TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------
PHẠM THỊ MỸ BÌNH
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
MẠNG LƢỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
PHỤC VỤ CÁC CHƢƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ CẤP QUỐC GIA TẠI CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội-2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------
PHẠM THỊ MỸ BÌNH
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN
MẠNG LƢỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
PHỤC VỤ CÁC CHƢƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ CẤP QUỐC GIA TẠI CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
1.1.3. Khái niệm về chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia .... 22
1.2. Vai trò của thông tin KH&CN đối với các chƣơng trình KH&CN cấp
quốc gia............................................................................................................ 23
1.3. Chƣơng trình KH&CN cấp quốc gia gia đoạn 2011-2015 .................. 27
1.3.1. Danh mục các chương trình KH&CN cấp quốc gia .......................... 27
1.3.2. Mục tiêu các chương trình KH&CN cấp quốc gia ............................. 28
1.3.3. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả các chương trình KH&CN cấp quốc
gia .................................................................................................................... 33
1
Kết luận Chƣơng 1 ......................................................................................... 34
CHƢƠNG 2. HIỆN TRẠNG MẠNG LƢỚI THÔNG TIN KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ CÁC CHƢƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ CẤP QUỐC GIA TẠI CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA..................................................................... 35
2.1. Hiện trạng các chính sách thông tin KH&CN...................................... 35
2.2. Mạng lƣới thông tin KH&CN phục vụ các chƣơng trình KH&CN cấp
quốc gia tại Cục thông tin KH&CN quốc gia ............................................. 41
2.2.1. Người dùng tin và nhu cầu tin ............................................................ 41
2.2.2. Nguồn tài nguyên thông tin KH&CN phục vụ các chương trình
KH&CN cấp quốc gia tại Cục thông tin KH&CN quốc gia hiện nay ......... 44
2.2.3. Sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN phục vụ các chương trình
KH&CN quốc gia tại Cục thông tin KH&CN quốc gia hiện nay ................. 51
2.3. Phân tích, đánh giá hiện trạng mạng lƣới thông tin KH&CN phục vụ
các chƣơng trình KH&CN cấp quốc gia tại Cục thông tin KH&CN quốc
gia ..................................................................................................................... 55
Kết luận Chƣơng 2 ......................................................................................... 58
CHƢƠNG 3. ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN MẠNG
LƢỚI THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ CÁC
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS.Tạ Bá Hưng đã
tận tình hướng dẫn và chỉ bảo cho Tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo, các đồng nghiệp đang công tác tại Cục
Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia đã nhiệt tình giúp đỡ Tôi thu thập
tài liệu, đây là những căn cứ quan trọng để Tôi hoàn thiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô tại Trường đại học Xã hội và nhân
văn- Đại học quốc gia Hà Nội đã truyền đạt những kiến thức khoa học và kinh
nghiệm thực tiễn cho Tôi trong quá trình học tập.
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc những người thân trong gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp đã cổ vũ, động viên Tôi vượt qua những khó khăn trong quá
trình học tập, nghiên cứu.
Bên cạnh những điều kiện thuận lợi, Tôi cũng gặp những khó khăn nhất
định về năng lực, sự hiểu biết của bản thân và thời gian nghiên cứu có hạn
nên luận văn không tránh khỏi những hạn chế và khiếm khuyết, tác giả trân
trọng và mong nhận được những góp ý của các nhà khoa học, các giảng viên
và các đồng nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày
tháng 12 năm 2015
Phạm Thị Mỹ Bình
4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
VIẾT ĐẦY ĐỦ
HĐH
Hiện đại hóa
NDT
Người dùng tin
NCT
Nhu cầu tin
SP
Sản phẩm
DV
Dịch vụ
VinaREN
Vietnam Research and Education
Network
VISTA
Vietnam Information for Science
and Technology Advance
1
Đề tài cấp Bộ: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển công tác thông tin thư viện và thống kê
KH&CN Việt Nam đến năm 2020, Ths. Phan Huy Quế, chủ nhiệm đề tài.
6
kinh tế quốc tế… Các chương trình KH&CN cấp quốc gia thực chất là cầu nối
giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng. Các chương trình này
thường có tính liên ngành, liên lĩnh vực, tính hướng đích và ứng dụng cao,
nhằm cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc giải quyết những vấn
đề cơ bản và nóng bỏng nhất đang đặt ra trong thực tiễn, nhằm giải phóng các
tiềm năng, tháo gỡ khó khăn, phát huy cao độ các nguồn lực, tạo nên xung lực
mạnh mẽ trong quá trình phát triển bền vững. Mặt khác, các chương trình
được thực hiện trong một giai đoạn tương đối dài, do đó các cán bộ KH&CN
tham gia các chương trình cần phải được cung cấp thông tin khoa học và công
nghệ một cách kịp thời, nhanh chóng, chính xác, nắm bắt được xu thế phát
triển trong nước và thế giới. Do vậy, việc cung cấp thông tin KH&CN phục
vụ các chương trình KH&CN cấp quốc gia đóng vai trò rất quan trọng.
