LỜI MỞ ĐẦU
Thuế không chỉ là công cụ quan trọng của nhà nước để quản lý nền kinh tế mà
còn là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Thông qua việc thu thuế nhà nước
có thể tập trung một phần nguồn lực xã hội vào tay mình để có thể thực hiện chức
năng của mình.
Từ khi nước ta thực hiện đổi mới, Đảng và nhà nước chủ trương phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho các thành phần trong xã hội có thể tự do sản xuất, kinh doanh theo pháp luật,
trong đó có việc tự do lựa chọn loại hình doanh nghiệp. Các doanh nghiệp kinh doanh
trong nhiều lĩnh vực khác nhau, ở nhiều địa bàn khác nhau do vậy cũng đã góp phần
vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của đất nước.
Tuy nhiên ở nước ta hiện nay việc quản lý thuế đối với các doanh nghiệp này
vẫn còn nhiều bất cập, gây ra thất thu thuế lớn. Mặc dù các luật thuế đã ra đời và thực
hiện được một thời gian khá dài nhưng công tác quản lý chưa chặt chẽ vẫn còn nhiều
kẽ hở vì vậy một số doanh nghiệp đã lợi dụng để trốn lậu thuế, do đó một trong những
nhiệm vụ quan trọng của ngành thuế là phải tăng cường chống thất thu thuế đối với
các doanh nghiệp, tổ chức có hoạt động sản xuất, kinh doanh nhất là đối với các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh nhằm tránh thất thoát cho ngân sách nhà nước và đảm bảo sự
công bằng cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước.
Hiện nay nước ta ngày càng hội nhập sâu với kinh tế thế giới do vậy nhiều loại
thuế đang được cắt giảm theo những hiệp định đã ký kết nhất là các loại thuế xuất
nhập khẩu, đồng nghĩa với việc cắt giảm các loại thuế này là NSNN sẽ mất đi một
khoản thu đáng kể do vậy mà việc chống thất thu thuế ngày càng trở nên cấp thiết.
Từ những lý do trên nhóm em đã tìm hiểu, nghiên cứu về đề tài: “Các biện pháp tăng
nguồn thu thuế ở Việt Nam”.
Nội dung đề tài nghiên cứu gồm ba phần:
Chương 1: Tổng quan về thuế và thất thu thuế tại Việt Nam
Chương 2: Nguyên nhân và thực trạng thất thu thuế tại Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp tăng nguồn thu thuế tại Việt Nam
Nhóm SVTH: ……….– Lớp: …………… - Trường: Học Viện Nông nghiệp…
hành tiền tệ. Mức độ động viên thu ngân sách với tỷ lệ giữa thâm hụt ngân sách trên
tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của mỗi nước cho thấy mức độ huy động của Nhà
nước để bù đắp cho các khoản chi này (tất nhiên kể cả khoản lãi phải trả khi hoàn trả
nợ).
Nhóm SVTH: ……….– Lớp: …………… - Trường: Học Viện Nông nghiệp…
Trang 2
b) Chức năng phân phối lại nhằm đảm bảo công bằng xã hội:
Ngay từ lúc ra đời thuế là phương tiện dùng để động viên nguồn tài chính vào ngân
sách Nhà nước (có ở tất cả các kiểu Nhà nước).Về mặt lịch sử, chức năng huy động
nguồn tài chính là chức năng đầu tiên, phản ánh nguyên nhân nảy sinh ra thuế.Thông
qua chức năng này, các qũy tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành để đảm
bảo cơ sở vật chất cho sự hoạt động thường xuyên và tồn tại của Nhà nước.
c) Chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế hay khắc phục những bất cân bằng
của thị trường:
Thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hình thức
thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế; xây
dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp có tính đến khả năng của người nộp
thuế. Trên cơ sở đó Nhà nước kích thích các hoạt động kinh tế đi vào qũy đạo chung
của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với lợi ích của toàn xã hội. Trong điều kiện chuyển
sang cơ chế thị trường, vai trò kích thích kinh tế thông qua thuế ngay càng được nâng
cao. Nhà nước sử dụng thuế để tác động lên lợi ích kinh tế của các chủ thể vì lợi ích
của nền kinh tế quốc dân. Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước không mang
tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh mà
chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể kinh doanh..
