Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội cho sử dụng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh hà tĩnh (tóm tắt) - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------------------------

Phan Thị Thanh Nhàn

ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI
CHO SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG DẢI VEN
BIỂN TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN TÓM TẮT

Hà Nội – 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------------------------------

Phan Thị Thanh Nhàn

ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI
CHO SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG DẢI VEN
BIỂN TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số

: 60440301

LUẬN VĂN TÓM TẮT

liệu để phục hồi hệ sinh thái ven bờ theo hướng phát triển bền vững.
Chính vì vậy, đề tài:“ Đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên - kinh tế xã
hội cho sử dụng và phát triển nông nghiệp bền vững dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh”


được thực hiện nhằm nghiên cứu một cách đầy đủ tác động của điều kiện tự nhiên và
kinh tế - xã hội đến khai thác sử dụng dải ven biển cho phát triển nông nghiệplà đòi hỏi
hết sức cấp bách và có ý nghĩa rất lớn về kinh tế, xã hội và môi trường.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội dải ven biển tỉnh Hà
Tĩnh đến phát triển nông nghiệp.
- Đề xuất các giải pháp để phát triển nông nghiệp bền vững ở dải ven biển Hà
Tĩnh.
3. Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các loại đất ven biển (số lượng, đặc điểm, tính chất, sự phân bố)
- Các loại sử dụng đất
- Các loại cây trồng, vật nuôi chính gắn với các loại sử dụng đất
- Kinh tế hộ nông dân và cơ sở sử dụng đất để sản xuất
- Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan tới sử dụng dải ven biển cho
phát triển nông nghiệp.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu bao gồm 6 huyện và 1 thành phố ven biển của tỉnh Hà Tĩnh là:
TP Hà Tĩnh, huyện Nghi Xuân, Can Lộc, Thạch Hà, Lộc Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh. Ranh
giới vùng nghiên cứu được khoanh vẽ trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1/100.000 đối với vùng.
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường và tác động
tới sản xuất nông nghiệp ở dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh.
3.3.2. Nghiên cứu xác định các loại sử dụng đất, hiệu quả của các phương thức canh tác
hiện có ở dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh.

Khái niệm “Phát triển bền vững” ra đời rất muộn, lần đầu tiên xuất hiện vào năm
1987 trong báo “Tương lai của chúng ta” của ủy ban Môi Trường và phát triển của ngân
hàng thế giới (WB). Do đó, cho đến nay chưa có một định nghĩa nào thống nhất và hoàn
chỉnh. Một số khái niệm Khoa học Môi trường về “Phát triển bền vững”:
- Tại hội nghị thượng đỉnh về Phát triển bền vững (2002) tổ chức tại Johannesbug đã
xác định:
“Phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý hài hòa
giữa 3 mặt của sự phát triển bao gồm: tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và môi
trường. Hiện nay, khái niệm về “Phát triển bền vững” của WB được sử dụng rộng rãi hơn cả:
“Phát triển bền vững là một quá trình phát triển đáp ứng được những nhu cầu của thế hệ hiện
tại mà không ảnh hưởng đến nhu cầu của các thế hệ sau”.
1.1.3. Nông nghiệp phát triển bền vững
Theo định nghĩa của TAC/CCIARC (Ban cố vấn kỹ thuật thuộc nhóm chuyên gia
quốc tế về nghiên cứu nông nghiệp của Liên Hợp Quốc): Nông nghiệp bền vững phải bao
hàm sự quản lý thành công của tài nguyên thiên nhiên thỏa mãn nhu cầu của con người đồng
thời cải tiến chất lượng môi trường và gìn giữ được tài nguyên thiên nhiên.[16]
Những vấn đề đặt ra trong sản xuất nông nghiệp bền vững là: bảo vệ môi trường đất,
nước và khởi xướng một số hệ thống canh tác bền vững với mục đích kiến tạo một hệ thống
bền vững về sinh thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của con
người mà không hủy diệt đất đai, không làm ô nhiễm môi trường được thực hiện trên các mô
hình canh tác tổng hợp, canh tác bền vững trên đất dốc, phòng trừ sâu bệnh tổng hợp,…
1.2. Các nghiên cứu về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ở dải ven biển Việt Nam
1.2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên dải ven biển:
Dải ven biển là một hệ thống tự nhiên phức tạp có giá trị tài nguyên đặc thù khác hẳn
với các vùng lục địa và các vùng biển lân cận. Dải ven biển có các thuộc tính cơ bản sau:
- Là một hệ tự nhiên hoàn chỉnh, độc lập nhưng không cô lập.