Như vậy, việc cung cấp các thông tin phục vụ các chương trình KH&CN
cấp quốc gia là điều kiện cần thiết để đẩy mạnh phát triển lĩnh vực KH&CN
nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung. Các chương trình
KH&CN cấp quốc gia là các chương trình liên ngành, đa lĩnh vực, có tầm ảnh
hưởng trên quy mô toàn quốc. Đây cũng là nội dung cơ bản của hoạt động
khoa học và công nghệ trong từng giai đoạn cụ thể. Mạng lưới thông tin
KH&CN phục vụ cho các chương trình này tại Cục Thông tin KH&CN quốc
gia không những cần được đẩy mạnh mà còn rất cần các chính sách hỗ trợ
phát triển của Nhà nước để thông tin KH&CN có đóng góp hiệu quả hơn nữa
Việt Nam hiện nay. Đó là mạng thông tin KH&CN do Cục Thông tin
KH&CN xây dựng và phát triển với sứ mệnh đáp ứng nhu cầu thông tin
KH&CN của cả nước, góp phần thúc đẩy phát triển KH&CN của Việt Nam.
Mặc dù vậy, đề tài tập trung chủ yếu đến nền tảng công nghệ của mạng lưới,
thiên về thông tin tư liệu mà chưa đề cập gì đến mạng lưới thông tin KH&CN
chuyên phục vụ các chương trình KH&CN cấp quốc gia.
"Nghiên cứu mạng lưới thông tin và quản lý Nhà nước đối với hoạt động
thông tin ở các nước kinh tế thị trường" do PGS TS Nguyễn Hữu Hùng làm
chủ nhiệm. Đề tài đã cung cấp các bài học kinh nghiệm trong quản lý nhà
nước đối với hoạt động thông tin và các mạng lưới thông tin ở các nước có
nền kinh tế thị trường và đưa ra các đề xuất có tính gợi mở cho công tác này ở
Việt Nam khi Đảng và Nhà nước đã xác định cần phát triển nền kinh tế thị
8
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nơi cần phải tính đến quy luật khách
quan của thị trường cùng các điều tiết hợp lý bằng chính sách của nhà nước.
"Nghiên cứu xây dựng và phát triển hệ thống thông tin khoa học kỹ thuật
quốc gia" đây là đề tài cấp Nhà nước do Kỹ sư Phạm Văn Vu, nguyên Phó
Giám đốc Trung tâm Thông tin Tư liệu KH&KT quốc gia chủ trì. Kết quả đề
tài có giá trị lý luận và thực tiễn rất cao, làm cơ sở để hoạch định và phát triển
hệ thống thông tin KH&CN quốc gia. Tuy nhiên, trong những năm đầu của
thời kỳ đổi mới, cách tiếp cận của nhóm thực hiện đề tài còn chịu ảnh hưởng
nhiều của tư duy thời bao cấp, nhất là mô hình phát triển hệ thống thông tin
KH&CN quốc gia của Liên xô cũ nên mức độ đóng góp về chính sách phát
triển phù hợp với thời kỹ mới còn khiêm tốn.
Đã có một số đề tài, dự án nghiên cứu về các chương trình khoa học và
công nghệ như: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng phương
pháp, tiêu chí và quy trình đánh giá chương trình khoa học và công nghệ” do
TS Nguyễn Thị Thu Oanh làm chủ nhiệm hoặc đề tài “Tổ chức và hoạt động
sở lý luận và thu thập, phân tích, xử lý, tổng hợp thông tin, tài liệu.
- Phương pháp kế thừa các nghiên cứu có liên quan đến luận văn. Phương
pháp khảo sát kế thừa.
9. Các luận cứ
Luận cứ lý thuyết:
- Các khái niệm và lý thuyết liên quan đến chính sách.
- Các khái niệm và lý thuyết liên quan đến mạng lưới thông tin.
- Các khái niệm và lý thuyết liên quan đến chương trình khoa học và công
nghệ cấp quốc gia.
Luận cứ thực tế:
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về KH&CN; thông tin KH&CN;
các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia.
- Các báo cáo về hiện trạng mạng lưới thông tin tại Cục thông tin khoa học
và công nghệ quốc gia.
