Nghiên cứu quy hoạch môi trường thị xã Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp đến năm 2010 và định hướng đén năm 2020 - Pdf 18

Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS.TS Phùng Chí Sỹ
LỜI MỞ ĐẦU
Nước ta đang trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên tất cả các
lónh vực. Quá trình này đã mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế, góp phần phát
triển xã hội, cải thiện cuộc sống của người dân, giúp nước ta hội nhập vào nền
kinh tế thế giới; đồng thời cũng làm cho môi trường và tài nguyên chòu nhiều tác
động tiêu cực. Ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường, suy giảm tài nguyên, sự
thay đổi khí hậu toàn cầu, là những hậu quả do ảnh hưởng trực tiếp của việc sử
dụng tài nguyên thiên nhiên không hợp lý.
Vấn đề môi trường ngày càng trở nên nóng bỏng hơn. Nếu chúng ta không
có những biện pháp thích hợp, không quan tâm và bảo vệ môi trường tự nhiên thì
trong tương lai chúng ta sẽ tự hủy diệt chính mình. Để cuộc sống ngày một tốt
đẹp hơn, thò xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp nói riêng và thế giới nói chung phải góp
sức vào việc bảo vệ môi trường và tài nguyên theo hướng phát triển bền vững.
Trong đó, công tác quản lý môi trường là rất quan trọng.
Vì vậy, việc Nghiên cứu Quy hoạch Môi trường thò xã Sa Đéc, tỉnh
Đồng Tháp đến năm 2010 và đònh hướng đến năm 2020 là rất cần thiết, vì nếu
thiếu sự hoạch đònh, thiếu tính kế hoạch sẽ dẫn đến tác hại là gây lãng phí, chủ
quan, duy ý chí và những hậu quả tiếp theo sau đó mà ta phải trả giá đắt cho việc
làm nêu trên. Việc nghiên cứu quy hoạch môi trường là bước chuyển mới trong tư
duy chỉ đạo, điều hành, nhằm đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn và có tính
khả thi, hiệu quả cao. Nó hoàn toàn phù hợp với quy hoạch môi trường của tỉnh
Đồng Tháp và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội thời kỳ đến năm 2010
và đònh hướng đến năm 2020 của thò xã và của tỉnh.
SVTH : Từ Nguyệt Minh Trang 1
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS.TS Phùng Chí Sỹ
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, môi trường đang là vấn đề mang tính toàn cầu, được nhiều quốc
gia, nhiều tổ chức và cá nhân lưu tâm.

Từ đó phấn đấu nhằm đạt mục tiêu đưa thò xã Sa Đéc “năm 2010 trở thành
Thành Phố loại III và năm 2020 trở thành Thành Phố loại II” và là một thành phố
phát triển bền vững.
1.3. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI
- Điều tra, khảo sát thu thập các số liệu về điều kiện môi trường thò xã Sa
Đéc.
- Thu thập, phân tích các số liệu về hiện trạng qui hoạch phát triển kinh tế
xã hội và hiện trạng môi trường thò xã Sa Đéc.
- Đánh giá dự báo tác động môi trường do hoạt động phát triển kinh tế xã
hội trong quá trình thực hiện quy hoạch môi trường.
- Xác đònh các khía cạnh môi trường quan trọng hiện nay của thò xã.
- Xây dựng quy hoạch môi trường chuyên ngành phục vụ KT - XH.
- Đề xuất các chương trình dự án và các giải pháp tổng hợp BVMT.
- Phân công nhiệm vụ và tổ chức thực hiện.
1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.4.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu quy hoạch môi trường thò xã Sa Đéc là một trong những nghiên
cứu giúp ích rất nhiều trong các vấn đề cải thiện môi trường sống của người dân
Sa Đéc, để hoà nhập với xu hướng phát triển bền vững. Qui hoạch thò xã Sa Đéc
SVTH : Từ Nguyệt Minh Trang 3
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS.TS Phùng Chí Sỹ
theo quan niệm mới về cơ chế kinh tế xã hội, nền kinh tế có nhiều thành phần.
Tuy nhiên, để nghiên cứu và áp dụng vào thực tiễn thành công cần kết hợp xem
xét, điều tra hiện trạng thực tế của vùng nghiên cứu. Chính việc soát xét ban đầu
sẽ giúp đònh hướng cho công tác triển khai dự án qui hoạch vào cộng đồng. Qui
hoạch này đi kèm với các giải pháp mang tính khả thi về mặt môi trường và cải
thiện môi trường sống của cộng đồng dân cư, đóng một vai trò quyết đònh trong
chiến lược phát triển bền vững.
1.4.2. Phương pháp thực tế
- Kế thừa tất cả các kết quả nghiên cứu về môi trường đã có trên đòa bàn