- Có cấu trúc mang tính chuyển tiếp rõ rệt giữa lục địa và biển.
- Có cấu trúc dị phân phức tạp, gồm nhiều hệ tự nhiên cấp nhỏ hơn như các hệ cửa

- Các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội có liên quan tới sử dụng dải ven biển cho phát
triển nông nghiệp.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu bao gồm 6 huyện và 1 thành phố ven biển của tỉnh Hà Tĩnh là:TP
Hà Tĩnh, huyện Nghi Xuân, Can Lộc, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh. Ranh giới
vùng nghiên cứu được khoanh vẽ trên bản đồ địa hình tỷ lệ 1/100.000 đối với vùng.
2.2. Nội dung nghiên cứu
2.2.1. Đánh giá thực trạng điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trường và tác
động tới sản xuất nông nghiệp ở dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh.
2.2.1.1. Đánh giá các yếu tố về tự nhiên
2.2.1.2. Đánh giá các yếu tố về kinh tế - xã hội
2.2.1.3. Đánh giá các yếu tố về môi trường
2.2.2. Nghiên cứu xác định các loại sử dụng đất, hiệu quả của các phương thức
canh tác hiện có ở dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh.
2.2.2. 1. Nghiên cứu xác định các loại sử dụng đất dải ven biển.
2.2.2. 2. Nghiên cứu về kinh tế hộ liên quan tới sử dụng dải ven biển.
2.2.2. 3. Nghiên cứu các giải pháp sử dụng hợp lý dải ven biển.
2.2.3. Xác định khả năng khai thác, sử dụng dải ven biển tỉnh Hà Tĩnh cho phát
triển nông nghiệp bền vững.
2.3. Phương pháp nghiên cứu


1. Phương pháp kế thừa các thông tin, tư liệu đã có, trong đó có những tài liệu rất có
giá trị như: các kết quả nghiên cứu về số lượng, chất lượng đất cát biển và bãi bồi ven biển
của Viện QH&TKNN; các kết quả nghiên cứu về đất cát vùng TH - NA - HT; kết quả
nghiên cứu của báo cáo phát triển kinh tế ven biển của Viện nghiên cứu chiến lược, niên
giám thống kê Hà Tĩnh 2012…
2. Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa nghiên cứu về các loại hình sử dụng đất dải
ven biển để xác định khả năng khai thác, sử dụng và cải tạo chúng được phân theo các đối
tượng như sau:

- Cải thiện và bảo vệ môi trường đất
- Duy trì ổn định môi trường đất
- Ô nhiễm nhẹ môi trường đất
- Ô nhiễm nặng môi trường đất.
6. Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích hệ thống, được sử dụng để đánh giá
hiệu quả của các mô hình sử dụng đất và dự báo khả năng sử dụng đất.
Các phương pháp được áp dụng linh hoạt, đan xen, tuỳ thuộc vào các nội dung
nghiên cứu của đề tài.
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Những thuận lợi và khó khăn
*) Thuận lợi:
+ Dải ven biển được xác định là vùng có tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp
đặc biệt là nuôi trồng thủy hải sản.


+ Điều kiện tự nhiên thuận lợi và tiềm năng đất đai đa dạng phong phú là cơ sở
cho phát triển nông nghiệp toàn diện từ trồng trọt đến chăn nuôi và thủy sản.
+ Do dân số gia tăng, kinh tế phát triển nên thị trường các sản phẩm nông nghiệp
trong nước và thế giới tiếp tục mở rộng, sản phẩm nông nghiệp ngày càng chiếm lĩnh thị
trường thực phẩm. Mặc dù bị ảnh hưởng của suy giảm kinh tế thế giới, nhưng nông sản
vẫn được ưa chuộng, đặc biệt ở các nước công nghiệp phát triển; giá cả nông sản luôn ổn
định ở mức cao.
+ Công nghệ và kỹ thuật tiên tiến, đặc biệt là công nghệ sinh học phát triển nhanh
và mạnh, đã và đang tạo cơ hội cho việc áp dụng vào hoạt động nghiên cứu và sản xuất
nông nghiệp nói chung và dải ven biển nói riêng.
+ Nguồn nhân lực dồi dào, có kinh nghiệm thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
trong tương lai.
+ Việt Nam đã ra nhập WTO, đây là cơ hội lớn để mở rộng thị trường và cạnh
tranh bình đẳng với các nước xuất khẩu cùng mặt hàng nông sản.
*) Khó khăn và thách thức

+ Sự cạnh tranh trong xuất nhập khẩu nông sản trên thị trường thế giới ngày càng
khốc liệt, đặc biệt về yêu cầu chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ môi trường
sinh thái, thương hiệu sản phẩm đòi hỏi ngày càng cao và chặt chẽ hơn.
+ Trình độ công nghệ, kỹ thuật áp dụng trong sản xuất nông nghiệp của một số
nước trong khu vực đã đạt được ở mức cao, do đó chúng ta sẽ gặp phải khó khăn trong
việc cạnh tranh về giá và thị trường tiêu thụ sản phẩm.
+ Khi mặt bằng đời sống xã hội được nâng cao, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh
mẽ, tạo nhiều cơ hội việc làm tốt hơn cho lao động nông thôn thì việc thu hút lao động
tham gia sản xuất nông nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn.


