Các biện pháp tăng nguồn tài chính cho đào tạo, bồi dưỡng tại học viện hành chính quốc gia - Pdf 10


4
Các biện pháp tăng nguồn tài chính cho đào tạo,
bồi dưỡng tại Học viện Hành chính
Quốc gia

Nguyễn Thị Thanh Hằng

Trường Đại học Giáo dục
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục; Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn: TS. Phạm Quang Sáng
Năm bảo vệ: 2008

Abstract. Trình bày cơ sở lý luận về quản lý nhằm tăng cường nguồn tài chính (NTC)
của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức: đưa ra các khái niệm cơ bản, các
NTC và quản lý tài chính trong các cơ sở đào tạo, quản lý tài chính với việc tăng nguồn
thu của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Khái quát quá trình hình thành
và phát triển, quy mô đào tạo, chức năng và tổ chức bộ máy của Học viện Hành chính
Quốc gia. Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý huy động và sử dụng các NTC
cho đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện. Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm tăng nguồn
tài chính cho công tác đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện Hành chính Quốc gia như: đổi mới
công tác kế hoạch tài chính phục vụ mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng, đa dạng hóa các hình
thức đào tạo và khuyến khích các đơn vị trong Học viện mở rộng nguồn thu, tăng cường
quản lý nhằm sử dụng hợp lý các NTC phục vụ đào tạo, bồi dưỡng, củng cố bộ máy quản
lý công tác tài chính, tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá các hoạt động thu, chi

Keywords. Giáo dục đại học; Học viện Hành chính Quốc gia; Quản lý giáo dục; Tài
chính

Content.
MỞ ĐẦU

bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng quản lý nhà nước đối với cán bộ, công chức" (Quyết định
số 13/2006/QĐ-BNV ngày 06 tháng 10 năm 2006).
Học viện Hành chính Quốc gia được thành lập từ 1959 đến nay và ngày càng có
vai trò quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng
quản lý cho đội ngũ cán bộ, công chức. "Học viện Hành chính Quốc gia là Trung tâm
Quốc gia, tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy biên chế và tài chính theo quy
định của pháp luật; thực hiện các chức năng: đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức nhà nước, các chức danh công chức hành chính các cấp, cán bộ, công
chức cơ sở, công chức dự bị, đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên các chuyên ngành hành
chính và quản lý nhà nước; nghiên cứu khoa học hành chính và tư vấn cho Chính phủ
trong lĩnh vực hành chính và quản lý nhà nước.
Nhu cầu đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức thì lớn, trong khi đó khả năng đầu tư của
ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, Nhà nước không thể bao cấp toàn bộ cho sự nghiệp đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ công chức. Trong nền kinh tế thị trường, áp lực về cải cách tài chính cho đào
tạo bồi dưỡng lực lượng lao động của cả nước nói chung và cán bộ công chức nói riêng đã
tăng lên ở hầu hết các nơi trên thế giới. Những giải pháp nhằm khắc phục sự khan hiếm về
nguồn vốn đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư, sẽ được tìm ra cho các
cơ sở đào tạo với điều kiện khung chính sách cho các hoạt động phải được cải cách một cách
cơ bản và các cơ sở đào tạo ngày càng phải năng động hơn trong việc tìm kiếm và gia tăng
nguồn lực đầu tư cho đào tạo và bồi dưỡng.
Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn tài chính và để cho hoạt động đào tạo
của Học viện ngày càng đảm bảo chất lượng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức cho sự nghiệp đổi mới quản lý nhà nước, kết hợp với những kinh

6
nghiệm tích luỹ được trong quá trình công tác, đề tài "Các biện pháp tăng nguồn tài
chính cho đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện Hành chính Quốc gia" vừa nhằm đáp ứng
những yêu cầu cấp thiết và có tính thời sự trong tình hình hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở xác định các cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng của việc quản lý huy động

của người học cho quá trình đào tạo.
Về thời gian: Tập trung nghiên cứu giai đoạn từ năm 2002 đến nay (từ khi có
N
N
g
g
h
h

ịđ
đ


n
n
h
hs
s

ố1
1

-
-
dấu hiệu bắt đầu tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho
các cơ sở đào tạo).

