ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
rr-1 -*Ầ
.A•
Tên đê tài:
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ PHONG CHÂU
HUYỆN TRÙNG KHÁNH - TỈNH CAO BẰNG
GIAI ĐOẠN 2012 - 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy : Quản
Chuyên
lý đất đai : Quản lý
ngành Khoa
Tài nguyên : K43 -
Lớp
QLĐĐ - N02 : 2011 -
: Quản Lý Tài
Nguyên : 2011 - 2015 :
ThS. Nguyễn Quý Ly
3
LỜI CẢM ƠN
Thực hiện phương châm đào tạo nguồn nhân lực vừa hồng vừa chuyên, thực tập tốt
nghiệp để khẳng định chất lượng đào tạo nguồn cán bộ kế cận. Được sự đồng ý của ban
giấm hiệu, ban chủ nhiêm khoa Quản Lý Tài Nguyên em tiến hành đề tài : ”Đánh giá kết
quả công tác thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới tại xã Phong Châu —
huyện Trùng Khánh — tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2012 - 2014”.
Có được kết quả này lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Nguyễn
Quý Ly - Giảng viên khoa Quản Lý Tài Nguyên. Giáo viên hướng dẫn em trong quá trình
thực tập. Thầy đã chỉ bảo và hướng dẫn tận tình cho em những kiến thức lý thuyết và thực
tế cũng như các kỹ năng trong khi viết bài, chỉ cho em những thiếu sót và sai lầm của mình,
để em hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nghiệp với kết quả tốt nhất. Thầy luôn động viên
và theo dõi sát sao quá trình thực tập và cũng là người truyền động lực cho em, giúp em
hoàn thành tốt đợt thực tập của mình.
Cho phép em gửi lời cảm ơn chân thành tới các phòng, cán bộ sở Tài nguyên - Môi
trương tỉnh Cao Bằng và các phòng, cán bộ UBND xã Phong Châu đã nhiệt tình giúp đỡ
em, cung cấp những thông tin và số liệu cần thiết cho để phục vụ cho bài báo cáo. Ngoài ra,
các cán bộ xã còn chỉ bảo tận tình, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong quá trình công
tác, đó là những ý kiến hết sức bổ ích cho em sau này khi ra trường. Đã tạo mọi điều kiện
giúp em hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp này.
Em cũng xin cảm ơn người dân xã Phong Châu đã tạo điều kiện cho em trong thời
gian ở địa phương thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn sự tận tình dạy dỗ của các thầy cô trong khoa Quản Lý Tài
Nguyên trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Ban quản lý
BHYT
Bảo hiểm y tế
CNH - HĐH
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CBXD
Chuẩn bị xây dựng
GTVT
Giao thông vận tải
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
HTX
Hợp tác xã
KHKT
Khoa học - kỹ thuật
7
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1.
Tính cấp thiết của đề tài
Sau 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, khu vực nông thôn việt nam đã có sự thay
đổi rõ nét. Trong nông nghiệp, để khắc phục tình trạng khủng hoảng về mô hình tổ chức sản
xuất, ngày 13/1/1981, Ban Bí thư TW đã ban hành chỉ thị 100 CT/CP, chính thức quy định
chủ trương khoán sản phẩm cuối cùng tới nhóm và người lao động. Chỉ thị của Ban Bí thư
đã đáp ứng được nguyện vọng của người dân vì vậy mà nông dân khắp mọi miền hưởng
ứng nhiệt tình. Hình thức này đã khắc phục được những hạn chế của các hình thức khoán
trong HTX nông nghiệp trước đây, gắn được lợi ích của người lao động với sản phẩm họ
làm ra. Do người nông dân rất tích cực tham gia sản xuất, vì vậy năng suất, sản lượng tăng
đáng kể. Nền kinh tế dần được phục hồi nhưng chưa ổn định.
Để đưa đất nước thoát dần cuộc khủng khoảng kinh tế- xã hội, tháng 12/1986, Đại hội
VI của Đảng quyết định thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, mở ra thời kì mới cho phát
triển kinh tế Việt Nam. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực, hoạt động dịch vụ phát
triển mạnh, hình thành và phát triển các mô hình kinh tế mới (khu công nghiệp, trang trại,
doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp tư nhân) hoạt động có hiệu quả thu hút nhiều lao
động nông thôn, tạo ra nhiều sản phẩm cho nền kinh tế. Kết cấu kinh tế - xã hội ở nông thôn
có nhiều thay đổi, hệ thống điện, đường trường trạm, cơ sở y tế, nước sạch, môi trường
được quan tâm và đẩy mạnh. Công tác xóa đói giảm nghèo đạt thành tựu đáng kể, tỷ lệ hộ
nghèo giảm.
Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước. Ngày 4-6-2010,
Thủ tướng Chính phủ quyết định phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng
tỉnh Cao Bằng và đề xuất một số giải pháp để chương trình thực hiện nông thôn mới đạt
hiệu quả cao nhất.
1.3.
-
Mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về mô hình nông thôn mới và xây dựng nông thôn
mới ở nước ta hiện nay.
9
-
Tìm hiểu và đánh giá công tác thực hiện mô hình nông thôn mới và quy trình xây dựng
nông thôn mới ở xã Phong Châu - huyện Trùng Khánh - tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2012 2014.
-
Rút ra những ưu điểm và vấn đề còn tồn tại trong việc thực hiện chương trình nông thôn
mới tại xã Phong Châu - huyện Trùng Khánh - tỉnh Cao Bằng
-
Phân tích nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xây dựng nông thôn mới ở
địa bàn nghiên cứu.
cho việc đánh giá.
-
Các kiến nghị đưa ra phải phù hợp với tình hình địa phương và có tính khả thi cao.
1.5.
1.5.1.
-
Ý nghĩa nghiên cứu
Ý nghĩa học tập và nghiên cứu
Đây là cơ hội tốt cho sinh viên thực hành khảo sát thực tế, áp dụng những kiến thức lý
thuyết vào thực tiễn, và có cơ hội gặp gỡ, học tập, trao đổi kiến thức với những người có
kinh nghiệm và người dân địa phương.
-
Củng cố kiến thức về nông thôn mới cho sinh viên.
-
Giúp sinh viên tiếp xúc thực tế, nâng cao năng lực, rèn luyện kĩ năng và trang bị kiến thức
1
thực tế phục vụ cho quá trình công tác sau này.
-
dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”; Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách
mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn
đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp. đề ra mục tiêu đến năm 2020
xây dựng được khoảng 50% số xã trên toàn quốc đạt tiêu chuẩn nông thôn mới. Đây là một
chủ trương có ý nghĩa to lớn cả về chính trị, kinh tế, xã hội; thực hiện thắng lợi chủ trương
này sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nền kinh tế
của đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, một lực lượng xã hội
đông đảo chiếm khoảng 70% dân số của cả nước, tạo ra diện mạo nông thôn mới "ổn định,
hòa thuận, dân chủ, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc", thể hiện rõ
bản chất ưu việt, tốt đẹp của chế độ ta.
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ,
đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.
Như vậy, nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn, không phải là thị tứ, thị trấn,
thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo
năm nội dung cơ bản sau: (1) làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; (2) sản xuất phải
phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; (3) đời sống về vật chất và tinh thần của
dân nông thôn ngày càng được nâng cao; (4) bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát
triển; (5) xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ. . Đô thị hóa và phi nông hóa nông
dân chính là nguồn động lực quan trọng để xây dựng nông thôn mới. Xây dựng nông thôn
mới phải đặt trong bối cảnh đô thị hóa. Trong khi đó, chuyển dịch lao động nông thôn chính
là nội dung quan trọng của sự nghiệp xây dưng nông thôn mới và chủ thể là các tổ chức
nông dân. Các tổ chức hợp tác khu xã nông dân kiểu mới đóng một vai trò đặc biệt trong sự
nghiệp này.
Khái niệm mô hình nông thôn mới mang đặc trưng của mỗi vùng nông thôn khác
nhau. Nhìn chung, mô hình nông thôn mới là mô hình cấp xã, thôn được phát triển toàn diện
theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa.
Sự hình dung chung của các nhà nghiên cứu về mô hình nông thôn mới là những kiểu
mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những KHKT hiện đại, song vẫn giữ được nét
phát triển kinh tế - xã hội có quy mô rất lớn và toàn diện lần đầu tiên được thực hiện tại
nước ta trên quy mô cả nước theo tinh thần Nghị quyết 26- NQ/T.Ư của Ban chấp hành
Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Theo đó, để phát triển nông nghiệp, nông
thôn bền vững, phải xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước
hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát
triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội
nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo
vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng
được nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, thực trạng nông thôn nước ta nói chung và của tỉnh Cao Bằng nói riêng
hiện nay phát triển còn kém bền vững và còn nhiều hạn chế, đòi hỏi phải có sự quan tâm
đầu tư của Chính phủ, chính quyền địa phương và sự cố gắng, nỗ lực của toàn thể cộng
đồng để thực hiện Chương trình có hiệu quả trên địa bàn của tỉnh:
+ Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch và tự phát.