Tóm lại, để phát huy được vai trò của thuế trong nền kinh tế, phải sử dụng thuế
đúng với chức năng của nó. Tuy nhiên, vai trò của thuế đối với nền kinh tế ở mỗi quốc
gia không giống nhau mà tuỳ thuộc vào “nghệ thuật sử dụng” công cụ thuế của mỗi
những năm 90, được đánh dấu bằng việc Quốc hội ban hành Luật thuế giá trị gia tăng
và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 1997 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/01/1999), thay thế Luật thuế doanh thu, Luật thuế lợi tức. Năm 1998, Luật thuế tiêu
thụ đặc biệt, Luật thuế XNK cũng được sửa đổi để bảo đảm sự đồng bộ. Các Luật thuế
quan trọng này tiếp tục được bổ sung, sửa đổi vào cuối năm 2003, 2005.
Thực hiện Chương trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010, Quốc hội đã ban
hành Luật thuế thu nhập cá nhân vào tháng 11/2007 với hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2009, thay thế cho Luật thuế chuyển quyền sử dụng đất và Pháp lệnh thuế thu
nhập đối với người có thu nhập cao. Năm 2008, Quốc hội sửa đổi đồng bộ Luật thuế
giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế thu nhập doanh nghiệp để
thống nhất thực hiện từ đầu năm 2009. Như vậy, sau gần 20 năm xây dựng và hoàn
thiện, hệ thống chính sách thuế của Việt Nam đến nay gồm có các sắc thuế sau:
(i) Thuế giá trị gia tăng (GTGT),
(ii) Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB),
(iii) Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu (XNK),
(iv) Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN),
Nhóm SVTH: ……….– Lớp: …………… - Trường: Học Viện Nông nghiệp…
Trang 4
(v) Thuế thu nhập cá nhân (TNCN),
(vi) Thuế sử dụng đất nông nghiệp,
(vii) Thuế nhà đất,
(viii) Thuế tài nguyên,
(ix) Thuế môn bài,
(x) Các loại phí và lệ phí.
Bắt đầu từ 01/01/2015, một số chính sách thuế sửa đổi bổ sung của Nhà Nước
và Bộ Tài Chính đã có hiệu lực được quy định cụ thể trong Luật số 71/2014/QH1 và
Thông tư 26/2015/TT-BTC:
- Phân bón là các loại phân hữu cơ và phân vô cơ
- Thức ăn cho gia súc, gia cầm, thủy sản và thức ăn cho vật nuôi khác.
- Máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình cải cách thuế, một số dự án luật thuế
đang được nghiên cứu xây dựng để áp dụng trong thời gian tới, như: dự án Luật thuế
sử dụng đất, dự án Luật thuế tài sản (thời gia đầu ban hành Luật thuế nhà, đất), dự án
Luật thuế bảo vệ môi trường…
1.1.5. Khái quát về bộ máy quản lý thu thuế hiện hành ở Việt Nam
Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế hiện hành bao gồm hệ thống thu nội địa (Thuế Nhà
nước) và hệ thống thu thuế XNK.
Hệ thống Thuế Nhà nước:
Theo Nghị định số 281-HĐBT ngày 7/8/1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính
phủ), hệ thống thuế Nhà nước được thành lập để thực hiện công tác thu và quản lý các
loại thuế và các khoản thu khác cho NSNN trong nội địa. Bộ máy quản lý thuế được tổ
chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương; cơ quan thuế đặt tại địa
phương chịu sự lãnh đạo song trùng của ngành thuế cấp trên và Chủ tịch UBND cùng
cấp; Tổng cục thuế, Cục thuế, Chi cục thuế là tổ chức trong hệ thống hành chính nhà
nước có tư cách pháp nhân công quyền, có con dấu riêng và được mở tài khoản tại
Kho bạc nhà nước.
Ngày 28 tháng 10 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số
218/2003/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của
Tổng cục Thuế trực thuộc Bộ Tài chính. Theo đó, bộ máy quản lý thu thuế nội địa
được đổi mới tổ chức theo mô hình chức năng, chuyển sang thực hiện việc cung cấp
thông tin và dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế; đồng thời đẩy mạnh công tác thanh tra,
kiểm tra xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế.
Hệ thống Hải quan:
Nhóm SVTH: ……….– Lớp: …………… - Trường: Học Viện Nông nghiệp…
Trang 6
1.2.3. Thất thu thuế do trốn thuế và tránh thuế:
Nhóm SVTH: ……….– Lớp: …………… - Trường: Học Viện Nông nghiệp…
Trang 7
Trốn thuế là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt hành chính hay bị
truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn thuế.