7
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương
pháp nghiên cứu sau:
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Sưu tầm sách, tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu để xây dưng cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra xã hội học (sử dụng bảng câu hỏi trong đánh giá các quy định hiện
hành của Học viện và các khả năng tăng nguồn tài chính cho đào tạo bồi dưỡng)
- Phương pháp thu thập và phân tích số liệu thống kê (về quy mô đào tạo, bồi dưỡng;
về nguồn thu)
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý
- Phương pháp hỏi ý kiến các chuyên gia.
9. Cấu trúc luận văn
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhằm tăng nguồn tài chính của các cơ sở đào tạo,
bồi dưỡng cán bộ, công chức
Chƣơng 2: Đánh giá công tác quản lý huy động các nguồn tài chính cho phát triển
đào tạo, bồi dưỡng tại Học viện Hành chính Quốc gia
Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý nhằm tăng nguồn tài chính cho phát triển đào tạo,
bồi dưỡng tại Học viện Hành chính Quốc gia trong bốí cảnh mới.

Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHẰM TĂNG NGUỒN TÀI CHÍNH
CỦA CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1.1 Đào tạo, bồi dƣỡng và các chƣơng trình đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức

Nước ta đang trong quá trình chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh
tế thị trường và ngày càng hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới; tư duy quản lý Nhà nước
đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội cần được đổi mới căn bản từ việc quản lý bằng mệnh
lệnh hành chính; cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp; phương thức quản lý một chiều từ
trên xuống sang quản lý bằng pháp luật (bao gồm cả các văn bản pháp quy: các quy chế
và điều lệ); cơ chế phân cấp, dân chủ, tự chủ và trách nhiệm xã hội; phương thức quản lý
tương tác lấy nhà trường làm trung tâm. Quá trình chuyển đổi này tất yếu đặt ra việc phải
đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức.
1. 2. Các nguồn tài chính và quản lý tài chính trong các cơ sở đào tạo
1.2.1. Khái niệm tài chính, nguồn tài chính
1.2.1.1. Khái niệm tài chính
Tài chính là hoạt động thu chi tiền tệ, thu chi tiền vốn, để duy trì và phát triển hoạt
động của cá nhân, gia đình, doanh nghiệp, tổ chức, của một địa phương, của Nhà nước.
(Bài giảng Quản lý tài chính trong giáo dục, Phạm Quang Sáng).
Tài chính là hệ thống các quan hệ kinh tế biểu hiện trong lĩnh vực hình thành và
phân phối quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung trong nền kinh tế quốc dân. (Bài giảng
Quản lý tài chính trong giáo dục, Phạm Quang Sáng).
1.2.1.2. Khái niệm nguồn tài chính
Nguồn tài chính là tiền tệ không phải chủ yếu với tư cách là vật ngang giá
chung, với chức năng đặc trưng là thước đo giá trị mà trước hết là tiền tệ đang vận
động độc lập với chức năng chủ yếu là phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ

9
trong quá trình phân phối để tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ. Sự vận động độc lập
tương đối của của cải xã hội dưới hình thức tiền tệ đã hình thành một lĩnh vực đặc biệt
- lĩnh vực tài chính.
Tóm lại, nguồn tài chính - nguồn hình thành tài sản và tài sản đó được thể hiện
dưới hình thức giá trị (hay hình thức tiền tệ).
1.2.2. Cách phân loại nguồn tài chính của các cơ sở đào tạo
Có nhiều cách phân loại các nguồn tài chính cho giáo dục đại học. Trong bài viết

