Nghiên cứu quy hoạch lũ chi tiết sông trà lý, tỉnh thái bình - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-----------------------------

Trần Đức Tâm

NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH LŨ CHI TIẾT
SÔNG TRÀ LÝ TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------------------

Trần Đức Tâm

NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH LŨ CHI TIẾT
SÔNG TRÀ LÝ TỈNH THÁI BÌNH

Chuyên ngành: Thủy Văn Học
Mã số:604490

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THANH HÙNG

Hà Nội – 2012

I. Tính cấp thiết của đề tài..................................................................................6
II. Mục đích nghiên cứu......................................................................................9
III. Phạm vi nghiên cứu.....................................................................................10
IV. Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu............................................10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN.........................................................11
1.1 TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC NGHIÊN CỨU..........................................12
1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên...........................................................................12
1.1.2 Đặc điểm khí tượng thủy văn....................................................................18
1.2 HIỆN TRẠNG KINH TẾ XÃ HỘI VÀ PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT
TRIỂN................................................................................................................37
1.2.1 Hiện trạng kinh tế xã hội tỉnh Thái Bình..................................................37
1.2.2 Xu thế biến đổi các quá trình tự nhiên và xu thế phát triển kinh tế xã hội
.............................................................................................................................43
1.3 QUAN ĐIỂM MỤC TIÊU QUY HOẠCH PHÒNG CHỐNG LŨ...........47
1.3.1 Quan điểm quy hoạch................................................................................47
1.3.2 Mục tiêu quy hoạch...................................................................................48
1.3.3 Các chỉ tiêu tính toán thiết kế phòng chống lũ.........................................49
1.3.4 Mức đảm bảo phòng chống lũ tuyến sông................................................49

CHƯƠNG 2: TÍNH TOÁN LŨ THIẾT KẾ CHO SÔNG TRÀ
LÝ 52
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT MÔ HÌNH MIKE 11...............................................52
2.2 ỨNG DỤNG MÔ HÌNH TÍNH TOÁN THỦY LỰC CHO HỆ THỐNG
SÔNG TRÀ LÝ..................................................................................................57
2.2.1 Phạm vi nghiên cứu của mô hình thủy lực...............................................57
2.2.2 Biên tính toán mô hình thủy lực................................................................59
2.2.3 Tài liệu địa hình mạng lưới sông..............................................................59
2.2.4 Tài liệu thuỷ văn........................................................................................60
2.2.5 Tính toán mô phỏng thủy lực hệ thống sông............................................61

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài

6


Lưu vực sông Trà Lý nằm trọn trong đồng bằng Bắc Bộ, thuộc hạ lưu hệ
thống sông Hồng tiếp giáp với biển Đông. Sông Trà Lý có hướng chung là Tây Đông. Bắt đầu từ xã Hồng Minh, huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình, chảy quanh co,
uốn khúc qua Quyết Chiến, Đồng Phú, Đông Phù của huyện Đông Hưng, Thành
Phố Thái Bình, Đông Huy rồi đến Thái Hà, Thái Phúc của huyện Thái Thụy đổi
hướng Bắc-Nam đến Thái Thành, Thái Thọ cuối cùng tới Định Cư rồi đổ ra Vịnh
Bắc Bộ tại cửa Trà Lý. Sông dài 64 km, và là một con sông tự nhiên, mới chỉ chịu
tác động của con người là việc đắp đê hai bên bờ và ngăn các sông nhỏ bằng các
cống. Sông Trà Lý chảy dọc theo vùng kẹp giữa sông Hồng và sông Hóa, chia vùng
này thành hai hệ thống thủy lợi tách biệt: hệ thống bắc và hệ thống nam. Là vùng
đồng bằng ở hạ du sông Hồng lại ở ven biển nên hệ thống sông ngòi ở đây đều chịu
ảnh hưởng của chế độ thủy triều. Mặt khác chế độ thủy văn của sông này cũng chịu
ảnh hưởng của nguồn nước thượng lưu. Mùa lũ tăng dần từ tháng V đến tháng VIII
và hạ dần từ tháng IX.
Phòng chống lũ là chương trình ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế của
tỉnh Thái Bình nói riêng và của cả nước nói chung. Hệ thống công trình chống lũ
dọc theo sông Trà Lý chủ yếu là hệ thống đê sông, đê cửa sông, ngoài ra còn có
hàng chục km các tuyến đê bối, hàng trăm công trình dưới đê. Hệ thống đê đã phát
huy hiệu quả rất tốt, đảm bảo an toàn cho các vùng dân sinh kinh tế xã hội ven sông
trong suốt thời gian dài.
Tuy nhiên do sức ép của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, việc khai thác

