Nghiên cứu tổng hợp xúc tác mg0 5co0 2al0 3(OH)2(CO3)0 15 xh2o và phân tích thành phần sản phẩm oxi hóa vinylbenzen trên xúc tác hydrotalcite này - Pdf 36

ĐHKHTN - ĐHQGHN

KHOA HÓA HỌC

MỞ ĐẦU
Mục tiêu chung của Đảng và Nhà nước là đưa Việt Nam trở thành nước công
nghiệp vào năm 2020. Do vậy, các ngành công nghiệp, nông nghiệp, y học, dược
phẩm … sẽ cần một lượng rất lớn nguyên liệu để phát triển [24,25].
Để giảm thiểu cán cân nhập khẩu nguyên liệu từ bên ngoài, cần phải xây
dựng các quy trình sản xuất nguyên liệu, nhiên liệu nội địa. Ngày nay, ngành công
nghiệp lọc hóa dầu đã đi vào hoạt động ổn định thì một lượng lớn các sản phẩm
ankylbezen được tạo ra và cần chuyển hóa chúng thành nguyên liệu thứ cấp, cung
cấp cho các ngành công nghiệp khác [11,24]. Các quá trình chuyển hóa được thực
hiện trên các hệ xúc tác khác nhau, trong đó phương pháp truyền thống là oxi hóa
hóa ankylbenzen bằng: peraxit, peroxit, dung dịch dicromat, permanganat hoặc
cobalt axetat trong sự có mặt của O2 phân tử… [11,22,25].
Nhìn chung, quá trình oxi hóa đồng thể thường tạo ra một lượng lớn sản
phẩm thứ cấp là các muối vô cơ kim loại nặng, hỗn hợp sản phẩm phải tách loại và
tinh chế gây tốn kém kinh tế [20]. Do vậy, xu hướng chung hiện nay là sử dụng vật
liệu rắn để thay thế dần xúc tác nêu trên trong quá trình oxi hóa ankylbenzen
[20,25]. Ưu điểm của xúc tác dị thể là giảm thiểu chất thải gây ô nhiễm môi trường,
hạn chế lượng dung môi và có thể sử dụng các tác nhân oxi hóa thân thiện với môi
trường (oxi không khí, dung dịch H2O2) [1-3].
Các nghiên cứu gần đây cho thấy một số kim loại chuyển tiếp như: Ru, Cu,
Fe, Mn, V, Ti… tẩm/mang trên chất mang cho hoạt tính tốt đối với phản ứng oxi
hóa pha lỏng ancol benzylic, vinylbenzen, toluen [6,7,17,22,25,30]. Trong số các
kim loại kể trên, Cu và Ru tỏ ra hiệu quả với vinylbenzen nhưng không thể oxi hóa
ankylbenzen khác. Ni và Fe, Ti, Mn mang trên silicat, zeolit… có hoạt tính thấp với
ankylbenzen [4,5,29,31]. Ngoài ra, phản ứng tạo thành hỗn hợp sản phẩm nên gặp
khó khăn trong việc phân tích. Do vậy, để tìm kiếm và đánh giá xác thực vai trò hoạt