Tránh thuế là hành vi lợi dụng những quy định của pháp luật thuế nhằm làm
giảm số thuế phải nộp cho Nhà nước. Tránh thuế hợp pháp không bị xử phạt hành
chính hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bởi lẽ, đối tượng nộp thuế am hiểu rõ về
pháp luật thuế và vận dụng tốt những phương thức hạch toán hợp pháp để giảm thiểu
các khoản thuế phải đóng, mà không trái với quy định pháp luật.
a) Các hình thức trốn thuế:
Việc trốn thuế ở Việt Nam thường diễn ra dưới nhiều hình thức và ở nhiều loại thuế
khác nhau. Chẳng hạn, trường hợp doanh nghiệp trong nước bắt tay với đối tác bán hàng
nước ngoài hạ giá hàng hóa nhập khẩu nhằm trốn thuế nhập khẩu; tổ chức, cá nhân mua
bán hóa đơn đầu vào khống (thuế giá trị gia tăng); doanh nghiệp không khai báo đầy đủ
doanh thu hay khai khống chi phí (thuế thu nhập doanh nghiệp); cá nhân không kê khai
thu nhập chịu thuế (thuế thu nhập cá nhân), hạ giá của hàng hóa mua bán chịu thuế
trước bạ (như xe hơi hay nhà ở) để giảm thiểu số thuế trước bạ phải đóng…
b)
-
Các hình thức tránh thuế:
Chuyển dịch thu nhập
Hoãn thuế (vd như bán phiếu quà tặng)
Trung gian thuế (vd bán cho doanh nghiệp khác tài sản sau thuê lại, doanh
-
nhiều biện pháp tích cực nhưng cũng chưa chuyển biến. Bộ tài chính chỉ đạo phấn đấu
nợ tồn đọng thuế cuối năm chỉ dưới 5%, nhưng thực tế các địa phương đều nợ thuế tồn
đọng trên 10%, cá biệt có địa phương hơn 50% nợ thuế tồn đọng. Có nhiều nguyên
nhân khách quan và chủ quan.
- Về mặt khách quan do chế độ chính sách nộp thuế các đối tượng nộp thuế được kéo
dài đến 90 ngày, nếu quá thời gian đó ngành thuế mới áp dụng các biện pháp hành
chính để xử lý. Trong thời gian này các đối tượng nộp thuế chỉ nộp tiền phạt thuế do
nộp chậm, số tiền nộp phạt chậm quá thấp so với mức lãi vay ngân hàng hiện nay của
các ngân hàng, do vậy không doanh nghiệp, hộ kinh doanh nào lại đi vay ngân hàng để
nộp thuế với mức lãi suất cho vay quá cao như hiện nay.
Nhóm SVTH: ……….– Lớp: …………… - Trường: Học Viện Nông nghiệp…
Trang 9
- Về mặt chủ quan có nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh làm ăn có tinh thần trách
nhiệm, đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế theo quy định, tuy nhiên có doanh nghiệp,
hộ kinh doanh cố tình trốn thuế, khi biết đến thời điểm ngành thuế sẽ áp dụng các biện
pháp hành chính thì các đơn vị này đã tẩu tán tài sản, nơi kinh doanh chỉ là nơi thuê
mặt bằng để kinh doanh, nơi ngân hàng đăng ký tài khoản thì không còn số dư. Cuối
cùng cơ quan thuế chuyển hồ sơ sang cơ quan công an điều tra để xử lý, nhưng không
xử lý được do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, vì các tổ chức này chỉ nợ thuế chứ
không phải trốn thuế.
- Hệ thống luật thuế còn nhiều bất cập, chưa theo kịp tốc độ phát triển của nền kinh tế
trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế của Việt nam.
- Công tác quản lý và khai thác nguồn thu thuế của một số địa phương chưa thật sự
chặt chẽ, hiệu quả.
- Trình độ của cán bộ thuế ở một số địa phương, một số lĩnh vực chưa thực sự đáp ứng
được yêu cầu quản lý của ngành thuế, nhất là đối với công tác quản lý thuế của các
- Cũng theo báo cáo của ngành Thuế hiện tổng nợ thuế đang chiếm tỷ trọng 6,9% trên
toàn bộ tổng thu NSNN năm 2011. Nợ thuế năm 2011 tiếp tục tăng 29,5%. Trong đó,
nợ chờ xử lý năm 2011 tăng 7,7% so với năm 2010; nợ có khả năng thu tăng 33,3%.