- Các dữ liệu, dữ kiện được thu thập từ các hội thảo khoa học.
10. Về mặt cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới thông
tin khoa học và công nghệ phục vụ các chương trình khoa học và công nghệ
cấp quốc gia.
11
Chương 2: Hiện trạng mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ phục vụ
các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia tại Cục thông tin khoa
học và công nghệ quốc gia.
Chương 3: Đề xuất chính sách hỗ trợ phát triển mạng lưới thông tin khoa học
và công nghệ phục vụ các chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia
tại Cục thông tin khoa học và công nghệ quốc gia.
lĩnh vực của đời sống xã hội.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về thông tin: Theo từ điển Oxford
English Dictionary, Thông tin là điều mà người ta đánh giá, hoặc nói đến, là
13
tri thức, là tin tức. Nhiều từ điển khác đồng nhất thông tin với kiến thức:
“Thông tin là điều mà người ta biết” hoặc “Thông tin là sự chuyển giao tri
thức làm tăng thêm hiểu biết của con người”. Tùy theo quan điểm cụ thể,
thông tin được định nghĩa theo cách tương ứng, ví dụ theo quan điểm triết
học, thông tin là một phạm trù triết học phản ánh sự vận động và tương tác
của các hiện tượng, sự việc của thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy. Trong khi
theo quan điểm của Lý thuyết thông tin, thông tin là sự loại trừ tính bất định
của hiện tượng ngẫu nhiên.
Theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5453 – 1991 “Thông tin là dữ liệu, tin
tức, dữ kiện, tri thức được xem xét trong quá trình tồn tại và vận động trong
không gian và thời gian”.
Như vậy, thông tin là kết quả của sự phân tích, tổng hợp và đánh giá dựa
trên những dữ liệu sẵn có để phục vụ nhu cầu của người dùng tin. Căn cứ vào
đặc điểm, nội dung của tin tức, có thể chia thông tin thành các loại thông tin
kinh tế, thông tin quản lý, thông tin KH&CN v.v. Mỗi loại thông tin đều có
đặc trưng riêng, song nhìn chung chúng đều đóng vai trò quan trọng trong quá
trình phát triển xã hội. Và như vậy, theo tác giả Luận văn, dưới dạng khái
quát nhất, thông tin chính là những dữ liệu, số liệu, tin tức được đặt trong văn
cảnh, được lưu giữ trên những vật mang tin khác nhau và được xem xét trong
quá trình tồn tại, vận động trong không gian và thời gian.
1.1.1.2. Khái niệm về thông tin KH&CN
Trước tiên, ta tìm hiểu hai khái niệm ”Khoa học” và ”Công nghệ” bởi lẽ,
trên thực tế có rất nhiều người đánh đồng hai khái niệm này với nhau. Nhưng
thực chất, khoa học và công nghệ là hai khái niệm khác nhau hoàn toàn.
Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006: Công nghệ là giải pháp, quy trình,
bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến
đổi nguồn lực thành sảnphẩm.
Theo tác giả Luận văn, công nghệ là các thao tác kỹ thuật tin cậy, nhằm tạo
ra các sản phẩm theo thiết kế được áp dụng vào sản xuất và đời sống. Các sản
phẩm này tuân theo quy luật của chu trình sống, hay còn gọi là vòng đời công
nghệ.
Như vậy, từ các khái niệm về thông tin, khoa học và công nghệ có thể xem
xét khái niệm thông tin KH&CN.
15
Đối với khái niệm Thông tin KH&CN cũng có nhiều cách định nghĩa khác
nhau chẳng hạn “Thông tin KH&CN là các thông tin nhận được và tích lũy
trong quá trình phát triển KH&CN và hoạt động thực tiễn của con người” hay
“là một tập hợp có hệ thống những xuất bản phẩm tồn tại trên các vật mang
tin khác nhau được lựa chọn và sử dụng nhằm mục đích phục vụ các nhiệm
vụ của các cơ quan KH&CN.
Theo Nghị định 159/2004/NĐ – CP ngày 31 tháng 08 năm 2004 về hoạt
động thông tin khoa học và công nghệ “Thông tin KH&CN là các dữ liệu, số
liệu, dữ kiện, tin tức, tri thức KH&CN (bao gồm khoa học tự nhiên, khoa học
công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn) được tạo lập, quản lý và sử dụng
nhằm mục đích cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước hoặc đáp
ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân trong xã hội”. Cách định nghĩa này nhấn
mạnh mục đích quản lý và sử dụng thông tin KH&CN như một dịch vụ công
ích, trong khi đồng nhất giữa thông tin KH&CN với tri thức KH&CN.