1.1 Phản ứng oxi hóa ankylbenzen
1.1.1 Phản ứng oxi hóa chọn lọc ankylbenzen
Các ankylbenzen là sản phẩm của các quá trình chế biến và chuyển hóa dầu
mỏ, chúng rất khó bị oxi hóa ở nhiệt độ thấp. Thực tế cho thấy các sản phẩm oxi hóa
ankylbenzen (epoxi, ancol, andehit, xeton, axit…) là nguyên liệu quý cho các ngành
công nghiệp sản xuất dược phẩm, thuốc nhuộm, hóa nông, hương liệu, mỹ phẩm,
hóa chất, chất dẻo… [11,17,25]. Nên phản ứng oxi hóa chọn lọc ankylbenzen thành
các sản phẩm có giá trị luôn thu hút được nhiều sự quan tâm. Vì vậy đã có nhiều
công trình nghiên cứu, tìm kiếm các hệ xúc tác khác nhau nhằm oxi hóa không hoàn
toàn các ankyl hydrocarbon thơm được công bố trong thời gian vừa qua
[6,7,9,17,20-26,28,30].
Cho đến nay, xúc tác được biết đến nhiều nhất là các hệ vật liệu chứa crôm.
Subramanyam và cộng sự [9] tiến hành phản ứng oxi hóa pha lỏng toluen bằng khí
oxi trên hai xúc tác Cr-AlPO4 và Cr-MCM-48, kết quả cho thấy sự phân bố sản
phẩm khác nhau trên hai xúc tác nghiên cứu. Với Cr-AlPO4, quá trình oxi hóa và
đeankyl hóa xảy ra đồng thời, dẫn đến sản phẩm chủ yếu là benzanđehit và benzen
cùng với một lượng đáng kể CO và CO2 (36,6%). Trong khi sản phẩm chính của CrMCM-48 là benzanđehit cũng chỉ đạt 44,7%. Sự tạo thành benzen là kết quả của quá
trình đeankyl hóa trên tâm axit Al3+, trong khi phản ứng oxi hóa toluen thành
benzanđehit thực hiện trên tâm Cr6+/Cr5+. Tuy nhiên, độ chuyển hóa toluen trên cả
hai loại xúc tác trên là khá thấp (1,4 - 2,2%). Trong khi đó, Sakthivel [5] đạt được
độ chuyển hóa và độ chọn lọc sản phẩm cao hơn trên xúc tác Cr-MCM-41.
Điều đó cho thấy cấu trúc của chất mang có ảnh hưởng nhất định đến sự phân
bố sản phẩm. Đối với vinylbenzen, Sakthivel và cộng sự [4] thực hiện phản ứng oxi

3
LUẬN VĂN THẠC SĨ

TÀO MINH TIẾN



oxi hóa

Xúc tác

Độ chuyển
hóa (%)

Độ chọn lọc sản phẩm (%)

Tham
khảo

Toluen

Cr-MCM-41

50

Axit benzoic (45)

[7]

o-Xylen

Cr-MCM-41

36

Axit o-tolui (30)



Cr-MCM-41

88

Axetophenon (85)

[5]

47

Benzylic xeton (95)

[23]

2

Stiren oxit (31)

[19]

5
6

Etyl
benzen
Etyl
benzen

Mg/Al

Ni-MCM-41

4.3

Stiren oxit (40)

[29]

10

Stiren

Co-MCM-41

45

Stiren oxit (62)

[29]

11

Stiren

TiO2/SiO2

24

Benzandehit (87)



41

Trái lại, khi Ni thay thế Mg trong mạng cấu trúc Mg-Al hydrotalcite thì hoạt
tính xúc tác Ni-Al hydrotalcite thay đổi theo chiều hướng ngược lại. Jana và cộng sự
[26] nhận được độ chuyển hóa etylbenzen đạt 47% và độ chọn lọc của benzyl xeton
là 99% trên xúc tác Ni-Al hydrotalcite. Điều này cho thấy quá trình oxi hóa các
ankylbenzen không chỉ phụ thuộc vào bản chất của ion kim loại chuyển tiếp mà còn
ảnh hưởng của bản chất các chất mang (mạng lưới, độ axit/bazơ, vai trò của oxi hấp

5
LUẬN VĂN THẠC SĨ

TÀO MINH TIẾN


ĐHKHTN - ĐHQGHN

KHOA HÓA HỌC

phụ giữa các lớp oxit, các khuyết tật mạng…). Tương tự như trên, Jana và các cộng
sự [23] thực hiện quá trình oxi hóa ankylbenzen trên một họ xúc tác MnO 4- tẩm vào
giữa các lớp Mg-Al hydrotalcite và thu được độ chọn lọc xeton trên 95% với độ
chuyển hóa ankylbenzen trong khoảng 40-50% (Bảng 1.1).
Như vậy, chất nền Mg-Al hydrotalcite đã có ảnh hưởng tích cực đến hoạt tính
oxi hóa của hệ xúc tác kim loại chuyển tiếp/hydrotalcite đối với quá trình oxi hóa
ankylbenzen. Như chúng ta đã biết, cấu trúc lớp đặc biệt của hydrotalcite cho phép
vật liệu này ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau [10,12,14]. Những nghiên cứu
về cấu trúc đã chỉ ra rằng: hydrotalcite MgyAl1-y(OH)2(CO3)y/2.mH2O được tạo bởi sự
ghép các phiến/lớp hyđroxit kim loại kiểu brucite mang điện tích dương [10]. Điện