Một số địa phương có số nợ thuế năm 2011 tăng trên 50% so với năm 2010 như: An
Giang, Bắc Ninh, Bình Phước, Cao Bằng, Lào Cai, Tây Ninh….
- Đặc biệt năm 2011, Cục thuế các địa phương đã xử lý tích cực nợ chờ điều chỉnh (nợ
ảo), tính đến 31/12/2011 đã xử lý hết số nợ ảo tính đến 31/12/2010, với số nợ chiếm
0,3% trên tổng số thu NSNN. Công tác thanh kiểm tra tại 50.276 doanh nghiệp (đạt
90,65% chỉ tiêu kế hoạch và bằng 158,3% so với 2010) đã xử lý truy thu, truy hoàn và
phạt đạt 7.582 tỷ đồng (bằng 138,8% so với 2010); giảm khấu trừ được 576 tỷ đồng;
giảm số lỗ qua thanh kiểm tra đạt 11.021 tỷ đồng.
- Theo Báo cáo Đánh giá thực hiện nhiệm vụ tài chính - ngân sách năm 2011của Bộ
Tài chính, công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chống thất thu thuế; đấu tranh chống
chuyển giá, nhất là đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), các khoản
thu liên quan đến đất đai, kinh doanh bất động sản, tài nguyên khoáng sản và thuế
xuất-nhập khẩu được xem là một trong những thành công đáng ghi nhận nhất trong
năm 2011 của ngành tài chính.Nhờ tích cực chống thất thu và nợ đọng thuế, nên thu
ngân sách cả năm 2011 vẫn đạt 647.500 tỷ đồng, vượt 13,4% so với dự toán, tăng
20,6% so với năm 2010. Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm 2011, ngành thuế đã thu
hồi 67% số nợ thuế năm 2010 chuyển sang, với tổng số tiền lên tới 18.039 tỷ đồng,
ngành hải quan đã xử lý thu trên 709 tỷ đồng tiền nợ thuế.
Nhóm SVTH: ……….– Lớp: …………… - Trường: Học Viện Nông nghiệp…
Trang 11
Hiện nay, ngành Thuế đã chuyển sang cơ chế tự khai, tự nộp, vì vậy, cán bộ thuế cần
nâng cao trách nhiệm, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp kê khai cho đúng. Từ nội dung
kê khai này, tìm ra những doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro kịp thời thanh tra, kiểm tra
Trang 12
Phản ánh của nhiều cục hải quan cho thấy, DN FDI trốn nợ thuế đã ở mức đáng lo
ngại, số nợ thuế mỗi vụ lên đến hàng chục tỷ đồng.
Điển hình như trường hợp của Công ty trách nhiệm hữu hạn Diing Long Việt Nam
tại Bình Dương. Công ty này nợ thuế nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu lên
tới hơn 17 tỷ đồng. Số tiền này chưa kịp thu hồi thì ban giám đốc của Diing Long đã
về nước. Công ty rơi vào tình trạng vắng chủ trong khi tài sản đã thế chấp tại ngân
hàng. Hiện công ty chỉ còn một nhà xưởng trên diện tích 3 ha tại Mỹ Phước ước tính
trị giá 70 tỷ đồng, song, tài sản này đã được thế chấp tại ngân hàng với số tiền vay trên
100 tỷ đồng. Với trường hợp như vậy, cơ quan hải quan gần như "bó tay" để đòi được
thuế của doanh nghiệp.
Đối tượng DN FDI bỏ trốn và nợ thuế chủ yếu tập trung ở các DN sản xuất xuất khẩu.
Theo lý giải của một số chuyên gia kinh tế, do biến động kinh tế, sản xuất xuất khẩu
khó khăn, giá nhân công tại Việt Nam cũng không còn cạnh tranh so với nhiều nước
trong khu vực, nhiều DN FDI lợi dụng cơ hội này để “tháo chạy”.
Thực tế DN FDI bỏ trốn, xù nợ thuế không còn là cá biệt. Hải quan Hải Phòng mới
đưa ra thống kê, tại đơn vị hiện còn 14 DN nợ thuế có chủ là người nước ngoài đã bỏ
trốn, với tổng số nợ gần 11,7 tỷ đồng. Các DN này mở tờ khai trong khoảng thời gian
từ năm 2003 trở lại đây, số nợ của các DN bao gồm nợ thuế NK, thuế GTGT và một
số trường hợp nợ tiền phạt chậm nộp. Trong số 14 DN này, DN có số nợ nhiều nhất
trên 7,2 tỷ đồng (gần 3,7 tỷ thuế GTGT và hơn 3,5 tỷ thuế NK) là Công ty TNHH Đầu
tư và Phát triển Kenmark.