10
Hai là, thực hiện quan điểm “xã hội hoá trong đào tạo” khai thác tiềm năng của
các thành phần, các tổ chức kinh tế đóng góp kinh phí cho đào tạo trong khi nguồn
NSNN còn hạn hẹp.
Ba là, bản thân ngành giáo dục đại học cũng cần phát huy tính năng động của
mình trong việc huy động các nguồn tài chính.
* Nội dung nguồn thu ngoài NSNN cho đào tạo
Nguồn tài chính ngoài NSNN bao gồm:
- Nguồn thu từ học phí và lệ phí.
- Thu từ các hoạt động hợp đồng nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất và các
dịch vụ trong các trường đại học và cao đẳng.
- Nguồn thu viện trợ và quà biếu.
- Các khoản thu khác (quỹ khuyến học, quỹ khuyến khích tài năng )
* Đặc điểm hình thành và yêu cầu sử dụng nguồn tài chính ngoài NSNN
Một là, nguồn thu này mang tính thoả thuận, tự nguyện giữa các cơ sở đào tạo và người
được cung cấp dịch vụ đào tạo, hoặc các tổ chức cá nhân có lòng hảo tâm, từ thiện.
Hai là, quy mô nguồn tài chính này tuỳ thuộc vào nhu cầu xã hội trong mỗi thời
kỳ, vào tiềm lực đội ngũ và khả năng phục vụ xã hội, mối quan hệ, uy tín của các
trường.
Ba là, Nhà nước hướng dẫn việc thu chi đối với nguồn thu ngoài NSNN.
Những phân tích trên cho thấy, nguồn tài chính đầu tư cho giáo dục đại học có mối
quan hệ chặt chẽ với tất cả các lĩnh vực trong hệ thống tài chính của nước ta. Trong đó,
tài chính nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nguồn đầu tư tài
chính cho giáo dục đại học. Bên cạnh đó, theo xu hướng xã hội hoá GD&ĐT, các nguồn
tài chính đầu tư cho giáo dục đại học được xây dựng trên hai phần: tài chính Nhà nước và
tài chính ngoài Nhà nước, bao gồm tài chính hộ gia đình, tài chính doanh nghiệp, tài
chính đối với các đơn vị sự nghiệp, tài chính ở các tổ chức tài chính và tài chính quốc tế.
1.2.3 Quản lý tài chính trong cơ sở đào tạo
1.2.3.1. Khái niệm quản lý tài chính trong GD&ĐT
Quản lý tài chính trong giáo dục đào tạo là quản lý các nguồn thu hợp pháp, lập kế

Năng lực tài chính của cán bộ, công chức và của các cơ quan đang quản lý, sử
dụng cán bộ công chức
Trên đây là những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến nguồn tài chính và huy động
nguồn tài chính đối với giáo dục đào tạo nói chung và các cơ sở đào tạo cán bộ, công
chức nói riêng. Việc nghiên cứu những nhân tố này sẽ giúp ta có thể tìm ra những giải
pháp hữu hiệu nhằm huy động nguồn tài chính cho phát triển cơ sở đào tạo và các
chương trình đào tạo cán bộ, công chức ở Việt Nam.
1.3.3. Quản lý tài chính theo các nguồn thu của cơ sở đào tạo cán bộ, công chức
Quản lý kinh phí cấp cho chi thƣờng xuyên của đào tạo, bồi dƣỡng
Quản lý kinh phí cấp cho chƣơng trình mục tiêu
Quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản
Quản lý thu chi trong các hoạt động phụ trợ khác của nhà trƣờng
Quản lý tài sản
Dựa vào phân loại nguồn thu và các nội dung quản lý tài chính nêu trên, các con đường
để tăng nguồn tài chính cho đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; bao gồm:
- Tăng nguồn cấp từ NSNN;

12
- Tăng cường việc cung cấp tài chính tư nhân cho đào tạo thông qua học phí của học
viên, sinh viên;
- Tăng cường mối quan hệ với khu vực quản lý Nhà nước, khu vực dịch vụ và công
nghiệp;
- Tặng tiền và đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân
- Vay tiền của các tổ chức quốc tế và nước ngoài

Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN
TÀI CHÍNH CHO ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG TẠI HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA
2.1. Khái quát chung và quy mô đào tạo của Học viện Hành chính Quốc gia
2.1.1. Sơ lược quá trình phát triển, chức năng và tổ chức bộ máy của Học viện


Các khoa chuyên ngành và bộ
môn chuyên ngành khác
Viện Nghiên cứu khoa học hành chính
Tạp chí Quản lý nhà nước
Trung tâm Tin học - Thư viện

Văn phòng Phân viện tại TP. Hồ Chí Minh
Ban Đào tạo
Văn phòng đại diện Học viện tại TP.
Huế
Phân viện HCQG tại TP. Hồ Chí Minh

SƠ ĐỒ 1: TỔ CHỨC BỘ MÁY HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
(Theo Quyết định 234/2003/QĐ-TTg)
Khối hoạt
động dịch vụ
Khối Đào tạo
Khối Đào tạo
Khối sự
nghiệp
Khoa Nhà nước , Pháp luật và Cơ sở
Khoa Quản lý Nhà nước
về các ngành, lĩnh vực
Khoa Văn bản và Kĩ thuật hành chính, Khoa
học hành chính, và Tổ chức, Quản lý nhân sự
Hành chính
Trung tâm Tin học - Thư viện
PHÓ GIÁM ĐỐC HỌC VIỆN
Cơ sở Học viện tại miền Trung
Khối giúp

2.2. Thực trạng khai thác và sử dụng các nguồn tài chính của Học viện
2.2.1. Nguồn ngân sách nhà nước cấp và việc sử dụng
2.2.1.1. Các nguồn thu từ ngân sách nhà nước
Học viện HCQG là đơn vị sự nghiệp được thụ hưởng kinh phí từ NSNN cấp. Hàng
năm nguồn kinh phí được cấp đảm bảo đủ để chi hoạt động thường xuyên và đầu tư cơ sở
vật chất, trang thiết bị của trường bao gồm: Kinh phí đào tạo sau đại học, đại học; kinh phí
đào tạo lại cán bộ; kinh phí nghiên cứu khoa học, chương trình mục tiêu và kinh phí dự án.
Riêng kinh phí đào tạo sau đại học, đại học, (loại 14 khoản 09) được cấp theo chỉ tiêu HS -
SV cùng với các định mức chi theo quy định của Nhà nước.
2.2.1.2. Sử dụng các nguồn thu từ ngân sách nhà nước cấp
Nội dung sử dụng nguồn NSNN cấp cho đào tạo chủ yếu tập trung vào các khoản
chi thường xuyên, trực tiếp gắn với công tác tổ chức quá trình giảng dạy, học tập theo
quy chế chuyên môn hiện hành.

15
Các khoản chi thường xuyên trong ngân sách đào tạo hàng năm được phân bổ chi
tiêu theo cơ cấu, nội dung chi như sau:
Nhóm 1 - Các khoản chi cho con người
Nhóm II - Chi nghiệp vụ chuyên môn
Nhóm III - Chi mua sắm sửa chữa tài sản cố định
Nhóm IV - Chi khác
2.2.2. Khai thác và sử dụng các nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước
2.2.2.1. Khai thác các nguồn thu ngoài ngân sách nhà ước
Ngoài nguồn NSNN cấp, Học viện Hành chính đã thực hiện đa dạng hoá các loại
hình đào tạo với các hệ: Chính quy, tại chức, liên kết ở các trình độ đào tạo đại học, cao
học, nghiên cứu sinh và mở các khóa bồi dưỡng ngắn hạn. Nhờ đó, trong những năm qua
nguồn thu ngoài NSNN cấp đã huy động được số lượng tương đối lớn phục vụ cho công
tác đào tạo tại Học viện.
Ngoài việc đào tạo chính quy, Học viện đã mở rộng quy mô đào tạo liên kết, liên
thông, nên các khoản thu từ nguồn đào tạo này cũng chiếm tỷ trọng khá lớn trong nguồn