- Đánh giá ảnh hưởng của các đòa phương khác trong vùng tới môi trường thò
xã Sa Đéc.
- Nghiên cứu quy hoạch môi trường cho các huyện/thò khác trong tỉnh Đồng
Tháp.
SVTH : Từ Nguyệt Minh Trang 5
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS.TS Phùng Chí Sỹ
CHƯƠNG 2
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ – XÃ HỘI
THỊ XÃ SÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
2.1.1. Vò trí hành chánh và đòa lý
Sa Đéc là một thò xã của tỉnh Đồng tháp, nằm bên bờ Nam sông Tiền
thuộc trung tâm Đồng Bằng Sông Cửu Long, dọc hai bên Quốc lộ 80, cách thò xã
Vónh Long (tỉnh Vónh Long) khoảng 30km về phía Tây và cách thò xã Cao Lãnh
khoảng 30km về phía Bắc. Thò xã có toạ độ đòa lí như sau :
10
o
15’30” đến 10
o
23’30” Vó độ Bắc.
105
o
42’10” đến 105
o
47’15” Kinh độ Đông.
Ranh giới hành chính của thò xã Sa Đéc như sau :
- Phía Đông Bắc giáp thò xã Cao Lãnh.
- Phía Bắc giáp huyện Cao Lãnh.
- Phía Nam giáp huyện Châu Thành.
- Phía Tây giáp huyện Lai Vung.

0,5m và thời gian ngập từ 15 tháng 9 đến 15 tháng 10 (2424 ha).
2.1.3. Đặc điểm khí hậu
Sa Đéc nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, có nền
nhiệt độ cao đều quanh năm, ánh sáng dồi dào, lượng mưa lớn và phân hoá thành
hai mùa trái ngược nhau (mùa khô và mùa mưa). Quy luật phân bố này tương đối
ổn đònh qua các năm, ít có thay đổi trong không gian và đã chi phối mạnh mẽ đến
vấn đề sử dụng đất.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 05 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến
tháng 04 năm sau.
SVTH : Từ Nguyệt Minh Trang 7
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS.TS Phùng Chí Sỹ
2.1.3.1. Nhiệt độ :
Nhiệt độ cao và ổn đònh, bình quân 26,6
o
C, nhiệt độ tối cao trung bình 30
o
C
vào tháng 3 và 4, nhiệt độ tối thấp trung bình 24
o
C vào tháng giêng. Tổng bức xạ
cao (156,7 Kcal/m
2
/tháng) và phân bố tương đối đều theo mùa vụ cho phép sản
xuất cây trồng quanh năm. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các cây
trồng nhiệt đới.
2.1.3.2. Cường độ nắng và bức xạ :
Tổng giờ nắng trung bình 2709 giờ và số giờ nắng thấp nhất vào mùa mưa
(khoảng 145 giờ, tháng 9) và cao nhất vào mùa nắng (khoảng 300 giờ, tháng 3).
Bức xạ mặt trời khá ổn đònh, trung bình 154,8 Kcal/cm
2