Lãnh đạo Hải quan Hà Nội cho biết, đơn vị đang rà soát các nguồn nợ thuế, tập trung
vào đối tượng DN FDI. Còn theo Cục Hải quan TP.Hồ Chí Minh, hiện còn 1.114 DN
nợ thuế bỏ trốn khỏi địa chỉ đăng kí kinh doanh, không kinh doanh tại địa chỉ đăng ký,
ngưng và tạm ngưng hoạt động. Số DN nêu trên nợ thuế XNK tổng cộng trên 416 tỷ
đồng.
Theo Hải quan Đồng Nai, những DN phát sinh nợ đọng trên địa bàn còn có thể rà soát
không nhỏ gian lận thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu. Đây mới chỉ là thống kê chưa
đầy đủ, chưa phản ánh hết thực tế. Tình trạng gian lận thuế trong hoạt động xuất nhập
khẩu ngày càng diễn biến tinh vi, phức tạp. Trong đó, gian lận thông qua khai báo mã
số và xuất xứ hàng hóa là hai hình thức phổ biến và có dấu hiệu gia tăng. Đây là thực
tế đáng lo ngại, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế gặp khó khăn như hiện nay. Bởi
Việt Nam đã hội nhập khu vực và nền kinh tế thế giới, theo đó nhiều dòng thuế được
cắt giảm và mức ưu đãi khác nhau. Nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng để trục lợi, thực
hiện hành vi bất chính.
2.2.2.3. Thực trạng thất thu thuế do bất động sản:
Nguồn thu liên quan đến bất động sản như thu tiền sử dụng đất, thuế trước bạ. Đây
cũng là khâu cần chấn chỉnh vì thực trạng tại nhiều địa phương việc thu còn tồn tại nợ
đọng, thu không đúng, không đủ.
2.2.2.4. Thất thu trong thương mại điện tử, dịch vụ kinh doanh qua mạng:
Rủi ro về thất thu trong thương mại điện tử, dịch vụ kinh doanh qua mạng, nguồn thu
từ quảng cáo của các đơn vị kinh doanh mạng xã hội.
2.2.2.5. Thất thu trong lĩnh vực thuế giá trị gia tăng:
Nhóm SVTH: ……….– Lớp: …………… - Trường: Học Viện Nông nghiệp…
Trang 14
Hoàn thuế và thuế giá trị gia tăng qua thanh tra có nhiều dấu hiệu vi phạm như
cố tình hoạch toán 3 tháng âm liên tục để hoàn thuế.
Một trong những loại thuế thường bị lợi dụng để “rút tiền” của Nhà nước là
thuế giá trị gia tăng (GTGT). Hầu hết cơ quan thuế của các địa phương đều cho rằng,
vi phạm liên quan đến thuế GTGT là khá phổ biến, đặc biệt quản lý thuế đối với các
doanh nghiệp (DN) ngoài quốc doanh, các hộ kinh doanh cá thể trong lĩnh vực thủy
sản là vô cùng khó khăn.
Lợi dụng quy định khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng nông, lâm, thủy
sản để tháo gỡ khó khăn cho người trực tiếp sản xuất, không ít người đã tạo ra hiện
chưa cao. Sau một thời gian thực hiện, với quy định giao quyền tự tạo hóa đơn cho
DN, bên cạnh những hình thức gian lận phổ biến như mua bán hóa đơn, xuất hóa đơn
khống… đang phát sinh thêm các hình thức gian lận mới như:
In trùng số sê-ri trên hóa đơn: Trong quá trình tạo lập hóa đơn, DN tự in hóa
đơn, tự tạo hóa đơn điện tử có thể tự mình in trùng số sê-ri hóa đơn để sau khi bán
hàng DN không khai thuế những hóa đơn in trùng. Nhất là những DN có hệ thống bán
lẻ rộng khắp các tỉnh thành trong cả nước thì việc in trùng số sê-ri và sử dụng ở các chi
nhánh khác nhau rất khó bị phát hiện. Ngay cả DN đặt in cũng dễ dàng phối hợp với
DN nhận in hóa đơn để in thừa, in trùng số sê-ri hóa đơn để sử dụng nhưng không khai
thuế đầu ra làm giảm doanh số bán ra nhằm trốn thuế. DN bán lẻ đến tay người tiêu
dùng, người tiêu dùng cá nhân thường không dùng hóa đơn để kê khai, quyết toán thuế
nên cơ quan thuế sẽ không thể phát hiện được số hóa đơn in thừa này.