- Ý kiến đề xuất về khai thác nguồn tài chính phục vụ đào tạo và bồi dưỡng cán bộ;
- Sự cần thiết cải tiến bộ máy phòng Kế toán tài vụ.
Các cán bộ, giáo viên được điều tra là những người trực tiếp có liên quan tới việc
quản lý khai thác, sử dụng các nguồn kinh phí của Học viện, bao gồm:
- Ban giám đốc: 3 người; Trưởng, phó phòng, khoa, ban: 15 người;
- Giảng viên chủ nhiệm lớp: 20 người.
Tổng cộng số cán bộ, giáo viên được điều tra và có tham gia trả lời phiếu điều tra:
35 người
2.3.1.2. Kết quả điều tra
2.3.2. Đánh giá chung về công tác quản lý khai thác và sử dụng các nguồn tài chính
cho đào tạo, bồi dưỡng
Căn cứ vào kết quả nghiên cứu thực trạng nguồn tài chính của Học viện Hành
chính và những nhận xét của cán bộ, giáo viên được hỏi ý kiến, chúng tôi có một số đánh
giá khái quát về nguồn tài chính của Học viện như sau:
Trong giai đoạn (từ năm 2002 đến 2006) nguồn tài chính của Học viện được đầu
tư chủ yếu là NSNN cấp, vì vậy Học viện cần có những biện pháp để khai thác các nguồn
thu khác. Hiện tại, hàng năm Học viện mới dành sự quan tâm chủ yếu vào chi tiêu NSNN
cấp hơn là tìm ra những biện pháp về khai thác các nguồn kinh phí, tổ chức thực hiện và
quản lý nguồn tài chính theo những mục tiêu và các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
Vì vậy, để đi đến mục tiêu mở rộng nguồn kinh phí cho đào tạo còn đang có những vấn
đề bất cập và cần phải tìm ra những giải pháp có ưu thế nhất để thực hiện vấn đề này.
Việc quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí còn nhiều vấn đề cần sửa đổi, hoàn thiện cho
hợp lý và có hiệu quả hơn, nhất là nguồn kinh phí ngoài NSNN. Cụ thể là cần có hệ thống văn
bản quy định về quản lý tài chính cho các đơn vị trực thuộc trong Học viện, các khoản kinh phí
thu từ nguồn thu đào tạo tại chức, liên thông, liên kết cũng cần có cơ chế tài chính cụ thể và chi
tiết hơn trên cơ sở những quy định chung của nhà nước.
Chưa đưa vào kế hoạch hàng năm đầy đủ các khoản thu, chi của nguồn thu ngoài
ngân sách để hàng năm bổ sung nguồn cho công tác đào tạo là bao nhiêu cho nên ảnh
hưởng không ít đến việc huy động và đảm bảo các khoản chi tiêu cho đào tạo một cách
chủ động.

ngũ cán bộ, công chức là tất yếu. Nhận thức này làm cơ sở cho việc thực hiện những biện
pháp để phát triển đào tạo, trong đó có các biện pháp quản lý nguồn tài chính cho đào tạo
đội ngũ cán bộ, công chức. Việc mở rộng nguồn thu và đồng thời sử dụng có hiệu quả
các nguồn tài chính cho đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức là sự đảm bảo chắc chắn về
nguồn lực tài chính cho việc mở rộng và nâng chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ, công
chức.
Đi đôi với việc khai thác nhằm tăng nguồn tài chính, vấn đề quan trọng đặt ra là
phải biết quản lý và sử dụng như thế nào để có hiệu quả nhất. Nguồn tài chính dù nhiều
nhưng sử dụng không hợp lý sẽ không tăng cường hiệu quả, vì vậy xác định các biện