[17]. Gần đây, để oxi hoá nối đôi C=C thành anđehit hoặc xeton người ta sử dụng
các xúc tác dạng nano spinel MgxFe3-xO4, peoxo vanadium, TS-1…[17]. Năm 2007,
Liang Nie và các đồng nghiệp đã thực hiện phản ứng oxi hoá vinylbenzen thành
benzanđehit sử dụng tác nhân oxy hoá là O2 ở 1000C, 10 atm trên hệ xúc tác
TiO2/SiO2, tác giả quan sát thấy hiệu suất phản ứng và độ chọn lọc sản phẩm phụ
thuộc rất nhiều vào diện tích bề mặt của xúc tác. Độ chọn lọc có thể đạt được tới
100%, nhưng hiệu suất còn khá thấp và chỉ thực hiện trong khoảng thời gian ngắn (1
giờ), còn khi tiến hành trong 4 giờ thì độ chọn lọc giảm xuống là 93,8%. Nhược
điểm của phản ứng là tiến hành ở áp suất và nhiệt cao (10atm, 100 0C) nên khó kiểm
soát và cho nhiều sản phẩm phụ, đặc biệt quá trình polime hoá diễn ra nhanh [17].
Sản phẩm có thể là benzanđehit, anđehit focmic, stiren oxit. Con đường hình thành
các sản phẩm này, hiện vẫn là chủ đề thảo luận. Năm 2006, J. Sebastia và cộng sự
[27] đề xuất con đường tạo thành sản phẩm oxi hóa stiren trên xúc tác Co(II) trao
đổi với zeolit X như sau:

7
LUẬN VĂN THẠC SĨ

TÀO MINH TIẾN


ĐHKHTN - ĐHQGHN

KHOA HÓA HỌC

Hình 1.1: Cơ chế oxi hóa vinylbenzen trên xúc tác Co(II)/zeolit X [27]
Theo sơ đồ này, phản ứng xảy ra theo cơ chế gốc tự do và sản phẩm là:
anđehit, stiren oxit, fomalđehit nhưng không đề cập đến sự tạo thành axit benzoic,
điol hay các sản phẩm polime hóa nặng.
1.1.3 Ứng dụng của sản phẩm benzanđehit

nhằm thu được benzanđehit đã thu được rất nhiều sự quan tâm. Trong nghiên cứu
này, chúng tôi thực hiện phản ứng điều chế benzanđehit từ vinylbenzen trên xúc tác
Mg0.5Co0.2Al0.3(OH)2(CO3)0.15.xH2O hydrotalcite.
1.2 Xúc tác hydrotalcite
1.2.1 Giới thiệu
Hydrotalcite là khoáng vật có trong tự nhiên, màu trắng hoặc màu hạt trai,
kích thước rất nhỏ thường được trộn lẫn với các khoáng khác gắn trên những phiến
đá trên vùng đồi núi (Hình 1.1). Chúng được tìm thấy rất nhiều ở vùng Norway và
Ural ở Nga.

9
LUẬN VĂN THẠC SĨ

TÀO MINH TIẾN


ĐHKHTN - ĐHQGHN

KHOA HÓA HỌC

Hocholetter là người đầu tiên nghiên cứu và tìm ra được những tính chất đặc
trưng đặc biệt của hydrotalcite [10]. Khoáng sét hydrotalcite còn có nhiều tên gọi
khác như: Pydroaucite, Takovite, Hydrotalcite đan xen…
Năm 1996, ứng dụng những thành quả nghiên cứu về khoáng sét tự nhiên,
người ta tổng hợp điều chế thành công được hydrotalcite công nghiệp từ các muối
kim loại.

Hình 1.2: Khoáng sét hydrotalcite
Hydrotalcite có khả năng trao đổi ion và hấp phụ, nên chúng được ứng dụng
rộng rãi trong rất nhiều lĩnh vực. Để tìm hiểu kỹ hơn về họ vật liệu này, chúng ta

như cấu trúc brucite trong tự nhiên. Cấu trúc này được sắp đặt theo dạng M(OH) 6
dạng bát diện (Hình 1.3).