Sử dụng hóa đơn xoay vòng: do luật không quy định buộc DN không ghi mã số
hàng hóa, số sê-ri từ sản phẩm bán ra trên hóa đơn nên nhiều DN sử dụng hóa đơn với
thông số lượng hàng hóa chung chung để chứng minh cho hàng hóa bất hợp pháp. Tức
là dùng một hóa đơn sử dụng nhiều lần cho các lô hàng trôi nổi, hàng lậu, hàng không
hóa đơn chứng từ để trốn thuế. Nếu cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra thì DN xuất
trình hóa đơn lô hàng đã bán (nhưng không lập hóa đơn bán hàng) để đối phó…
Trong khi đó, công tác thanh tra, kiểm tra hiện nay chưa thật sự đảm bảo về số lượng
và chất lượng. Số lượng thanh tra, kiểm tra tại DN chiếm tỷ lệ còn thấp so với tổng số
DN quản lý. Chẳng hạn, Cục thuế TP. HCM hiện đang quản lý 143.648 DN nhưng
công tác thanh tra, kiểm tra chiếm số lượng chưa cao.
Nội dung thanh tra của ngành thuế chủ yếu trên cơ sở kê khai, báo cáo “tự tính,
tự khai, tự nộp thuế” của DN, mà trong khi đó phần lớn DN ý thức tuân thủ pháp luật
chưa cao, cơ chế giám sát việc tuân thủ pháp luật DN chưa triệt để… Do đó đã ảnh
hưởng không nhỏ đến chất lượng của công tác thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng và thu
nộp thuế nói chung của DN.
2.2.2.6. Thất thu do hạch toán chi phí không hợp lý, hợp lệ:
Nhóm SVTH: ……….– Lớp: …………… - Trường: Học Viện Nông nghiệp…
Trang 17
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG NGUỒN THU THUẾ Ở VIỆT NAM
3.1.
Về cơ chế, chính sách:
- Tổng cục Thuế chủ trì phối hợp với các đơn vị trong Bộ, các Cục Thuế, khẩn trương
thực hiện rà soát, xây dựng, sửa đổi, bổ sung các cơ chế chính sách về thuế đảm bảo
hành lang pháp lý phục vụ tốt cho công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu, giảm nợ
đọng thuế.
- Hoàn thiện hơn nữa cơ chế chính sách, tạo cơ sở và hành lang pháp lý cho hoạt động
của doanh nghiệp cũng như trong công tác chống chuyển giá của cơ quan chức năng.
Hiện nay, Bộ Tài chính đang trình Chính phủ, Quốc Hội sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Quản lý thuế theo hướng cho phép quy định áp dụng thoả thuận giá trước –
APA.
- Quy định riêng về thời hạn thanh tra đối với hoạt động chuyển giá.
- Quy định về quyền điều tra cho cơ quan thuế; bổ sung thêm quy định về ngưỡng kê
khai thông tin giao dịch liên kết để đơn giản hoá cho người nộp thuế trong việc kê khai
và phù hợp với điều kiện Việt Nam.
- Xây dựng chế tài xử phạt đủ mạnh để đảm bảo tính răn đe.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu đầy đủ, chính xác nhằm tập trung công tác thanh tra kiểm tra
vào các doanh nghiệp có dấu hiệu bất thường, sao cho đạt mục tiêu từ 15 – 20% doanh
nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh được thanh kiểm tra hàng năm và tăng
cường hướng dẫn, kiểm tra để số doanh nghiệp có tờ khai thuế hàng tháng, hàng quý
đạt tỉ lệ 98%. Tuy nhiên, trong việc lập danh sách các doanh nghiệp cần kiểm tra này
phải tuân theo nguyên tắc quản lý rủi ro, giảm tối thiểu sự tác động của các yếu tố
khách quan vào việc xác định danh sách doanh nghiệp.
- Phối hợp với lực lượng của các bộ ngành sao cho nâng cao hiệu quả quản lý doanh
kiểm tra, quản lý nợ thuế, cưỡng chế nợ thuế.