11, tần suất gió là 70%. Tốc độ gió trung bình khoảng 3m/s. Hàng năm từ tháng 4
đến tháng 11 thường có cơn giông lớn, trong cơn giông tốc độ gió có thể lên tới
30 – 40m/s hoặc có gió giật mạnh, gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và
thi công các công trình xây dựng, giao thông…
2.1.4. Tài nguyên đất
Khái niệm tài nguyên đất đai ở đây có nghóa rộng, không chỉ bao gồm là
đặc tính thổ nhưỡng (soil) mà còn bao hàm một số điều kiện tự nhiên có ảnh
hưởng đến việc sử dụng đất đai như : chế độ nước, đòa hình, nền móng đòa chất…
và khi đó có hình thành đất đai.
Toàn thò xã có hai nhóm đất chính : nhóm đất phù sa có 4491 ha chiếm
77,62% DTTN, nhóm đất phèn tầng sâu có 200 ha chiếm 3,46% DTTN, kênh
rạch có 1095 ha chiếm 18,92% DTTN.
Đất vùng ven sông Tiền và sông Sa Đéc là các dãy đất phù sa được bồi
đắp hàng năm thích hợp với nhiều loại cây trồng. Song song với hiện trạng đất
đai xoái lở hàng năm vào mùa lũ ở xã Tân Qui Đông, phường 3, phường 4, một
phần ở xã Tân Khánh Đông thì diện tích cồn nổi phát triển ở cồn Cái Bè và phía
Đông Nam của ấp Đông Giang (Tân Khánh Đông).
SVTH : Từ Nguyệt Minh Trang 9
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS.TS Phùng Chí Sỹ
Nhóm đất cát giồng phân bố trên đòa hình thấp thuộc khu bãi bồi sông
Tiền. Đất bò ngập suốt mùa lũ và theo chu kỷ triều cường. Hiện nay được khai
thác cát xây dựng.
Hạn chế nổi bật nhất của đất đai thò xã Sa Đéc là diện tích đất đều bò ngập
trong mùa mưa lũ. Vấn đề đặt ra trong quá trình khai thác sử dụng cần phải được
cải tạo triệt để và lâu dài. Bố trí cây trồng hợp lý để bề mặt đất luôn được phủ
một lớp thảm thực vật, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp và cây xanh đô thò phải
phù hợp để đảm bảo độ che phủ đạt 30 – 40%.
2.1.5. Tài nguyên nước
Sa Đéc có tài nguyên nước rất phong phú nhưng phân bố không đều theo
mùa cả về số lượng và chất lượng.

- Mùa mưa vào tháng năm đến tháng 10 thường xuất hiện mùa lũ, nước
trên sông Tiền lớn có năm gây hiện tượng ngập úng ở khu vực đòa hình thấp.
(2). Dòng chảy và vấn đề bồi lấp phù sa :
Hàm lượng phù sa trên sông Tiền rất lớn (tổng lượng phù sa đạt tới 138
tấn, độ đục trung bình khoảng 850g/m
3
), chứng tỏ sự xâm thực của dòng chảy các
sông đổ vào sông Tiền rất lớn nên vấn đề lắng đọng phù sa cao hơn vùng xa
sông.
(3). Mạng lưới thủy văn thò xã nằm ở khu vực bờ Nam sông Tiền, riêng
diện tích nước mặt sông Tiền thuộc đòa phận thò xã khoảng 547,5 ha, chiếm 1,2%
DTTN. Đây là nhánh sông lớn của sông Mê Kông ở phần hạ lưu. Đoạn sông chạy
qua Sa Đéc rộng từ 900 – 1200m (bình quân 1000m) và ôm trọn phần ranh giới
phía Đông thò xã dài khoảng 12,3km. Nguồn nước chủ yếu là nước ngọt dồi dào.
Ngoài sông Tiền, Sa Đéc còn có sông Sa Đéc, rạch Sa Nhiên và hệ thống
kênh rạch chằng chòt nối liền với sông lớn. Diện tích kênh mương hiện tại là 168
ha chiếm 2,9% DTTN. Hệ thống kênh rạch này làm nhiệm vụ dẫn nước ngọt,
tháo chua, rửa phèn cho toàn bộ diện tích tự nhiên của thò xã.
SVTH : Từ Nguyệt Minh Trang 11
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS.TS Phùng Chí Sỹ
Chế độ thủy văn chòu ảnh hưởng dòng chảy của sông Mê Kông và thủy
triều biển Đông thông qua sông Tiền cùng chế độ mưa trong khu vực.
(4). Thủy triều :
Đồng Tháp nói chung và Sa Đéc nói riêng từ tháng 12 đến tháng 08 năm
sau chòu ảnh hưởng của thủy triều biển Đông theo chế độ bán nhật triều không
đều. Mỗi tháng có 02 kỳ triều cường (xảy ra vào ngày 1 và 15 Âm lòch hoặc sau
đó 1 – 2 ngày) và 02 kỳ triều kém (xảy ra vào 7 và 23 Âm lòch hoặc sau đó 1 – 2
ngày). Thời gian một ngày triều là 24h50’. Thời gian mỗi kỳ triều lên xuống kéo
dài từ 05 đến 07 ngày. Đỉnh triều cao nhất vào các tháng 10 và 11. Chân triều
thấp nhất là tháng 7 và tháng 8. Các tháng từ 5 – 8 là những tháng có biên độ