18
pháp quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính là vấn đề rất cần thiết. Muốn vậy cần
áp dụng một số biện pháp quản lý sau đây:
3.1. Đổi mới công tác kế hoạch tài chính phục vụ mục tiêu đào tạo, bồi dƣỡng
3.1.1. Mục tiêu
Đảm bảo cho các nguồn tài chính được khai thác tối đa, quản lý chặt chẽ, sử dụng
có hiệu quả, phù hợp với chế độ, chính sách quy định của nhà nước góp phần nâng cao
chất lượng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ.
3.1.2. Nội dung
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của kế hoạch tài chính là đồng bộ theo sát
kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng cán bộ.
Muốn thực hiện tốt công tác kế hoạch hoá việc quản lý và sử dụng nguồn tài chính
Học viện cần phải:
+ Dự kiến các khoản thu
+ Dự kiến các khoản chi:
Cách thức tiến hành:
Để xây dựng tốt kế hoạch, Phòng Kế toán tài vụ phải là người tham mưu giúp việc
đắc lực cho Ban giám đốc Học viện thực hiện tuần tự theo các bước sau:
Bước 1: Lập kế hoạch
Bước 2: Bảo vệ kế hoạch

ngoài NSNN, cũng có sự chênh lệch lớn về tỷ lệ giữa các nguồn thu khác nhau. Thu từ
học phí của người học đang chiếm chủ yếu trong tổng nguồn thu ngoài ngân sách của các
tr cơ sở đào tạo. Hiện nay, việc tăng mức thu từ học phí là vấn đề hết sức nhạy cảm và
khó khăn, vì liên quan và ảnh hưởng đến nhiều vấn đề xã hội khác. Đây là vấn đề cần
phải sớm được giải quyết theo hướng tăng mức học phí phù hợp với từng đối tượng
người học, ngành học, cấp học. Giải pháp tăng học phí phải được gắn với những chính
sách đảm bảo cho sự công bằng và tiến bộ xã hội, chú ý đến những vấn đề bất cập do lịch
sử để lại Có như vậy nguồn thu mới được cải thiện và dần được tăng lên, đáp ứng yêu
cầu chi cho nâng cao chất lượng đào tạo và từng bước giải bài toán về mức độ chênh lệch
trong chi phí và đầu tư cho giáo dục giữa nước ta với các nước trên con đường hội nhập
và phát triển.
3.2.1. Mục tiêu
Dựa vào khung pháp lý về việc các cơ sở đào tạo được giao quyền tự chủ cao và
trách nhiệm xã hội trong công tác thu - chi tài chính, về thực hiện nhiệm vụ đào tạo và
NCKH, về đội ngũ cán bộ; Học viện cần nâng cao năng lực tự chủ, phân cấp cho các đơn
vị thuộc Học viện và có chính sách khuyến khích các đơn vị trong trường tìm kiếm các
hoạt động nhằm tăng nguồn thu.
3.2.2. Nội dung
Học viện cần phải phải cụ thể hoá những nội dung được phép thu và khuyến khích
thu theo quy định trong Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Bộ Tài chính phù hợp với điều
kiện chức năng, nhiệm vụ được giao và cần tính đến những đặc thù của một cơ sở đào tạo
cán bộ quản lý hành chính. Chiến lược và những chính sách nhằm tăng nguồn thu cần tập
trung vào những điểm lớn sau:
- Đa dạng hoá các hình thức đào tạo:
Trong chiến lược xây dựng và phát triển, Học viện đã xác định xây dựng đào tạo
đa cấp, đa hệ. Hiện tại Học viện đang đào tạo: Sau đại học, đại học, trung cấp, đào tạo bồi
dưỡng chuyên viên, chuyên viên cao cấp; có bốn hệ đào tạo: Chính quy, tại chức, liên
kết, liên thông.

20

Dự kiến nguồn thu ngoài ngân sách phải đạt mức từ 35 đến 40% trong tổng nguồn kinh
phí hoạt động. Các nguồn thu ngoài NSNN được chú trọng khai thác bao gồm:
Đa dạng hoá các chương trình và mở rộng quy mô đào tạo, bồi dưỡng:
Tăng cường hợp tác quốc tế
3.3. Tăng cƣờng quản lý nhằm sử dụng hợp lý các nguồn tài chính phục vụ đào tạo,
bồi dƣỡng
3.3.1. Mục tiêu
Để quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính phục vụ nhiệm vụ đào tạo của
Học viện Hành chính, trước hết nguồn tài chính đầu tư phục vụ cho công tác đào tạo và