Hồng, sông Thái Bình là Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hoà Bình, Phú Thọ, Hà Nội, Thái
Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Hải Phòng,
Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam và các tỉnh thượng nguồn của hệ thống
hai sông này. Tiêu chuẩn phòng, chống lũ giai đoạn 2007-2010 bảo đảm chống lũ
có chu kỳ 250 năm (tần suất 0,4%), lưu lượng tương ứng tại Sơn Tây 42.600 m 3/s;
giai đoạn 2010-2015 bảo đảm chống lũ có chu kỳ 500 năm (tần suất 0,2%), lưu
lượng tương ứng tại Sơn Tây 48.500 m3/s. Tiêu chuẩn phòng lũ đối với hệ thống đê:
tại Hà Nội bảo đảm chống được lũ tương ứng với mực nước sông Hồng tại trạm
Long Biên là 13,4 m và thoát được lưu lượng tối thiểu là 20.000 m 3/s; tại Phả Lại
bảo đảm chống được lũ tương ứng với mực nước sông Thái Bình tại trạm Phả Lại là

8


7,2 m. Đối với hệ thống đê điều các vùng khác bảo đảm chống được lũ tương ứng
với mực nước sông Hồng tại trạm Long Biên là 13,1 m, phần lưu lượng vượt quá
khả năng trên được sử dụng các giải pháp khác như: điều tiết hồ chứa, phân lũ,
chậm lũ, cải tạo lòng sông thoát lũ... Các giải pháp phòng, chống lũ hệ thống sông
Hồng, sông Thái Bình bao gồm: điều tiết các hồ chứa cắt giảm lũ; trồng rừng phòng
hộ đầu nguồn; củng cố và nâng cấp hệ thống đê điều; cải tạo lòng dẫn tăng khả năng
thoát lũ; thực hiện phân lũ, chậm lũ, tràn qua các đường tràn cứu hộ và có giải pháp
bảo đảm an toàn đê trong trường hợp tràn toàn tuyến; tổ chức cứu hộ đê.
Sông Trà Lý hiện tại chưa có quy hoạch phòng chống lũ chi tiết cho tuyến
sông, nên việc tổ chức quản lý và khai thác hợp lý các khu vực bãi sông kết hợp hài
hoà giữa đảm bảo phòng, chống lũ và phát triển kinh tế trung hạn và dài hạn còn
nhiều hạn chế, các công trình dự kiến xây dựng không triển khai được do chưa có
quy hoạch, do thiếu cơ sở pháp lý: Nhiều đoạn đê chưa bảo đảm yêu cầu thiết kế,
nhiều công trình dưới đê bị xuống cấp cần bổ sung, nâng cấp; Vấn đề vi phạm hành
lang thoát lũ sông trục và hành lang bảo vệ đê điều vẫn xảy ra thường xuyên; Việc
xác định chỉ giới thoát lũ cho các tuyến sông này cần được thực hiện.

Đối tượng nghiên cứu: Đường quá trình mực nước và lưu lượng tại các
trạm trên hệ thống lưu vực sông Trà Lý tỉnh Thái Bình.
IV. Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Hướng tiếp cận: Căn cứ vào tình hình thu thập tài liệu, nghiên cứu trên lưu
vực, tác giả lựa chọn hướng tiếp cận vừa mang tính kế thừa vừa đảm bảo tính sáng
tạo trong nghiên cứu.
Tổng hợp hệ thống, xem xét các thành phần tương tác lẫn nhau như: địa
hình, địa chất, thổ nhưỡng, khí hậu, nước, sinh vật, con người, điều kiện kinh tế xã
hội, đặc điểm tình hình lũ lụt và những tác hại do lũ lụt gây ra...
Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây đã sử dụng mô hình 1
chiều và sử dụng mô hình 1 chiều tìm ra được phương án sử dụng các bỗi bãi
trong quá trình quy hoạch lũ cho sông Trà Lý tỉnh Thái Bình.