khoáng hoá thấp nhất 1,5g/l, cao nhất 5,59 – 28,97 g/l, khả năng sử dụng cho sinh
hoạt khá tốt, lượng khai thác tối đa < 25.000m
3
/ngđ (lưu lượng 20 – 30
m
3
/h/giếng) pH = 7,5. Nhìn chung lưu lượng nước ngầm khá lớn, có khả năng
cung cấp đủ cho dân sinh và một phần cho sản xuất nông nghiệp.
2.1.5.4. Nước mặt
Nguồn nước mặt khá phong phú, do có sông Tiền, sông Sa Đéc và hệ
thống kênh rạch dày đặc, những tháng 09 đến tháng 12 nguồn nước mặt dư thừa
do bò ngập lụt. Thò xã nằm ở bờ Nam sông Tiền, có nguồn nước mặt dồi dào và
không bò nhiễm phèn, pH thay đổi từ 4.5 – 5.5. Lưu lượng nước trên sông Tiền
bình quân 11.500m
3
/s (nhỏ nhất là 2000m
3
/s). Những năm gần đây do hệ thống đê
kè bao ngăn lũ và chống sạt lở đất được củng cố cộng với tốc độ đô thò hóa tăng
nhanh nên mức độ ngập ven sông Tiền đã giảm nhiều, vùng ngập nông nhất là
0,3m trong thời gian khoảng 10 – 15 ngày.
Do có nguồn nước mặt dồi dào như vậy, ngay cả vào mùa kiệt, lượng nước
vẫn đáp ứng đủ nhu cầu của nhân dân. Tuy nhiên, chất lượng nước mặt dùng để
cấp nước cho dân hiện đang là vấn đề bức xúc vì trong những năm qua, do thâm
canh, tăng vụ, nông dân sử dụng phổ biến nhiều loại phân bón và thuốc bảo vệ
thực vật trong nông nghiệp cùng với chất thải sinh hoạt, chất thải sản xuất không
qua xử lý góp phần gây ô nhiễm nguồn nước mà đa số họ đều sử dụng nước mặt.
SVTH : Từ Nguyệt Minh Trang 13
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS.TS Phùng Chí Sỹ
Theo số liệu phân tích thì lượng chất lơ lửng và vi sinh khá cao điển hình

Do đặc thù của thò xã Sa Đéc, hiện tại và lâu dài đô thò ngày càng được
phát triển. Mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của thò xã là : thương mại và dòch
vụ - công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp - nông nghiệp. Vì vậy, các hệ sinh thái
ở đây cần được đặc biệt quan tâm.
2.1.9. Môi trường đô thò
Đô thò ngày càng phát triển, dân cư tăng nhanh, hệ thống giao thông và các
công trình công cộng được đầu tư xây dựng, nhưng hệ thống các công trình phục
vụ vệ sinh môi trường chưa được đầu tư đúng mức như hệ thống quản lý và xử lý
chất thải (nước thải và rác thải) đã làm nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường gây
tác động xấu đến sức khỏe cộng đồng dân cư.
- Rác thải : hàng ngày khu dân cư và khu vực chợ đã đưa ra một khối lượng
rất lớn (> 9000 kg/ ngày) nhưng việc thu gom và xử lý chưa đáp ứng được yêu
cầu.
- Nước thải : nước thải khu dân cư, bệnh viện cùng hệ thống trạm xá trong
khu vực hiện nay đang đổ xuống kênh rạch và hai dòng sông chính trong thò xã.
2.1.10. Môi trường nông thôn
Khu vực nông thôn, do đặc điểm của dân cư vùng sông nước là làm nhà
ven sông và kênh rạch, rác thải chủ yếu là rác thải sinh hoạt và rác từ các hoạt
động sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) phần lớn điều đổ ra sông rạch,
nên nước sông và kênh rạch bò ô nhiễm, việc thu gom và xử lý rác không thể thực
hiện. Một khối lượng sản phẩm phụ nông nghiệp đã và đang được sử dụng vào
mục đích phục vụ lại cho nông nghiệp. Vấn đề quan tâm tại khu vực nông thôn
là:
- Đòa thế nằm sát các KCN lớn của thò xã.
SVTH : Từ Nguyệt Minh Trang 15
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS.TS Phùng Chí Sỹ
- Các cơ sở sản xuất TTCN như : gạch ngói, lau bóng gạo, xay xát, gia
công cơ khí, khu làm bột lọc … đang xen vào khu dân cư.
- Chăn nuôi phát triển.
- Ýù thức nông dân trong bảo vệ môi trường chưa cao.

Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng ở mức khá và đã dần dần đi vào ổn đònh :
Tổng giá trò sản phẩm năm 2005 là 614.854 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng bình
quân hàng năm là 15,02%. Bình quân GDP/người/năm 6.116 triệu đồng.
Trong nhiều năm qua, cơ cấu kinh tế thò xã Sa Đéc có những chuyển biến
theo chiều hướng tích cực nhờ thò xã áp dụng chính sách đòn bẩy về phát triển
kinh tế như : đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, hình thành các cụm công nghiệp và
TTCN, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vốn sản xuất, cải tiến công
nghệ, ổn đònh lưu thông phân phối… nhìn chung kinh tế có những bước phát triển
đáng kể, nhưng tốc độ còn chậm. Những năm gần đây thò xã được sự quan tâm
của trung ương và đầu tư của tỉnh, bằng các chính sách cụ thể và kòp thời của thò
ủy và UBND thò xã với nỗ lực của toàn dân, đời sống của nhân dân được cải thiện
rõ rệt, diện mạo nông thôn ngày càng thay đổi. Công tác xóa đói giảm nghèo
được triển khai thường xuyên đã góp phần không nhỏ trong việc giảm số lượng
hộ nghèo.
2.2.2. Ngành sản xuất nông nghiệp
Đối với nông nghiệp, thò xã đặc biệt quan tâm đến công tác khuyến nông,
bảo vệ thực vật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, xây dựng hệ thống kênh
mương thủy lợi tạo nguồn và nội đồng, xây dựng hệ thống bờ bao – bờ kè ngăn lũ
và chống sạt lở đất. Khuyến khích phát triển các loại cây có giá trò truyền thống
như hoa kiểng… Ngành sản xuất trồng trọt phát triển, nhưng mấy năm gần đây tốc
độ đô thò hóa tăng nhanh đã làm cho diện tích trồng trọt giảm đáng kể. Dựa vào
SVTH : Từ Nguyệt Minh Trang 17
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS.TS Phùng Chí Sỹ
lợi thế đất đai để mở rộng diện tích mà chưa chú ý đến thâm canh tăng năng suất.
Tuy vậy, đã hình thành các vùng chuyên canh quy mô lớn bao gồm : lúa, cây ăn
trái, rau màu, cây hoa kiểng…
Trong nông nghiệp, diện tích cây lương thực có chiều hướng giảm, cơ cấu
cây trồng chuyển dòch đúng hướng. Tổng diện tích gieo trồng lúa năm 2004 là
4.518ha, sản lượng đạt 22.138 tấn. Cây bắp, năm 2004 là 73 ha, sản lượng đạt 68
tấn. Các loại cây rau, đậu có giảm nhưng không nhiều, năm 2004 là 483 ha; cây