Cơ chế quản lý phát triển theo quy hoạch còn yếu. Xây dựng tự phát, kiến trúc cảnh
quan làng quê bị pha tạp, lộn xộn, nhiều nét văn hóa truyền thống bị mai một. Nhà nào
mạnh người ấy tự ý phát triển, xây dựng tràn lan không theo một quy hoạch hay khuôn mẫu
nhất định nảo cả. Làm mất mỹ quan nông thôn.
+ Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn lạc hậu, chưa trở thành động lực lớn thúc đẩy
phát triển kinh tế - xã hội lâu dài.
Trong đó giao thông nông thôn, đặc biệt là ở các xã khó khăn vùng sâu, vùng xa trở
thành rào cản lớn nhất cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, cần được đầu tư
mạnh mẽ phục vụ sản xuất và sinh hoạt của cư dân nông thôn.
Thủy lợi chưa đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Tỷ lệ kênh
mương do xã quản lý được kiên cố hóa mới đạt 25%. Giao thông chất lượng thấp, không có
quy chuẩn, chủ yếu phục vụ dân sinh, nhiều vùng giao thông chưa phục vụ tốt sản xuất, lưu
thông hàng hóa, phần lớn chưa đạt chuẩn quy định. Hệ thống lưới điện hạ thế ở tình trạng
chắp vá, chất lượng thấp, quản lý lưới điện ở nông thôn còn yếu, tổn hao điện năng cao (2225%), nông dân phải chịu giá điện cao hơn giá trần Nhà nước quy định. Hệ thống các
-
Do sản xuất nông nghiệp còn nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn chế biến với
thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ
trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp; cơ giới hoá chưa đồng bộ.
-
Do thu nhập của nông dân thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn
chưa chặt chẽ. Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém. Tỷ lệ lao động
nông nghiệp còn cao, cơ hội có việc làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động
nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao.
-
Do đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá truyền thống đang có
nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục...); nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn
nhiều nhà tạm, dột nát. Hiện nay, kinh tế - xã hội khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự
phát, chưa theo quy hoạch.
-
Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, cần 3 yếu tố chính: đất
đai, vốn và lao động kỹ thuật. Qua việc xây dựng nông thôn mới sẽ triển khai quy hoạch
tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa.
-
Hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các hợp tác xã theo mô hình kinh
doanh đa ngành. Hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với
các phương án sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn.
- Sản xuất hàng hóa có chất lượng cao,mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa
phương. Tập trung đầu tư vào những trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến bảo quản,
chế biến nông sản sau thu hoạch.
* Về chính trị
Phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật, gắn lệ làng, hương ước với pháp
luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, tôn trọng kỉ cương phép nước,
phát huy tính tự chủ của làng xã.
Phát huy tối đa quy chế dân chủ ở cơ sở, tôn trọng hoạt động của các đoàn thể, các tổ
chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xây dựng nông thôn mới.
* Về văn hóa- xã hội
Xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư, giúp nhau xóa đói, giảm nghèo, vươn
lên làm giàu chính đáng.
Xây dựng khu dân cư đoàn kết, phát triển cộng đồng, tinh thân bền vững từ các dòng
họ phát triển lâu dài.
* Về con người
Xây dựng hình mẫu người nông dân sản xuất hàng hóa khá giả, giàu có, kết tinh các
tư cách: Công dân, dân của làng, con người của các dòng họ, gia đình.
* Về môi trường
Xây dựng và củng cố, bảo vệ môi trường, sinh thái. Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô
nhiễm nguồn nước, môi trường không khí vè chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn
phát triển bền vững.
Bốn là: Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển.
Năm là: Xã hội nông thôn được quản lý tốt và dân chủ. Những nội dung trên có mối
quan hệ chặt chẽ với nhau, trong quá trình thực hiện cần phải giải quyết đồng bộ và toàn
diện nhằm khơi dậy và phát huy tốt vai trò người nông dân trong công cuộc xây dựng nông
thôn mới ở nước ta ngày càng văn minh, hiện đại.
2.1.5.
Tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Căn cứ Quyết định số: 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới.
Căn cứ Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và
PTNT về việc Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới.
