác nhau tùy thuộc vào độ linh động điện di của chúng. Độ
linh động điện di là đại lƣợng phụ thuộc vào điện tích ion, chính xác hơn là tỷ lệ
giữa điện tích và khối lƣợng của ion, bán kính của ion, trạng thái của ion nhƣ mức
độ ion hóa, trạng thái liên kết với các đối ion. Do đó độ linh động điện di phụ thuộc
vào hằng số điện môi, pH, độ nhớt của dung dịch Khi ta đặt một điện áp cao vào
13

hai đầu mao quản, các tiểu phân tích điện sẽ bắt đầu di chuyển, tất nhiên là về phía
điện cực trái dấu. Các ion có độ linh động cao hơn sẽ di chuyển nhanh hơn, hình
thành các vùng mà ở từng vùng, các ion tại đó có độ linh động điện di tƣơng tự
nhau. Mặt khác khi đặt một điện áp cao vào hai đầu của mao quản, ở một vùng pH

điều chỉnh bởi các chất hoạt động bề mặt nằm trong dung dịch điện di. Khi chất
hoạt động bề mặt ở nồng độ cao hơn nồng độ ngƣỡng của Mixen (giới hạn hình
thành Mixen, CMC: Critial Micellary Concentration), ví dụ chất hoạt động bề mặt
SDS (Sodium Dodecyl Sulfat), có CMC=9 mM, thì một tổ hợp của các phần tử tiểu
phân của chất hoạt động bề mặt đƣợc tích tụ lại và chúng hình thành (hay tạo ra)
trong ống mao quản các tổ hợp của các tiểu phân SDS. Nó chính là các Mixen (pha
tĩnh giả). Các Mixen này là các tiểu phân có đầu kị nƣớc của chất hoạt động bề mặt,
định hƣớng vào trung tâm của Mixen và để cho đầu ƣa nƣớc của nó ra ngoài và sẽ
tƣơng tác với ion chất đệm, hay ion chất tan. Nghĩa là đầu mang điện tích của chất
hoạt động bề mặt sẽ hƣớng ra chất đệm. Cấu trúc tiêu biểu của Mixen đƣợc mô tả
trong hình 2.3. Các Mixen ở đây hoạt động nhƣ một pha tĩnh. Các phân tử của chất
mẫu (chất phân tích) đƣợc phân bố vào trong cả Mixen và cả ở ngoài Mixen (trong
pha động) theo một cân bằng động học, có hằng số phân bố K
i
xác định, trong
những điều kiện nhất định đã đƣợc chọn để chạy điện di và mỗi chất tan X
i
sẽ có
một hằng số phân bố K
i
nhất định trong điều kiện đó. Nếu các K
i
của các chất tan là
khác nhau rõ rệt thì sẽ có đƣợc kết quả sắc kí điện di tốt.
Phƣơng pháp MEKC dùng để tách các chất phân tích có điện tích và không có
điện tích. Đối với các chất có điện tích, các Mixen loại này chuyển động hoặc là
cùng chiều hoặc là ngƣợc chiều với dòng EOF, là tuỳ thuộc vào điện tích của chất
15

hoạt động bề mặt và cấu trúc của Mixen . Các chất hoạt động bề mặt Aniônic, ví dụ

phụ, nhƣng lại đƣợc điều khiển bới lực điện trƣờng E của thế cao V giữa hai đầu
mao quản tạo ra, mà không phải bằng áp suất đẩy pha động nhƣ trong HPLC. Trong
kỹ thuật phân tích MEKC, các tính toán về hệ số dung tích k
i
‟, số đĩa N của cột mao
quản, độ phân giải R, cũng dựa trên cơ sở tƣơng tự với các tính toán của hệ sắc kí
cột LC, và tất nhiên có bổ sung thêm một số yếu tố cho thích hợp và đúng đắn hơn
cho hệ pha MEKC. Chính tỷ số giữa tổng số mol của chất tan (total moles of solute)
ở trong Mixen và tổng số mol của chất tan ở trong pha động (dung dịch đệm điện
di), cũng đƣợc xem nhƣ là dung lƣợng của cột mao quản, và nó đƣợc biểu diễn theo
công thức sau.
k
i
‟ = ( t
i
– t
0
)/[t
0
.(1- t
i
/t
mc
)] = K
i
.(V
MC
/V
MP
) (1)

t
i
= [ t
0
.t
MC
.( 1+ k
i
‟) ] / [ t
MC
+ t
0
.k
i
‟ ) ] (2)
Nếu nhƣ mà ( t
MC
<< t
0
.k‟ ) thì chúng ta lại có:
t
i
= [ t
MC
.( 1 + k
i
‟) ] / k
i
‟ ] (3)
Nghĩa là thời gian lƣu t

MC
: Nồng độ giới hạn chuẩn của Mixen (mol/l.)
V
mc
: Tốc độ trung bình của Mixen .
K
i
: Hệ số phân bố của chất thứ i ở trong và ngoài Mixen .
Và khi nồng độ Mixen không lớn, thì hệ số dung tích k
i
‟, và tốc độ của dòng EOF,
đƣợc tính nhƣ sau.
k
i
‟ = K
i
.v
mc
.( C
SP
- C
MC
) (5)
vEOF = ( 
e
+ 
MC
).E (6)
Cùng với các tham số t
R

đều giảm
dần ở tất cả các chất. Với các chất khác nhau, thì hệ số K
i
này cũng thay đổi rất
khác nhau. Đó chính cũng là yếu tố thuận lợi cho sự tách trong kỹ thuật điện di.
Đồng thời với các chất hoạt động bề mặt khác nhau thì cũng gây ảnh hƣởng đến hệ
số K
i
khác nhau.
Ngoài các đại lƣợng trên, độ phân giải R cũng là một thông số quan trọng
của kỹ thuật MEKC. Độ phân giải R
ij
của hai chất , ví dụ nhƣ I và J trong hệ MEKC
cũng đƣợc biểu thị bằng công thức sau đây theo ba thành phần cơ bản.

Trích đoạn Nội dung nghiên cứu Chọn phƣơng pháp bơm mẫu Lựa chọn cơ chế tách Khảo sát ảnh hƣởng của nồng độ chất tạo mixen SDS
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status