- Tổ chức nghiên cứu, xây dựng các chuyên đề quản lý thuế chuyên sâu phục vụ cho
công tác quản lý của toàn ngành Thuế: Giao Tổng cục Thuế chủ trì phối hợp với các
Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh
Phúc … xây dựng chuyên đề quản lý giá chuyển nhượng; Cục Thuế các tỉnh Quảng
Ninh, Khánh Hoà, TP Đà Nẵng và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xây dựng chuyên đề quản
lý thuế đối với kinh doanh dịch vụ du lịch, khách sạn,…
3.3. Về công tác tổ chức, đánh giá, tổng kết:
Cục Thuế các tỉnh, thành phố tổ chức đánh giá tổng kết công tác chống thất thu,
nợ đọng thuế của cả giai đoạn 2009-2012 trên địa bàn quản lý, đánh giá mức độ thất
Nhóm SVTH: ……….– Lớp: …………… - Trường: Học Viện Nông nghiệp…
Trang 19
thu, nợ đọng thuế trên từng địa bàn, lĩnh vực, xác định rõ lĩnh vực còn thất thu, nhận
dạng chính xác các nhóm tổ chức, cá nhân người nộp thuế có khả năng rủi ro cao để
lập danh sách các doanh nghiệp cần thanh tra, kiểm tra thuế, tập trung thu nợ thuế.
- Tập trung sáu lĩnh vực chủ yếu: kiểm tra, thanh tra chống chuyển giá đối với các loại
hình doanh nghiệp trên địa bàn; hoàn thuế, khấu trừ thuế GTGT; thu thuế đối với lĩnh
vực bất động sản, thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất; quản lý thu thuế đối với hàng hoá
biên mậu theo Quyết định số 139/2009/QĐ-TTg ngày 23/12/2009 của Thủ tướng
Chính phủ ở các địa phương có biên giới đường bộ; chống thất thu đối với kinh doanh
thương mại, dịch vụ du lịch, khai thác mỏ; chống thất thu đối với những loại hình kinh
doanh mới phát sinh như thương mại điện tử, kinh doanh qua mạng,…
3.4. Về tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo:
Thủ trưởng cơ quan thuế các cấp phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và
thường xuyên kiểm tra, kiểm soát, đôn đốc thực hiện đối với công tác thanh tra, kiểm
tra, chống thất thu, nợ đọng thuế đảm bảo hoàn thành được kế hoạch thanh tra, kiểm
tra và thu nợ thuế đã đề ra và thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo định kỳ.
hoạch thanh tra, kiểm tra đối với từng đơn vị để kịp thời đôn đốc đảm bảo tiến độ thực
hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra đã được giao. Yêu cầu thực hiện trong năm 2012
phấn đấu thanh tra đạt tối thiểu 1,5% số doanh nghiệp đang quản lý thuế và kiểm tra
tại doanh nghiệp tối thiểu 12,5% số doanh nghiệp đang quản lý thuế. Tập trung đẩy
mạnh công tác thanh tra đối với hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp, xác định
đây là nhiệm vụ công tác trọng tâm trong năm 2012. Đồng thời, đẩy mạnh thanh tra,
kiểm tra nội bộ theo kế hoạch được giao để phát hiện các hành vi vi phạm làm thất
thoát nguồn thu NSNN, kịp thời chấn chỉnh các sai phạm và xử lý nghiêm minh theo
đúng quy định của pháp luật.
- Đẩy mạnh việc thanh tra, kiểm tra công tác hoàn thuế giá trị gia tăng, tập trung đối
với những địa phương có số hoàn thuế tăng đột biến. Đối với những Cục Thuế có số
lượng hồ sơ hoàn thuế không lớn (dưới 1.000 tỷ/năm), trong vòng 3 tháng sau khi
hoàn thuế phải tổ chức kiểm tra 100% số hồ sơ (hoàn thuế trước kiểm sau); các địa
phương có hồ sơ hoàn thuế lớn thực hiện kiểm tra 100% số hồ sơ (hoàn thuế trước
kiểm sau) chậm nhất là 6 tháng sau khi hoàn thuế.
- Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng và phát triển kỹ thuật quản lý rủi ro trong công tác
thanh tra, kiểm tra, phân loại người nợ thuế, các khoản nợ thuế ở mức độ cao hơn và
hiệu quả tốt hơn như: mở rộng ứng dụng phần mềm phân tích rủi ro của người nộp
thuế để lập kế hoạch thanh tra thuế cho các Cục Thuế và các Chi cục Thuế; Kịp thời
xây dựng và triển khai phần mềm ứng dụng kiểm tra hồ sơ khai thuế GTGT tại cơ
quan thuế; nâng cấp ứng dụng hỗ trợ thanh tra kiểm tra thuế, thu nợ thuế theo quy
trình thanh tra sửa đổi phù hợp với Luật thanh tra mới và quy trình quản lý nợ thuế.