Mới đây, theo Điều 3 của Nghị định 11/2014/NĐ – CP Về hoạt động thông
tin khoa học và công nghệ, “Thông tin KH&CN là dữ liệu, dữ kiện, số liệu,
tin tức được tạo ra trong các hoạt động KH&CN, đổi mới sáng tạo”. Cách
định nghĩa này rất cô đọng, dễ hiểu, dễ nhớ, song có thể được xem là khá
và nguồn tin KH&CN ngoại sinh (được nhập từ nước ngoài) dưới các hình
thức khác nhau.
Nguồn tin KH&CN nội sinh được sản sinh dựa trên sức lực trí tuệ và vật
chất của một quốc gia. Thông thường, các cơ quan thông tin-thư viện thuộc sở
hữu Nhà nước được cấp kinh phí để thu thập, quản lý đầy đủ các dạng nguồn
tin KH&CN nội sinh và tạo lập các nguồn tin nội sinh phù hợp với chức năng
và diện phục vụ của mình. Các nguồn tin KH&CN nội sinh rất đa dạng, bao
gồm các loại sau: sách, báo, tạp chí, tài liệu chép tay, luận án khoa học; báo
cáo kết quả nghiên cứu và phát triển KH&CN; tư liệu và số liệu điều tra cơ
bản; báo cáo các đoàn tham quan, khảo sát; tài liệu hội nghị, hội thảo, các tài
liệu đa phương tiện, v.v.
Nguồn tin KH&CN ngoại sinh chủ yếu được nhập từ nước ngoài qua mua
sắm, trao đổi, hoặc biếu tặng, v.v..
Các nguồn tin khoa học và công nghệ thường được thể hiện dưới các loại
hình sau đây:
17
- Thông tin thư mục: là thông tin cung cấp các dấu hiệu đặc trưng, vắn tắt
về một tài liệu xác định như thông tin về tác giả, thông tin về xuất bản, tên tài
liệu, nơi lưu giữ, kí hiệu xếp giá v.v..
- Thông tin toàn văn: là các thông tin được chứa trong một đơn vị tài liệu
cụ thể, có kết cấu tương đối hoàn chỉnh, trình bày về một vấn đề nào đó.
- Thông tin thông báo: là các dạng thông tin về các hoạt động, sự có mặt
của các tư liệu, thông tin, phương thức sử dụng mới. Các dạng thông tin này
thường được công bố đại chúng có tác dụng mở rộng, khơi gợi các nhu cầu
của người dùng tin đối với các nguồn tin trong thư viện.
- Thông tin từ Internet: các thông tin được khai thác từ các kho lưu trữ mở,
các mục lục truy cập công cộng trực tuyến, các trang thông tin của các cơ sở
giáo dục-đào tạo, các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế,
kinh tế - xã hội. Hình thái biểu hiện của thành quả đó thể hiện dưới dạng tri
thức và hiện vật. Tri thức chứa đựng trong các vật mang là sách báo, tạp chí,
tài liệu hội nghị, hội thảo, các báo cáo kết quả nghiên cứu, kết quả đề tài, luận
văn, đồ án thiết kế, thống kê số liệu, tài liệu sáng chế v.v.; hiện vật bao gồm
mô hình, máy mẫu, sản phẩm sản xuất thử, công nghệ mới v.v. Như vậy, yếu
tố đầu ra của NC&PT cũng là thông tin KH&CN, hay nói cách khác, một
phần sản phẩm của NC&PT là thông tin KH&CN.
Thông tin KH&CN còn là yếu tố đầu vào của nghiên cứu và phát triển. Là
một quá trình chuyển hóa có nhiều cấp độ, hoạt động NC&PT vừa là quá trình
không ngừng tạo ra các thành quả KH&CN vừa là quá trình không ngừng tiếp
thu, áp dụng, đưa các thành quả KH&CN vào thực tiễn sản xuất và đời sống.
Sản phẩm của NC&PT một mặt được áp dụng vào thực tiễn, thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội. Mặt khác, nó lại quay trở lại làm nguyên liệu đầu vào
cho NC&PT, để NC&PT tiếp tục hoạt động và phát triển ở cấp độ cao hơn.
Sản phẩm của NC&PT, sau khi áp dụng vào thực tiễn cũng sẽ nhận được
thông tin phản hồi về chất lượng sản phẩm, về giá trị sử dụng v.v. nhằm thúc
đẩy NC&PT hoạt động đúng hướng và có hiệu quả cao. Qua đó, có thể thấy
thông tin KH&CN là một nhu cầu không thể thiếu trong toàn bộ quá trình
hoạt động của NC&PT nói chung và thực hiện các chương trình KH&CN cấp
nhà nước, nói riêng.