10


Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp mô hình thủy lực mô phỏng quá
trình thủy động lực học trên hệ thống sông Trà Lý.

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

11


1.1 TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Sông Trà Lý có hướng chung là Tây - Đông. Bắt đầu từ xã Hồng Minh,
huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình, chảy quanh co, uốn khúc qua Quyết Chiến của
huyện Đông Hưng, Thành Phố, TP Thái Bình, Đông Mỹ, Đông Huy rồi đến Thái

Hoá… đã chia cắt đồng bằng nói chung và tỉnh Thái Bình ra thành nhiều ô riêng
biệt, có những vùng trũng úng và cũng có những cồn cát cao 2-3 mét. Giữa sông
Trà Lý và sông Hồng có khoảng 25 dải song song tạo thành vùng đất cồn rộng 30
km, cao hơn mặt ruộng 1-2 m, có các làng mạc ở trên đó. Cũng do quá trình khai
hoang lấn biển, qua nhiều năm đất đai đã được mở rộng ra phía biển theo hướng
Đông và Đông Nam.
Cao trình mặt đất trung bình phía bắc tỉnh Thái Bình khoảng +1 ÷ +2.5m
Cao trình mặt đất trung bình phía nam tỉnh Thái Bình khoảng: +0.5 ÷ +1.75m.
Các đường giao thông có cao độ từ +1.75 - +2.5 m.
c. Hệ thống sông ngòi
Diện tích lưu vực sông Hồng và sông Thái Bình là 169.020 km 2, trong đó
phần lưu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam là 86.720 km 2, tức chiếm 51%. Riêng lưu
vực sông Hồng tính đến Sơn Tây là 143.700 km 2, sông Thái Bình là 12.680 km2,
vùng đồng bằng gồm cả sông Tích, sông Bôi là 12.640 km 2. Hệ thống sông Hồng,
sông Thái Bình được hợp thành bởi các lưu vực sông sau đây:
• Sông Thao (dòng chính sông Hồng) bắt nguồn từ dãy Ngụy Sơn - Trung
Quốc có diện tích lưu vực 51.800 km 2, tổng chiều dài 843 km. Thuộc
lãnh thổ Việt Nam có diện tích 12.000 km 2 và chiều dài tới Việt Trì 332
km.
• Sông Đà, chi lưu bên phải cũng bắt nguồn từ dãy Nguỵ Sơn chảy vào
Việt Nam theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và song song với sông Thao.
Sông Đà có diện tích lưu vực là 52.900 km 2, chiều dài 1010 km. Trên
lãnh thổ Việt Nam có diện tích 26.800 km2 và chiều dài 570 km.
• Sông Lô bắt nguồn từ cao nguyên Vân Quý Trung Quốc, đầu nguồn cũng
chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, tới thị xã Hà Giang thì chuyển