Hình 1.3: Cấu tạo lớp hyđroxit
Lớp hydroxit này có dạng [M2+1-xM3+x(OH)2]x+ trong đó một phần kim loại hóa
trị (II) được thay thế bằng kim loại hóa trị (III) nên lớp hydroxit mang điện tích

11
LUẬN VĂN THẠC SĨ

TÀO MINH TIẾN


ĐHKHTN - ĐHQGHN

KHOA HÓA HỌC

dương. Điện tích dương trong lớp brucite (Mg(OH)2) được bù bởi ion CO32- chèn
giữa hai lớp. Một số lượng lớn các ion hóa trị (II), (III) với tỷ lệ khác nhau được
thay thế trong cấu trúc hydrotalcite, dẫn đến có thể tổng hợp một loạt các dẫn xuất
hydrotalcite.
b) Lớp xen giữa
[A n-x/n].mH2O là các anion mang điện tích âm và các phân tử nước nằm xen
giữa lớp hydroxit trung hòa lớp điện tích dương như được minh họa trong hình 1.4.

Hình 1.4: Các anion và phân tử nước
xen giữa các lớp hyđroxit của hydrotalcite
1.2.2.3 Cấu trúc lớp
Trong hydrotalcite, khoảng không gian giữa hai lớp hydroxit có thể luân
phiên xếp chồng lên nhau, làm cho hydrotalcite có cấu trúc lớp. Lớp hydroxit liên

Bán kính của các anion: Anion có bán kính càng lớn thì giá trị L càng lớn.

Hình 1.6 minh họa mối liên hệ giữa bán kính anion (Cl-, I-) và giá trị L.

13
LUẬN VĂN THẠC SĨ

TÀO MINH TIẾN


ĐHKHTN - ĐHQGHN

KHOA HÓA HỌC

Hình 1.6: Giá trị L phụ thuộc vào bán kính anion
- Cấu tạo không gian của anion: Anion NO3- xen giữa lớp hydroxit có cấu tạo
không gian khác nhau nên L có các giá trị khác nhau (Hình 1.7).

Hình 1.7: Giá trị L phụ thuộc vào dạng hình học của anion

14
LUẬN VĂN THẠC SĨ

TÀO MINH TIẾN


ĐHKHTN - ĐHQGHN

KHOA HÓA HỌC


ĐHKHTN - ĐHQGHN

KHOA HÓA HỌC

- Hằng số cân bằng trao đổi của các ion. Hằng số cân bằng tăng khi bán kính
anion trao đổi giảm. Khi đó quá trình trao đổi ion sẽ thuận lợi hơn với các anion
trong dung dịch có nồng độ cao (Hình 1.8).

Hydrotalcite

Nung
và/hoặc
khử hóa

Trao
đổi ion

Nung

Hỗn hợp oxit
Nung
và/hoặc
khử hóa

Chất mang, oxit

Nung và
khử hóa

Hình 1.8: Quá trình trao đổi anion

HPO42-, HGO32-, SiO32-, HVO42-, Cl-, MnO4-...).
Hydrotalcite chỉ hấp phụ với các anion để hình thành lớp xen giữa mà không
có khả năng trao đổi cation với Mg và Al ở các tấm bát diện do lực liên kết tạo phức
lớn. Các hydrotalcite hấp phụ trong môi trường nước nên chịu nhiều tác động của
các yếu tố bên ngoài như: pH, các ion, hợp chất lạ… Các yếu tố ảnh hưởng đến quá
trình hấp phụ, cũng giống như các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình trao đổi ion (nhiệt
độ nung, tỉ lệ Mg/Al, pH...).
1.2.4 Điều chế hydrotalcite
Hydrotalcite có những ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, nên có rất
nhiều công trình nghiên cứu điều chế hydrotalcite tổng hợp. Các phương pháp điều
chế phổ biến hiện nay là: phương pháp muối - oxit, phương pháp đồng kết tủa,
phương pháp xây dựng lại cấu trúc... Trong đó, với nhiều ưu điểm phương pháp
đồng kết tủa tạo ra các tinh thể hydrotalcite được biết đến nhiều hơn cả.