Nhóm SVTH: ……….– Lớp: …………… - Trường: Học Viện Nông nghiệp…
Trang 21
3.5. Về công tác miễn, giảm, hoàn thuế:
- Cơ quan thuế các cấp tổ chức xử lý miễn, giảm, hoàn thuế kịp thời, đúng quy định
của pháp luật thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế. Tăng cường công tác
tuyển, phúc tra… Kịp thời xây dựng trình Bộ các phương án về tuyển dụng công chức
Tổng cục Thuế năm 2012 trên cơ sở thông báo biên chế ngành thuế của Bộ, nhu cầu
thực tế, số lượng công chức nghỉ hưu.
- Cục Thuế các tỉnh, thành phố phải tổ chức bố trí, cơ cấu lại nguồn nhân lực thực tế
để bảo đảm tăng tỷ lệ cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra. Phấn đấu đến
31/12/2012 số cán bộ chuyên làm công tác thanh tra, kiểm tra tăng 2-3% so với thời
điểm đầu năm, đồng thời trưng dụng 5-6% số cán bộ ở các bộ phận khác tham gia
công tác thanh tra, kiểm tra.
- Thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo theo Chỉ thị số 04/CT-BCSĐ của
Ban Cán sự Đảng Bộ Tài chính, làm tốt công tác quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại
cán bộ, công tác điều động, luân phiên, luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác.
- Tổ chức triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 04/CT-BTC ngày 20/12/2011 của Bộ
trưởng Bộ Tài chính về việc tăng cường kỷ luật, kỷ cương khi thi hành công vụ trong
ngành Tài chính.
3.8. Về công tác tuyên truyền, hỗ trợ:
- Tổng cục Thuế khẩn trương xây dựng kế hoạch công tác tuyên truyền, hỗ trợ người
nộp thuế năm 2012 trong toàn ngành thuế, chi tiết nhiệm vụ cho từng cấp ngành thuế,
trong đó chú trọng đẩy mạnh công tác đối thoại với người nộp thuế.
- Cơ quan thuế các cấp chú trọng tổng hợp đầy đủ các thông tin liên quan đến công tác
thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng, coi đây là các ý kiến khách quan phản
hồi về cơ chế, chính sách, quy trình quản lý. Đối với những vấn đề mà dư luận phản
ánh đúng thì ngành thuế phải tiếp thu và chỉ đạo giải quyết kịp thời. Đối với những
phản ánh chưa đúng thì phải có sự giải thích, tuyên truyền, trong đó nghiên cứu xây
dựng quy chế quy định rõ thời hạn phải phản hồi các ý kiến mà dư luận đưa ra đối với
từng loại vụ việc, đối với những vấn đề mà báo chí phản ánh có sức lan toả rộng thì
phải có ý kiến phản hồi ngay.
3.9. Về sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thuế với các bộ ngành:
Cơ quan thuế các cấp tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, chính quyền
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ.
- Tổng cục Thuế phổ biến kịp thời kinh nghiệm quốc tế đối với các vấn đề, lĩnh vực
mới như: công tác chuyển giá, kinh doanh qua mạng, kê khai thuế điện tử, xác định giá
trước … cho các Cục Thuế. Lấy Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh và Cục Thuế thành
phố Hà Nội làm nòng cốt để nghiên cứu, khảo sát trong việc xây dựng cơ chế, chính
sách, các kỹ năng, quy trình nghiệp vụ quản lý.
Nhóm SVTH: ……….– Lớp: …………… - Trường: Học Viện Nông nghiệp…
Trang 24
3.11. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính: trong lĩnh vực quản lý thuế
theo Đề án 30 của Chính phủ; đẩy mạnh công tác kê khai thuế qua mạng, nộp thuế qua
ngân hàng; tổ chức triển khai dự án ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu
quản lý thuế Thu nhập cá nhân; đẩy mạnh triển khai hệ thống thông tin quản lý thuế
tích hợp ITAIS (dự án Tamp); đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án phát triển hệ thống
đại lý thuế, trên cơ sở đó giảm thời gian thực hiện các thủ tục hành chính của cả cơ
quan thuế và người nộp thuế, cơ quan thuế có điều kiện tập trung nguồn lực vào công
tác thanh tra, kiểm tra, quản lý nợ thuế.
Nhóm SVTH: ……….– Lớp: …………… - Trường: Học Viện Nông nghiệp…
Trang 25