+ Người dân hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp nhìn chung có trình
độ dân trí thấp, đặc biệt là khu vực ven biển. Điều đó sẽ gây khó khăn trong việc áp dụng
các công nghệ mới, tiên tiến vào sản xuất để tăng năng suất, sản lượng và bảo vệ môi
trường sinh thái.
+ Sự chồng chéo, mâu thuẫn trong việc sử dụng tài nguyên, phát triển các ngành
kinh tế như nông nghiệp, du lịch, công nghiệp, đặc biệt là ở các vùng ven biển ngày càng
trở nên gay gắt, phức tạp và khó giải quyết.
+ Hệ thống luật pháp, chính sách về biển, đảo còn thiếu đồng bộ, không ít điểm
chồng chéo, hiệu lực thi hành yếu, tổ chức triển khai thiếu phối hợp liên ngành, công tác
tổ chức hỗ trợ pháp lý cho người dân địa phương còn ít được chú ý. Tính thống nhất
trong quản lý nhà nước và yêu cầu thực hiện chủ trương phân cấp đang còn nhiều lúng
túng. Lựa chọn các phương thức tổ chức quản lý sản xuất nông nghiệp hiện nay đang là
một thách thức.
+ Đời sống của dân cư dải ven biển tham gia sản xuất nông nghiệp nhìn chung còn
nghèo, chịu nhiều rủi ro, mức độ an sinh thấp. Sự tham gia của cộng đồng địa phương
vào tiến trình quản lý còn rất thụ động, chưa làm rõ vấn đề sở hữu, sử dụng đất ven biển
và mặt nước biển cho người dân.
+ Việc quản lý tài nguyên vẫn còn theo tiếp cận chuyên ngành mà chưa hoàn toàn
theo tiếp cận hệ thống, tổng hợp, liên ngành, quản lý dựa vào hệ sinh thái và đồng quản

màu, 1 vụ lúa sang và có nguồn nước tưới chủ động; diện tích 1 lúa + 2 màu đề xuất 4.700 ha
do chuyển từ đất 1 lúa + 1 màu; diện tích 1 lúa + 1 màu được đề xuất 2.600 ha giảm 6.044 ha
so với hiện trạng do chuyển sang diện tích đất 1 lúa + 2 màu và chuyên rau màu; diện tích
đất 1 vụ lúa bấp bênh toàn vùng hiện còn 1.546,8 ha, diện tích đề xuất là 500 ha giảm
1.046,8 ha so với hiện trạng để chuyển sang đất chuyên màu.
- Đất lâm nghiệp hiện có 8.563,7 ha đề xuất sử dụng lên 8700 ha (tăng 136,2 ha)
trong đó rừng sú vẹt, đước là 815,4 ha, đề xuất tăng diện tích này lên 1.000 ha (tăng 184,46


ha so với hiện trạng) do sử dụng triệt để đất chưa sử dụng để giữ đất ngập triều kết hợp với
nuôi ngao, tôm tự nhiên. Phủ xanh toàn bộ diện tích đất trống là đất cồn cát, bãi cát bằng phi
lao, bạch đàn… nhưng diện tích có giảm đi 48,4 ha để tập trung hơn trồng sú, vẹt, đước…
- Nuôi trồng thủy sản là loại hình có hiệu quả kinh tế cao và đang có xu hướng mở
rộng. Chính vì thế đề xuất diện tích là 3.500 ha tăng 21 ha so với hiện trạng phát triển nuôi
tôm sú, tôm chân trắng, tôm rảo trong quá trình sản xuất phải có các biện pháp xử lý môi
trường để sản xuất bền vững.
- Đất làm muối đề xuất 240 ha giảm 2,1 ha do hiệu quả sản xuất không cao nên cũng
chuyển sang trồng rừng ngập mặn ven biển.
- Đất nông nghiệp khác (chủ yếu là đất dịch vụ phục vụ nông nghiệp) đề xuất 20 ha
tăng 12,4 ha do chuyển từ đất sản xuất nông nghiệp.
- Mở rộng diện tích chuyên màu (lạc, vừng) tăng thêm khoảng 731,8 ha nhằm tạo ra
sản phẩm có giá trị kinh tế cao từ diện tích lúa 1 vụ và cây lâu năm hình thành vùng chuyên
canh lạc, vừng như Kỳ Anh, Nghi Xuân (Hà Tĩnh).
- Đất trồng cây lâu năm duy trì diện tích khoảng 7.000 ha tập trung đầu tư cải tạo
vườn tạp, diện tích giảm 371 ha chuyển sang đất chuyên màu và cây CNNN.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Kết luận
1. Dải ven biển Hà Tĩnh có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp, nền kinh tế - xã hội còn phát triển thấp. Hiện nay, vùng nghiên cứu đã có phát



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status