* Các nhóm tiêu chí: gồm 5 nhóm
-
Nhóm I : Quy hoạch (có 01 tiêu chí)
-
Nhóm II : Hạ tầng kinh tế - xã hội (có 08 tiêu chí)
-
Nhóm III : Kinh tế và tổ chức sản xuất (có 04 tiêu chí)
-
Sau trận lụt năm 1969, người dân phải tu sửa lại nhà cửa và đường sá mà không có sự
trợ giúp của Chính phủ. Điều này làm Tổng thống suy nghĩ rất nhiều và nhận ra rằng “Viện
trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự giúp chính mình”.
Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ nhau là điểm mấu chốt để phát
triển nông thôn. Những ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào xây dựng nông thôn
mới của Hàn Quốc sau này (Saemaul Udong).
Từ đó đến nay, phong trào Saemaul Udong đã thu được những thành tựu rất to lớn,
sau 40 năm đưa đất nước Hàn Quốc từ nghèo đói sang một nước phát triển, nằm trong tốp
G20 của thế giới với thu nhập bình quân đầu người hơn 30.000 USD/năm.
2.2.I.2.
Xây dựng nông thôn mới ở Mỹ: phát triển ngành “kinh doanh nông nghiệp ”
Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông nghiệp. Vùng
Trung Tây của nước này có đất đai màu mỡ nhất thế giới. Lượng mưa vừa đủ cho hầu hết
các vùng của đất nước; nước sông và nước ngầm cho phép tưới rộng khắp cho những nơi
thiếu mưa.
Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp”,
một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông
nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại. Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh
nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia
đình cho đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn
hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng. Cũng giống như một
doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo ra quy mô lớn hơn và
hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động
của mình sao cho linh hoạt hơn.
Sự ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra ít trang trại
hơn, nhưng quy mô các trang trại thì lớn hơn nhiều. Đôi khi được sở hữu bởi những cổ
phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn
chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài
nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài
nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác. Trong xây dựng
kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công
trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết
đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác
trong sản xuất nông nghiệp. Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các
trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước....
Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp,
thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển.
Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy, những
ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy
tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và
vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông
nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2.2.2.
Lịch sử hình thành và phát triển nông thôn ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp truyền thống với trên 70% dân số làm nông
nghiệp, đất trồng trọt và đất rừng chiếm 60% tổng diện tích lãnh thổ, tổng giá trị nông
nghiệp chiếm 20% GDP, nông nghiệp - nông thôn - nông dân chiếm địa vị quan trọng trong
nền kinh tế xã hội Việt Nam. Từ khi đổi mới mở cửa đến nay, Việt Nam đã không ngừng đổi
mới chính sách đất đai, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, khiến nông nghiệp nông thôn
phát triển mạnh và đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với toàn bộ quá trình phát triển kinh tế xã
nông dân còn có thể tăng thêm thu nhập vào tài sản bằng các phương thức cho thuê, chuyển
nhượng, kế thừa và thế chấp đất. Địa vị kinh tế xã hội, phương thức sản xuất, sinh hoạt,
thậm chí cả cách tư duy của nông dân Việt Nam từ đó đã có những thay đổi to lớn.
2.2.3.
Lịch sử hình thành và phát triển nông thôn mới ở tỉnh Cao Bằng.
Cao Bằng là một tỉnh miền núi gồm nhiều các dân tộc sinh sống chủ yếu là các dân
tộc ít người, thiểu số, nên cuộc sống và hoạt động canh tác ở đây còn thiếu, kém phát triển,
thô sơ và lạc hậu.
Trong 5 năm 2001-2005, Ngành NN&PTNT đã có những chuyển biến tích cực, góp
phần thực hiện thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV. Năm 2005,
GDP nông nghiệp chiếm 38,5%; tăng trưởng kinh tế trong nông nghiệp bình quân đạt
5%/năm; giá trị sản xuất/ 1ha đất nông nghiệp đạt 15 triệu đồng. Tổng sản lượng lương thực
có hạt đạt 205,8 nghìn tấn (tăng bình quân 9%/năm); cấp nước sinh hoạt nông thôn đạt
62,1% dấn số nông thôn (tăng bình quân 4%/năm); độ che phủ rừng đạt 48% (tăng bình
quân 1,4%/năm); phong trào xây dựng cánh đồng 30 triệu/ha ngày càng mở rộng. Xây dựng
được một số vùng nguyên liệu tập trung phục vụ công nghiệp chế biến nhằm thúc đẩy sản
xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi kinh tế nông nghiệp-nông thôn; đầu
tư xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng, từng bước cải thiện đời sống của nhân dân.