13


hướng Bắc Nam và nhập vào sông Hồng ở gần Việt Trì, sông Lô có diện



Bình đang bị bồi lắng rất mạnh ở nhiều đoạn, đặc biệt đoạn Quý Cao).
Hướng nước sông Thái Bình đang chuyển dần sang sông Văn Úc qua các
sông ngang: sông Gùa, sông Mía, sông Mới. Vì vậy, đoạn cửa sông Thái
Bình gần biển có nguy cơ bị lắng đọng và chết dần.
Từ khi có hệ thống đê hoàn chỉnh và sau đó là các cống dọc theo đê, một
số cửa sông chỉ còn được thông nước khi mở cống lấy hoặc khi tiêu nước.
• Sông Trà Lý: Sông Trà Lý là phân lưu của dòng chính sông Hồng,
chuyển tải một lượng nước khá lớn trong năm, tham gia quá trình ngọt
hoá vùng ven biển của tỉnh Thái Bình, tiêu thoát bớt một lượng lũ đáng
kể của sông Hồng ra biển, làm giảm sự căng thẳng cho đoạn đê cuối sông
Hồng. Sông Trà Lý có hướng chung là Tây – Đông. Bắt đầu từ xã Hồng
Minh, huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình, chảy quanh co, uốc khúc qua
Quyết Chiến, Đồng Phú, Đồng Phú của huyện Đông Hưng, TP. Thái
Bình, Đông Mỹ, Đông Huy rồi đến Thái Hà, Thái Phúc của huyện Thái
Thuỵ đột ngột đổi hướng Bắc – Nam đến Thái Thành, Thái Thọ cuối
cùng tới Định Cư rồi đổ ra Vịnh Bắc Bộ tại cửa Trà Lý. Sông dài 64 km.
Sông Trà Lý vẫn là sông thiên nhiên, mới chỉ có tác động của con người
là đê được đắp hai bên bờ và ngăn các sông nhỏ bằng các cống.
Sông Trà Lý chảy qua vùng đất thấp, cốt đất đoạn cửa vào phổ biến là
khoảng (+1,0)m và đoạn cửa ra khoảng trên dưới (+0,75m). Riêng vùng
Bắc Thái Bình có 24200 ha ruộng có cốt đất thấp dưới (+1,00m) về vụ
mùa thường hay bị ngập úng; có 15100 ha ruộng có cốt đất nhỏ hơn
(+0,75)m. Vùng Nam Thái Bình cũng ở tình trạng như vậy (hướng dốc ra
cửa Lân).
Ngày nay đê sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Hoá đã hình thành
khá hoàn chỉnh, căn bản ngăn được lũ hạ lưu sông Hồng. Tuy còn một số đoạn đê
chất lượng nền móng kém, nhưng thân đê ngày càng được kiên cố hơn.
Hệ thống đê và các cống lấy nước phía bờ hữu sông Luộc, tả sông Hồng, hữu

Giang được liên hệ với sông Trà Lý, sông Hồng nhờ có các cống lấy nước qua đê
hữu sông Trà Lý, để tả sông Hồng và các đoạn sông kênh ngang hình xương cá.

16


Các cống lấy nước tưới ở dọc bờ đê hữu sông Trà Lý: Cự Lâm, Nang, Ô Mễ,
Tam Lạc, Vũ Đông, Ngữ, Dục Dương. Các cống lấy nước tưới ở dọc bờ đê tả sông
Hồng: Tân Đệ, Ngô Xá, Thái Hạc, Cù Là, Nguyệt Lâm.
Các cống tiêu chính là Lãng Đông, Ngũ Thôn, Tam Đồng, Ngặt Kéo, Định
Cư (sông Trà Lý), Bồng He, Doãn Đông, Khổng, Sáu (sông Hồng), An Long, Nho
Lâm, Hoàng Môn, Cống Lân I, Lân II (Cửa Lân ra Vịnh Bắc Bộ).
c. Đặc điểm hình thái và diễn biến sông Trà Lý
Sông Trà lý dài khoảng 64 km, sông quanh co uốn khúc, nhiều đoạn sông có
bán kính cong khá nhỏ khoảng trên dưới 500m, nhưng cũng có đoạn bán kính cong
lớn khoảng một vài nghìn mét. Bề rộng của sông cũng biến thiên lớn, nhiều đoạn
sông có bề rộng chỉ khoảng hơn trăm mét, nhiều đoạn rộng đến vài trăm mét.
Bảng 1. Các thông số lòng dẫn sông Trà Lý
TT

Đoạn sông cong

1
2
3
4
5
6
7
8

1650

Sông Trà Lý có xu thế gia tăng lượng nước về mùa lũ làm gia tăng nguy cơ
mất ổn định đê, đe dọa an toàn dân sinh, kinh tế xã hội.
Lòng sông Trà Lý nhìn chung không ổn định, dễ biến động. Kết quả tính
toán cho thấy chỉ số ổn định theo chiều ngang φ' h và φb dao động trong khoảng nhỏ
hơn 1.0
d. Khả năng thoát lũ của sông Trà Lý
Sông Trà Lý đóng vai trò quan trọng trong thoát lũ hệ thống sông Hồng. Nếu
lấy coi lượng lũ thoát qua Sơn Tây là 100% thì lượng lũ phân qua sông Trà Lý dao
động trong khoảng 8% -11% tùy theo trận lũ và tùy địa hình lòng dẫn của sông Trà
Lý tương ứng với lòng dẫn của hệ thống sông Hồng.