17
LUẬN VĂN THẠC SĨ

TÀO MINH TIẾN


ĐHKHTN - ĐHQGHN

KHOA HÓA HỌC

1.2.4.1 Phương pháp đồng kết tủa
Phương pháp này tổng hợp hydrotalcite từ muối kim loại hóa trị (II) và (III).
Hỗn hợp muối của các kim loại bị thủy phân trong điều kiện có mặt muối của kim
loại kiềm có tính bazơ, hỗn hợp huyền phù được giữ cố định trong khoảng pH nhất
định trong quá trình điều chế. Dưới điều kiện khuấy trộn với tốc độ không đổi trong
suốt quá trình tổng hợp [10].


dung dịch NaOH đã bão hòa CO2 một lượng xác định hỗn hợp dung dịch muối NiCl 2
và AlCl3. Ở pH thay đổi, chúng ta nhận được hỗn hợp muối và hydroxit kim loại.
Phương pháp này cũng cho sản phẩm có độ tinh khiết thấp [8].
Kết tủa với pH không đổi là phương pháp thông dụng nhất để điều chế những
kim loại khoáng sét anion tổng hợp khác nhau. Dung dịch hỗn hợp hai muối kim
loại hóa trị (II) và (III), được cho vào dung dịch chứa anion cần điều chế trong môi
trường kiềm với tốc độ xác định để giữ pH không đổi. Có thể điều chỉnh đồng thời
các yếu tố: Tốc độ thêm vào của dung dịch hỗn hợp hai muối kim loại, pH, nhiệt độ
kết tủa. Với hợp chất [Zn-Al-Cl] pH = 6 - 10 là khoảng để thu được sản phẩm có cấu
trúc dạng hydrotalcite, trong đó pH = 7 - 9 là khoảng tối ưu. Ở pH thấp hơn ta thu
được hợp chất vô định hình, trong khi pH quá cao thì những tinh thể Zn(OH) 2 dạng
brucite tồn tại cùng pha với pha hydrotalcite. Đối với hợp chất [Mg-Al-Cl] pH = 810 là khoảng để thu được sản phẩm có cấu trúc dạng hydrotalcite. pH tối ưu thay đổi
tùy theo điều kiện bền của hỗn hợp hydroxit kim loại hóa trị (II) và (III) [12,13].
1.2.4.3 Già hóa kết tủa
Hỗn hợp sau phản ứng chứa gel và chất kết tủa mới có năng lượng tự do cao,
do đó về nhiệt động học chúng sẽ không bền theo thời gian. Sản phẩm vừa mới kết
tinh chưa ổn định, các tiểu phân mịn và nhỏ chưa kịp liên kết lại với nhau tạo thành
cấu trúc. Vì vậy cần phải có thời gian đủ để ổn định, cũng như nhiệt độ cần thiết để
các phân tử kết hợp chặt chẽ dưới dạng cấu trúc khung cứng ít bị thay đổi. Quá trình
trên gọi là quá trình già hóa. Giai đoạn này có ý nghĩa rất lớn trong điều chế, vì nó
quyết định tới nhiều yếu tố như: thành phần hóa học, cấu trúc xốp, độ bền theo thời
gian. Khi già hóa thể tích và bán kín lỗ xốp sẽ tăng lên đáng kể. Thời gian già hóa để
cho hydrotalcite có cấu trúc ổn định là trong khoảng 10-24h.

19
LUẬN VĂN THẠC SĨ

TÀO MINH TIẾN



20
LUẬN VĂN THẠC SĨ

TÀO MINH TIẾN


ĐHKHTN - ĐHQGHN

KHOA HÓA HỌC

được chèn vào giữa các phiến/lớp Mg-Al hyđroxit [21,23]. Theo phương pháp này,
vật liệu mới có những tính chất đặc biệt do sự phân tán tốt của các tâm ion kim loại
hoạt động. Bằng chứng là các hydrotalcite có chứa kim loại chuyển tiếp thể hiện khả
năng xúc tác tốt đối với nhiều phản ứng khác nhau như: oxi hóa chọn lọc xicloanken
[21], đehidro hóa ankan [18], reforminh methanol [8]. Do vậy, cần khai thác tối đa
các ứng dụng của loại vật liệu này trong lĩnh vực hấp phụ, xúc tác...
1.2.5.3 Các ứng dụng khác
Hydrotalcite với cấu trúc [Mg 1-xAlx(OH)2][(CO3)x/n].mH2O khi xử lý nhiệt thì
khí CO2 thoát ra có thể gây ức chế các phản ứng đốt cháy polymer. Do vậy,
hydrotalcite sử dụng trong dược và y học như: trung hòa lượng axit trong dịch vị,
tạo phức với các dẫn xuất của axit salicylat để điều trị bệnh loét bao tử, hấp phụ các
chất trong dịch vị, điều chế thuốc chống loãng xương... hoặc làm vật liệu điện tử:
điện cực, chất điện môi, chất bán dẫn. Sử dụng trong kỹ thuật chiết tách màng lọc.
Tách các chất bởi hấp phụ, tách các đồng phân quang học, làm màng thẩm thấu và
chọn lọc ion…

21
LUẬN VĂN THẠC SĨ



CoxAl0,3(OH)2(CO3)0,15.mH2O.