19
Để phục vụ thông tin KH&CN một cách hiệu quả cho các chương trình
KH&CN cấp quốc gia, cần chú trọng hai loại thông tin quan trọng:
- Thông tin KH&CN: đây là nguyên liệu chủ yếu để những người làm
NC&PT thực hiện công việc, nhiệm vụ của mình. Tất cả các thông tin thuộc
lĩnh vực KH&CN đều cần thiết cho hoạt động nghiên cứu, tất nhiên tùy từng
đối tượng, ở những thời điểm khác nhau, nội dung thông tin có thể đi sâu hơn
ý là James E. Anderson đã đưa ra định nghĩa: “Chính sách là quá trình hành
động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi để giải quyết những
vấn đề mà họ quan tâm”2
Trong từ điển tiếng Việt, Nhà Xuất bản Đà Nẵng, xuất bản năm 1988,
trang 157 có viết: “Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm
đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình
thực tế mà đề ra”hoặc trong Đại Từ điển tiếng Việt, Nhà Xuất bản Văn hoá –
Thông tin, năm 1999, trang 369: “Chính sách là các chủ trương và các biện
pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội”.
Trong các bài giảng về khoa học quản lý và khoa học chính sách, tác giả
Vũ Cao Đàm đã đưa ra định nghĩa: “Chính sách là một tập hợp biện pháp
được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra,
trong đó tạo ra sự ưu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động
của nhóm này, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu
tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội.”Khái niệm
“Hệ thống xã hội” ở đây được hiểu theo một ý nghĩa khái quát. Đó có thể là
một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường,
v.v..
Theo tác giả Luận văn chính sách chính là biện pháp nhằm bắt buộc đối
tượng thực thi theo ý muốn của chủ thể. Và trong quá trình thực thi đó, sẽ gây
ra những xung đột, xung đột đó tạo tiền đề cho nhóm hưởng lợi từ chính sách
và một nhóm thiệt hại từ chính sách gây ra. Từ đó, cho ra đời các chính sách
mới, cộng với tác động của môi trường, chính sách luôn được sủa đổi, ban
hành mới để sao cho phù hợp nhất với tình hình thực tại.
2
James E. Anderson: Public Policymaking, Thomson Learning, dec. 1983
21
tập hợp theo một mục đích xác định. Giữa chúng có thể có tính độc lập tương
22
đối cao. Tiến độ thực hiện các đề tài, dự án trong chương trình không có sự
đòi hỏi quá cứng nhắc, nhưng những nội dung của chương trình thì phải luôn
đồng bộ.
Từ các tiếp cận trên, tác giả luận văn nhận thấy cách tiếp cận của tác giả Vũ
Cao Đàm có tính khái quát cao và phù hợp với thực tiễn xây dựng và triển
khai các chương trình cấp quốc gia hiện nay ở nước ta và trên thế giới.
1.1.3.2. Khái niệm chương trình khoa học và công nghệ
Theo khoản 4, điều 15, Nghị định 81/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Luật khoa học và công nghệ (năm 2001), thì :
chương trình khoa học và công nghệ bao gồm một nhóm các đề tài, dự án
khoa học và công nghệ, được tập hợp theo một mục đích xác định nhằm thực
hiện mục tiêu phát triển khoa học và công nghệ cụ thể hoặc ứng dụng trong
thực tiễn.
Nghị định 08/2014/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 27 tháng 01 năm 2014,quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật khoa học và công nghệ năm 2013,
trong Chương 1, điều 3, mục 8; có nêu: chương trình khoa học và công nghệ
là nhiệm vụ khoa học và công nghệ có mục tiêu chung giải quyết các vấn đề
khoa học và công nghệ phục vụ phát triển và ứng dụng khoa học và công
nghệ trung hạn hoặc dài hạn được triển khai dưới hình thức tập hợp các đề tài
khoa học và công nghệ, dự án sản xuất thử nghiệm, dự án khoa học và công
nghệ.
Theo quan điểm của tác giả Luận văn, chương trình KH&CN là một tập
hợp các đề tài, dự án hoặc các hoạt động có liên quan đến nhau và có thể liên
quan đến một hoặc nhiều ngành, lĩnh vực nhằm đạt được một hoặc một số
mục tiêu xác định, có thời hạn thực hiện tương đối dài hoặc theo nhiều giai
đoạn, nguồn lực để thực hiện có thể huy động từ nhiều nguồn ở những thời