17


-

Trong thời đoạn 1972 ÷ 1987 lưu lượng đỉnh lũ bình quân ở Sơn Tây là
17.540m3/s (coi 100%) thì phân lưu lượng lũ bình quân vào sông Trà Lý
1.380m3/s chiếm 8,6% lưu lượng sông Hồng ở Sơn Tây.

-

Lũ tháng VIII năm 1971 lớn nhất ở sông Hồng sau khi đã vỡ đoạn đê
Cống Thôn ở sông Đuống thì Qmax Hà Nội còn đạt 22.200m 3/s và lưu
lượng max qua sông Trà Lý 2.610m3/s.

-


vắt ngang qua đồng bằng Bắc bộ. Những áp thấp và bão phát triển dọc theo dải hội
tụ này gây lên những đợt mưa lớn có khi bao trùm toàn bộ vùng đồng bằng. Lượng
mưa trong vùng nghiên cứu đạt từ 250-350mm những năm do ảnh hưởng của bão
lượng mưa tháng VIII, IX tại Thái Bình đạt tới 924.7mm (1975), 963.7mm (2003),
tại Thụy Anh đạt 863.5mm (1975), 834.7mm (1973)
Tuy vậy thời tiết của những tháng này biến động rất mạnh mẽ tùy theo tần số
xuất hiện hàng năm của những nhiễu động thời tiết gây mưa lớn như bão và áp thấp
nhiệt đới. Năm ít mưa thì nắng nóng kéo dài lượng mưa chỉ đạt dưới 100mm. Tại
Thái Bình lượng mưa trung bình tháng nhỏ nhất đạt 43.8mm (VII/1968).
Sang tháng X gió mùa đông bắc từ lưỡi áp cao Trung Quốc bắt đầu tràn về
từng đợt làm nhiệt độ giảm và gây ra mưa rải rác ở các vùng. Lượng mưa trung bình
tháng chỉ đạt 9 -10% lượng mưa năm.
Mùa đông: bắt đầu từ tháng XI tới tháng III , gió mùa đông bắc đã ngự trị
hoàn toàn trong vùng nghiên cứu với trung bình từ 2 tới 4 đợt gió mùa Đông bắc
tràn về, nhiệt độ giảm xuống nhanh chóng và đạt thấp nhất vào tháng I. Nhiệt độ
trung bình tháng I đạt 16-16,8 0C, nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối đạt 4,5 tới 7,0 0C.
Lượng mưa trung bình tháng XII, I chỉ bằng 1,2 -1,5% lượng mưa năm.
Vào cuối mùa đông từ tháng II tới tháng IV áp cao Nam Trung Hoa dịch
chuyển sang phía đông gió mùa có hướng lệch sang đông bị biến tính khi thổi qua
biển Nam Hải nhiệt độ không khí cao hơn và độ ẩm tương đối đạt 90-91% bầu trời
u ám mây thấp và mưa phùn ẩm ướt, số ngày mưa lên đến 15-20 ngày mỗi tháng,
lượng bốc hơi piche giảm chỉ còn 30-40mm/tháng.
* Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình năm vùng nghiên cứu đạt 23,3 0C tại Thái Bình. Nhiệt độ
trung bình tháng cao nhất vào tháng VII đạt 29,2 0C, thấp nhất vào tháng I đạt
16,30C. Nhiệt độ tối cao đạt 39,20C vào tháng 5/VII/1967, nhiệt độ tối thấp đã quan
trắc được 4,10C vào 2/I/1974.
Bảng 2. Đặc trưng khí hậu tại trạm Thái Bình