21
bồi dưỡng cán bộ của học viện cần đảm bảo tính kịp thời, tính hiệu quả, chống thất thoát
lãng phí trong chi tiêu.
3.3.2. Nội dung
Khi đã có nguồn tài chính, vấn đề quan trọng đặt ra là phải biết sử dụng và quản lý
có hiệu quả, tránh thất thoát lãng phí.
Việc sử dụng và quản lý phải được quan tâm tới cả hai nguồn tài chính của Học
viện: Nguồn NSNN cấp và nguồn thu ngoài NSNN.
3.3.3. Cách thức tiến hành
Căn cứ vào kế hoạch tài chính đã được Vụ kế hoạch tài chính Học viện Chính trị-
HCQG Hồ Chí Minh; Giám đốc Học viện ký quyết định phân bổ kinh phí cho từng khoản
thu, từng nội dung chi; phòng Kế toán tài vụ mở các loại sổ sách kế toán theo dõi, cuối
quý, cuối năm lập báo cáo quyết toán.
Các khoản chi của các đơn vị (phòng, khoa, ban), các cá nhân khi chi thanh toán
phải có trong kế hoạch và được Giám đốc phê duyệt. Những khoản chi tạm ứng phải
được thanh toán thu hồi tạm ứng ngay sau khi hoàn thành công việc. Chứng từ thanh toán
phải đảm bảo tính hợp lệ, hợp pháp.
Lập báo cáo tài chính theo quý, năm.
Đề nghị cơ quan chủ quản thẩm định và phê duyệt quyết toán tài chính.
Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và đề xuất ý kiến.

Kiểm tra, đánh giá về tài chính là cơ sở quản lý hoạt động thu chi tài chính đảm
bảo đúng mục đích, đúng nguyên tắc, đúng chế độ. Phát hiện kịp thời các sai sót và tìm ra
nguyên nhân để có biện pháp khắc phục. Đồng thời, đề ra những giải pháp cụ thể nhằm
đưa hoạt động tài chính của đơn vị đi vào nề nếp, thực hiện đúng tiến độ kế hoạch và
tránh những sai sót đáng tiếc xảy ra, đáp ứng kịp thời có hiệu quả nhiệm vụ đào tạo và
bồi dưỡng cán bộ.
3.5.2. Nội dung
Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động tài chính trước hết phải kiểm tra việc xây dựng
kế hoạch theo mỗi nguồn và tổng các nguồn tài chính.
Kiểm tra việc chấp hành Luật Kế toán về sổ sách, chứng từ kế toán, kiểm tra việc
ghi chép, hạch toán trên các tài khoản kế toán, việc thực hiện các chế độ chính sách đối
với GD&ĐT.
3.5.3. Cách thức tiến hành
Kiểm tra thường xuyên; kiểm tra định kỳ; kiểm tra đột xuất về các hoạt động thu -
chi tài chính,
3.5.4. Điều kiện thực hiện
Để thực hiện tốt công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động tài chính của Học viện,
trước hết Ban giám đốc học viện cần thấy được việc kiểm tra là cần thiết; phải xây
dựng kế hoạch kiểm tra và đòi hỏi người kiểm tra phải thông thạo nghiệp vụ chuyên
môn và phải khách quan Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề
xuất Các giải pháp quản lý đề xuất nhằm tăng nguồn tài chính cho đào tạo, bồi dưỡng
tại Học viện Hành chính Quốc gia trên đây đã được đề tài tiến hành khảo nghiệm mức
độ cần thiết và tính khả thi. Việc khảo nghiệm được tiến hành bằng phương pháp hỏi
ý kiến các giảng viên và cán bộ quản lý của các đơn vị trong Học viện.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Trong quá trình lịch sử phát triển của hệ thống giáo dục cách mạng Việt Nam từ năm
1954 đến nay đã trải qua hai thời kỳ chính là: Thời kỳ kế hoạch hoá tập trung theo cơ chế
bao cấp. Tiếp đó là thời kỳ đổi mới kinh tế xã hội từ năm 1986 đến nay. Đây là thời kỳ mở