nên đến nay, các cơ sở hạ tầng ở Sa Đéc vẫn còn thấp về số lượng và chất lượng.
2.2.5.1. Điện, nước
Hệ thống cung cấp điện nước đã được mở rộng. Nhưng chỉ tập trung chủ
yếu ở các phường trung tâm thò xã và một số xã sát nội ô. Tính đến nay đã có
khoảng 99% hộ dân có điện thấp sáng, có trên 200 km lưới điện trung thế, trên
120 km lưới điện hạ thế, có 337 trạm biến áp, sản lượng thương phẩm đạt hơn
60.950 MWh, 45% hộ sử dụng nước máy, có 24 trung tâm cấp nước, công suất
8.000 m
3
/ giờ; 282 giếng khoan, 3.594 bể chứa nước. Việc đầu tư xây dựng mới
đang được thò xã chuẩn bò thực hiện qua dự án Úùc đầu tư. Việc khai thác giếng
nước phục vụ cho các trung tâm xã, đông dân cư, các khu dân cư được thò xã quan
tâm.
2.2.5.2. Giao thông
Giao thông ở Sa Đéc chủ yếu là giao thông bộ và giao thông thủy. Mạng
lưới giao thông bộ, giao thông thủy khá phát triển.
- Giao thông đường bộ : những năm gần đây giao thông đường bộ phát
triển nhanh, hiện tại thò xã có quốc lộ 80 chạy qua với chiều dài 6km, mặt đường
bêtông nhựa theo tiêu chuẩn cấp III. Đây là tuyến đường huyết mạch nối liền
giao lưu với Thành phố HCM, Cần Thơ và các tỉnh bạn. Ngoài quốc lộ 80, còn có
SVTH : Từ Nguyệt Minh Trang 19
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS.TS Phùng Chí Sỹ
3 tỉnh lộ 848, tỉnh lộ 845, tỉnh lộ 853, với chiều dài 19,2km, mặt đường bêtông
nhựa với chiều dài 15km, mặt đường rộng bình quân 5m và có hành lang lộ giới.
- Thủy lợi và giao thông thủy : Sa Đéc có hệ thống kênh mương khá dày
đặc, phục vụ cho công tác cải tạo đất, dân sinh kinh tế và đi lại của nhân dân
trong vùng sông nước. Mặc dù đến nay đa số kênh mương đã xuống cấp, nhưng
hiệu quả kinh tế vẫn còn khá cao. Ngoài hệ thống thủy lợi, Sa Đéc có sông Tiền
và sông Sa Đéc là 02 con sông lớn thuận lợi cho giao thông đường thủy, đáp ứng
nhu cầu lưu thông hàng hoá tới các tỉnh bạn.

nữ
(người)
Tỷ lệ
tăng tự
nhiên
(%)
Mật độ
dân số
(ng/m
2
)
Phường I
Phường II
Phường III
Phường IV
Phường An Hòa
Xã Tân Qui Đông
Xã Tân Qui Tây
Xã Tân Phú Đông
Xã Tân Khánh Đông
Tổng
201,55
169,99
233,50
208,17
653,30
670,75
541,19
1.193,81
2.003,53

54.760
0,91
0,97
0,87
1,00
0,98
1,04
0,98
1,03
1,23
1,03
0,009
0,01
0,004
0,002
0,009
0,001
0,001
0,001
0,0007
0,004
2.3.2. Lao động
Năm 2005 tổng lao động toàn thò xã là 64.042 người, trong đó lao động làm
việc trong nền kinh tế, gồm Nông nghiệp : 18747 người (chiếm 29,27%TLĐ),
Dòch vụ : 19633 người (chiếm 30,66%TLĐ), Công nghiệp – Xây dựng : 7112
người (chiếm 11,11 % TLĐ). Rõ ràng, Nông nghiệp và Dòch vụ là hai ngành sản
xuất chủ yếu của thò xã.
Dân số và lao động đã cho thấy một lực lượng tại chỗ khá dồi dào, họ đã
sống và lao động trên mảnh đất Sa Đéc nên họ rất am hiểu về nông nghiệp và
các ngành nghề truyền thống, nhất là nghề trồng hoa kiểng, nghề làm bột và