19

87
87
84
83
83
86
59

43

42

51

82

102

115

76

70

84

86

76


nắng nhiều nhất là từ tháng V đến tháng VII, tháng nhiều nhất là tháng VII trong
năm, đạt 205 giờ/tháng, 6,6giờ/ ngày. Tháng có số giờ nắng ít nhất là từ tháng I đến
tháng III có từ 40 ÷ 70 giờ/ tháng đạt bình quân 1 đến 2 giờ/ ngày. Nhìn chung số
giờ nắng các tháng trong năm thuận lợi cho phát triển của cây trồng, đặc biệt là các
tháng mùa hè.
* Bốc hơi
Độ ẩm tương đối trung bình trong các tháng phổ biến đều vượt trên 80%. Độ
ẩm tháng này so với tháng khác biến đổi rất ít, giữa tháng ẩm nhất và tháng khô
nhất chỉ chênh nhau từ 5% đến 10%. Những ngày mùa đông khô hanh, độ ẩm có thể
giảm xuống dưới 20%. Trong những ngày mưa phùn, không khí có thể tăng lên đến
trên 90%.
*Gió, bão
Khí hậu miền Bắc Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu
trong năm hình thành hai mùa rõ rệt:
-Mùa hè nóng ẩm mưa nhiều
-Mùa đông lạnh, khô, ít mưa.
Sự tác động của hoàn lưu khí quyển tới địa hình lưu vực tạo nên chế độ khí
hậu riêng cho lưu vực sông.
Về mùa hè, khi giải áp thấp xích đạo vượt qua chí tuyến Bắc thì toàn bộ áp
thấp này phát triển rộng ra bao trùm cả Ấn Độ Dương, mặt khác nó tăng cường cho
áp thấp xích đạo. Thời điểm nay áp cao Xiberi đã yếu và tan đi, nhưng vùng cận

20


phía Nam bán cầu lại là vùng áp cao. Do vậy các khối khí đoàn ở đây bị hụt bởi áp
thấp và di chuyển sang Bắc bán cầu. Cơ chế gió mùa mùa hè được hình thành và
mang theo nhiều hơi ẩm từ biển vào lục địa, hệ quả cho mưa lớn.
Gió Tây Nam hoạt động mạnh từ tháng 5 đến tháng 8 và phân làm hai luồng
đi tới Bắc Việt Nam:

Trong đó xảy ra vào tháng IX có 37 trận, tháng VII có 35 trận và tháng VIII có 26
trận (cũng là những tháng xảy ra lũ lớn).
Tốc độ gió mạnh làm dâng mực nước biển. Trong 101 trận bão gây nước
dâng thống kê được từ Cửa Ông đến Cửa Đáy, thì có 35 trận gây nước dâng thấp
hơn 0,50 m, 38 trận gây nước dâng từ 0,5÷1,0 m, 17 trận gây nước dâng 1,00 ÷ 1,50
m, 8 trận gây nước dâng từ 1,50-2,00 m, 3 trận gây nước dâng 2,0-2,5 m và không
có trận gây nước dâng cao hơn 2,5 m.
Thời gian nước dâng từ 12-13 giờ, thời gian duy trì mực nước cao nhất
khoảng 3 giờ. Nước dâng gây ảnh hưởng lớn tới việc tiêu thoát nước ra biển và
vùng cửa sông, có khi gây ra tràn và vỡ đê biển làm đất vùng ven biển ngập nước
mặn (Theo đánh giá trong Báo cáo thủy văn Dự án Quy hoạch sử dụng Tổng hợp
nguồn nước lưu vực sông Hồng – sông Thái Bình 2006).
* Chế độ mưa
- Mưa năm: Nếu coi thời gian mùa nhiều mưa bao gồm những tháng có
lượng mưa lớn hơn lượng mưa bình quân tháng trong năm và đạt trên 50% tổng số
năm quan trắc thì mùa nhiều mưa ở lưu vực sông vùng nghiên cứu là từ tháng V
đến tháng X, mùa ít mưa từ tháng XI đến tháng IV năm sau.
Thành phần lượng mưa trong mùa nhiều mưa chiếm 80 ÷ 85% lượng mưa cả
năm, thành phần lượng mưa trong mùa ít mưa chỉ chiếm 15-20% lượng mưa cả
năm. Tuy nhiên thời kỳ mưa lớn nhất vùng nghiên cứu thường tập trung vào 3 tháng
là từ tháng VII đến tháng IX, thành phần lượng mưa trong các tháng này đều đạt từ
200÷300mm/tháng.
Thời kỳ ít mưa nhất trong vùng nghiên cứu thường tập trung vào 3 tháng, từ
tháng XII đến tháng II lượng mưa trong các tháng này chỉ đạt từ 15-30mm/tháng .
Lượng mưa trung bình nhiều năm vùng nghiên cứu từ 1500 -1700mm, tại
Thái Bình đạt 1683 mm.