22
LUẬN VĂN THẠC SĨ

TÀO MINH TIẾN


ĐHKHTN - ĐHQGHN

KHOA HÓA HỌC

2.2 Nghiên cứu đặc trưng xúc tác bằng các phương pháp vật lý
Xúc tác hydrotalcite tổng hợp Mg0.5Co0.2Al0.3(OH)2(CO3)0.15.xH2O được
nghiên cứu đặc trưng bằng các phương pháp: nhiễu xạ tia X (XRD), phổ hồng ngoại
(IR), kính hiển vi điện tử truyền qua SEM, TEM và BET.
2.2.1 Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD)
Đây là phương pháp quan trọng nhất để xác định cấu trúc và phân tích thành
phần pha của xúc tác. Ta có thể xác định được độ lớn và hình dạng của tế bào cơ sở
dựa vào các thông số về tính chất đối xứng của tinh thể, các trục tinh thể, kích thước
các cạnh của tế bào và góc cơ sở từ phương pháp XRD. Từ đó biết được hệ tinh thể,
số nguyên tử trong mỗi tế bào và nhóm không gian. Vì vậy, có thể tìm ra sự sắp xếp
của các nguyên tử trong một tế bào cơ sở và khoảng cách giữa các nút mạng tinh
thể, những yếu tố quan trọng để xác định cấu trúc phân tử.
Theo lý thuyết tinh thể, các tinh thể được cấu thành bởi các hạt (nguyên tử,
phân tử, ion…) được sắp xếp đều đặn trong không gian theo một quy luật xác định.
Mỗi mặt mạng được coi như lớp phản xạ tia X khi chúng chiếu vào. Giả sử xét hai
mặt (I) và (II) song song nhau và có khoảng cách d.



ĐHKHTN - ĐHQGHN

KHOA HÓA HỌC

Khi chiếu chùm tia X vào hai mặt (I) và (II) với góc tới θ, điều kiện để các tia
phản xạ giao thoa với nhau là hiệu quang trình của hai tia 11’ và 22’ phải bằng số
nguyên lần bước sóng (phương trình Bragg):
2dsinθ = nλ
Trong đó:
d: khoảng cách giữa các mặt trong mạng tinh thể
λ: độ dài bước sóng của tia X
α: góc tới của bức xạ tia X
n: bậc phản xạ
Thường thì lấy n =1, ta có:
2dsinθ = λ
Với mỗi nguồn tia X có độ dài bước sóng λ nhất định, khi thay đổi θ ta được
giá trị d tương ứng, đặc trưng cho mỗi loại vật liệu. So sánh giá trị d với thư viện
phổ chuẩn sẽ xác định được mạng tinh thể của vật liệu nghiên cứu. Ngoài ra, kết quả
nhiễu xạ tia X cũng cho phép xác định kích thước tương đối của hạt chất rắn theo
phương trình Scheerer.
Có hai phương pháp sử dụng tia X để nghiên cứu cấu trúc tinh thể:
- Phương pháp bột: mẫu nghiên cứu ở dạng bột.
- Phương pháp đơn tinh thể: mẫu gồm những đơn tinh thể có kích thước đủ
lớn.
Mặc dù vậy, phương pháp XRD cũng có một số nhược điểm:
- Không phát hiện được các chất có hàm lượng nhỏ.
- Tuỳ theo bản chất và mạng lưới không gian mà độ nhạy phân tích định tính
dao động trong khoảng 1-30%.


có độ dài sóng 0,8-1000 µ m và chia thành ba vùng (cận hồng ngoại, trung hồng
ngoại, viễn hồng ngoại).
Phổ IR đo trên máy Perkin Elmer GX (USA), độ phân giải 2cm -1, mẫu được
đo bằng phương pháp truyền qua ép viên với KBr, tại Khoa Hóa học - Trường Đại
học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội.

25
LUẬN VĂN THẠC SĨ

TÀO MINH TIẾN



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status