SVTH : Từ Nguyệt Minh Trang 22
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS.TS Phùng Chí Sỹ
bộ và nhân dân thò xã Sa Đéc đang ra sức phấn đấu xây dựng thò xã trở thành một
ngôi sao đô thò lớn của tỉnh Đồng Tháp và của vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Nhìn vào chặng đường lòch sử phát triển của Sa Đéc cho thấy : dân đến lập
nghiệp ở đây bao gồm người Kinh, người Hoa và người Khơ Me … mang theo bản
chất phong tục lối sống văn hoá của nhiều nơi về tụ họp trên mảnh đất có bề dày
lòch sử đấu tranh cách mạng chống ngoại xâm của cả dân tộc Việt Nam. Cho đến
nay hệ thống truyền thông dân số và kế hoạch hóa gia đình đã được phổ cập đến
tận thôn xóm, từng bước cải thiện cuộc sống về vật chất lẫn tinh thần. Việc đầu tư
khôi phục, mở rộng phát triển các ngành nghề thông qua dự án giải quyết việc
làm, dự án về bảo vệ môi trường và các công tác xóa đói giảm nghèo được tập
trung giải quyết.
2.3.4. Giáo dục
Sự nghiệp giáo dục ở thò xã nhiều năm qua có bước phát triển vững chắc.
- Trường lớp : thò xã không còn trường tạm bợ, tre lá của các cấp học, được
cấp trên công nhận có 4 trường đạt tiêu chuẩn cấp quốc gia, đã xóa được tình
trạng học ca 3.
- Chuẩn hóa đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng dạy học.
- Số học sinh các cấp học ngày càng tăng. Tỉ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp
cũng tăng, đạt 99%.
- Chương trình dạy và học ngoại ngữ, nhạc họa, tin học được mở rộng. Bên
cạnh đó, thò xã đã hoàn thành công tác phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ.
Song song đó do tác động của nhiều mặt, đặc biệt do khó khăn về kinh tế
gia đình, sự quan tâm của các bậc phụ huynh đối với việc quản lý con em còn
thiếu sót… số học sinh bỏ học ở các cấp hàng năm chiếm tỉ lệ từ 1-3% chủ yếu ở
các vùng ven ngoại ô, tỉ lệ này thời gian gần đây có giảm xuống , cần phải có
biện pháp khắc phục triệt để vấn đề này. Đồng thời, điều kiện vệ sinh trong học
SVTH : Từ Nguyệt Minh Trang 23
Đồ án tốt nghiệp GVHD : PGS.TS Phùng Chí Sỹ

xây dựng đời sống văn hóa, hỗ trợ cán bộ, nhân dân có điều kiện nghiên cứu, học
tập, nâng cao kiến thức, đấu tranh đẩy lùi ảnh hưởng từ sách báo, tranh ảnh
không lành mạnh.
Nhiều câu lạc bộ và các lớp năng khiếu được thành lập, hoạt động thường
xuyên và đònh kỳ, thu hút nhiều tầng lớp dân cư tham gia, nhất là thanh thiếu
niên.
Đài truyền thanh thò xã và các xã cũng được đầu tư và cải tiến, phục vụ tốt
hơn công tác tuyên truyền chủ trương pháp luật, chính sách, đưa tin điển hình và
nhân điển hình đến tận vùng sâu.
Do hoàn cảnh xã hội và cơ sở vật chất thiếu, nên trong lónh vực văn hóa _
xã hội còn nhiều tồn tại :
- Chất lượng cuộc sống của nhân dân lao động chưa cao.
- Tệ nạn xã hội vẫn còn.
- Vệ sinh môi trường giải quyết chưa tốt.
- Cơ sở vật chất phục vụ dạy và học chưa đạt yêu cầu, nên việc nâng cao
trình độ văn hoá cho người dân lao động còn gặp nhiều khó khăn. Hầu hết người
làm nông nghiệp mới phổ cập hết bậc tiểu học và trung học cơ sở.
- Công tác bảo tồn bảo tàng, thư viện, sân bóng đá và điểm tập thể dục …
chưa đầu tư đúng mức.
2.3.7. An ninh quốc phòng
Công tác giáo dục quốc phòng luôn được quan tâm đẩy mạnh, nhận thức
về nhiệm vụ quốc phòng trong các cấp, các ngành và nhân dân từng bước được
nâng lên. Tuyển quân hàng năm đạt chỉ tiêu trên giao. Xây dựng lực lượng dân
quân tự vệ đạt chỉ tiêu dân số. Đến nay, về an ninh chính trò luôn đảm bảo ổn
đònh các mặt hoạt động xâm hại an ninh quốc gia không xảy ra. Về trật tự an toàn
SVTH : Từ Nguyệt Minh Trang 25

Trích đoạn ĐEĂ XUÂT CÁC CHƯƠNG TRÌNH DỰ ÁN BẠO VEƠ MOĐI TRƯỜNG GIẠI PHÁP TUYEĐN TRUYEĂN GIẠI PHÁP PHÒNG NGỪA, GIẠM THIEƠU VAØ NGAÍN CHAỊN OĐ NHIEÊM GIẠI PHÁP VEĂ HAØNH CHÍNH GIẠI PHÁP VEĂ CƠ CHÊ CHÍNH SÁCH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status