22



555,6 mm (1966)
460,7 mm (1968)
462,7 mm (1975)
436,0 mm (1963)
472,8 mm (1978)
427,7 mm (1978)
426,6 mm (1978)

Bảng 4. Tổng lượng mưa trung bình tháng và năm vùng nghiên cứu
Đơn vị: mm
Tên trạm
Thái
Bình

Đặc
trưng
X(mm)
K%
X(mm)

Tiền Hải
K%
Kiến
Xương
Tiên
Hưng

X(mm)
K%
X(mm)

4
1.3
7
20.
7
1.3
1
21.
8

26.
7
1.5
8
28.
7
1.7
5
25.
7
1.6
3
25.
1

45.
0
2.6
8
40.

188.
1
11.1
8
154.
8

9.21

9.45

149.
4

162.
1
10.2
9
184.
7

224.
6
13.3
4
200.
7
12.2
5
191.

2
22.6
1
282.
1

202.
9
12.0
5
221.
7
13.5
3
177.
3
11.2
6
162.
0

70.
5
4.1
9
66.
9
4.0
8
62.

1683.1
100
1638.6
100
1575.2
100
1548.1


Tên trạm

Đặc
trưng
K%

Thái
Thụy
Thuyền
Quan
Bến
Hiệp

X(mm)
K%
X(mm)
K%
X(mm)
K%
X(mm)


6
1.5
0
23.
8
1.4
4
23.
3
1.4
8
25.
7
1.6
5

1.6
2
24.
3
1.4
8
28.
9
1.7
5
24.
8
1.5
8

72.
1
4.3
6
81.
1
5.1
6
69.
7
4.4
7

10.1
3
163.
4

11.9
3
190.
5
11.5
8
190.
6
11.5
2
186.
5

19.8
7
315.
5
19.0
7
294.
5
18.7
4
293.
5
18.8
3

18.2
2
319.
8
19.4
4
319.
8
19.3
3
276.
5
17.5
9
283.

1
4.1
8
58.
7
3.7
4
59.
6
3.8
2

1.6
4
21.
2
1.2
9
23.
3
1.4
1
23.
5
1.5
0
22.
8
1.4
7

Năm
100
1644.8
100
1654.1
100
1571.8
100
1558.6
100


toàn bộ lãnh thổ Việt Nam nằm trong lòng khối không khí gió mùa hoặc là Bắc Ấn
Độ Dương hoặc là Thái Bình Dương.
Từ tháng 8 gió mùa Tây Nam bắt đầu suy yếu, lưới áp cao Thái Bình Dương phát
triển về phía lục địa tạo ra sự quay hướng nhanh chóng của rãnh nội chí tuyến. Rãnh
hẹp lại và lùi về vĩ độ thấp đồng thời kéo dài đến lục địa Đông Nam Á . Vì vậy thường
từ tháng 8 mới thấy có hoạt động nội chí tuyến trên lãnh thổ Việt Nam. Trong tháng này
vị trí của nó thường vắt ngang eo biển Basy tới Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam với
hướng Tây - Tây - Bắc, Đông - Đông - Nam.
Tới đầu tháng 9 trục của rãnh hướng dần theo vĩ tuyến và có vị trí trung bình ở
khoảng Trung Bộ.
Sang tháng 10 vị trí trung bình của trục rãnh ở các vĩ độ thấp và nhanh chóng
lùi về phía Nam bán cầu.
Hội tụ nội chí tuyến hoạt động rõ nét nhất trong tháng 8 đặc biệt ở lưu vực
sông Thái Bình, sông Lô, Trung hạ lưu sông Thao và hạ lưu sông Đà.
Tuy nhiên có những năm gió mùa Tây Nam mạnh như năm 1964, 1990, 1991
thì ngay trong tháng 8 hội tụ nội chí tuyến cũng không thâm nhập được vào Bắc Bộ.
ngược lại năm 1992 gió mùa Tây Nam yếu nên ngay trong tháng 7 giải hội tụ nhiệt
đới đã xâm nhập nhiều lần vào lãnh thổ của các lưu vực sông Thái Bình, sông Lô,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status