ngoài NSNN cấp; b) chưa trao quyền tự chủ tài chính và khuyến khích các đơn vị trong
Học viện mở rộng các nguồn thu; c) việc sử dụng các nguồn kinh phí có được chưa được
tập trung đúng mức vào các yếu tố nhằm phát triển đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức.
Để tăng nguồn thu phục vụ công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; về
phương diện quản lý tài chính, luận văn đã đề xuất 5 nhóm biện pháp cơ bản sau:
Hoàn thiện công tác kế hoạch tài chính phục vụ mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng;
Đa dạng hóa các hình thức đào tạo và khuyến khích các đơn vị trong Học viện
nhằm mở rộng nguồn thu;
Tăng cường quản lý nhằm sử dụng hợp lý các nguồn tài chính phục vụ đào tạo, bồi
dưỡng;
Củng cố bộ máy quản lý công tác tài chính ;
Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá các hoạt động thu, chi.

24
Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp nêu trên cho thấy, có 5
biện pháp chúng tôi đề xuất đều được đánh giá là cấp thiết và khả thi. Như vậy các biện pháp
này có thể triển khai vào thực tiễn hoạt động của Học viện Hành chính.
Mở rộng nguồn thu và quản lý tài chính là một trong những nội dung cần phải
được đổi mới mạnh mẽ, toàn diện trong sự nghiệp đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức. Các biện pháp quản lý nhằm tăng nguồn thu và sử dụng nguồn thu có được
phục vụ đào tạo, bồi dưỡng hoàn toàn có cơ sở khoa học, có ý nghĩa thực tiễn và tính khả
thi cao, các biện pháp có mối quan hệ tác động lẫn nhau, việc thực hiện cần đồng bộ
nhằm đem lại hiệu quả.
2. Khuyến nghị
Để thực hiện thành công các biện pháp quản lý tài chính, mở rộng nguồn thu, tăng
cường đầu tư nhằm phát triển đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và hoạt động của
Học viện, luận văn xin đưa ra một số kiến nghị sau:
Một số khuyến nghị
2.1. Khuyến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước
Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho đào tạo nói chung và đào tạo, bồi dưỡng

kiến nghị cho vấn đề này là:
Tăng cường và đa dạng hoá nguồn thu từ hoạt động cung ứng dịch vụ đào tạo chất
lượng cao cho xã hội; có chính sách khuyến khích các cơ sở đào tạo trực thuộc, mở rộng,
đa dạng hoá các hoạt động, loại hình, bậc đào tạo phù hợp với định hướng phát triển, các
quy định của nhà nước và Học viện Chính trị- HCQG Hồ Chí Minh; tăng cường hợp tác;
triển khai các chương trình liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo đại học uy tín nước
ngoài, ký các hợp đồng đào tạo theo địa chỉ với các địa phương, các cơ quan có nhu cầu
nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ;
Đẩy mạnh việc khai thác tiềm lực nghiên cứu khoa học để tăng nguồn thu và phục
vụ quản lý nhà nước;
Có cơ chế khuyến khích thoả đáng đối với các tập thể và cá nhân có đóng góp hiệu
quả cho các hoạt động làm tăng nguồn thu của đơn vị.
2.3. Đối với Học viện Hành chính
Quán triệt sâu sắc đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước và của Học
viện Chính trị- HCQG Hồ Chí Minh đến từng cán bộ, viên chức trong toàn trường về
cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu. Việc thực hiện tốt các giải
pháp để tăng nguồn thu tạo mà còn là điều kiện để đảm bảo quyền lợi vật chất và tinh
thần cho cán bộ công nhân viên Học viện.
Xây dựng, điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện các quy định về bồi dưỡng cán bộ,
tuyển chọn, sử dụng cũng như các quy định về nhiệm vụ, chức trách của cán bộ theo
các quy định của Nhà nước và của Học viện cho phù hợp với cơ chế tự chủ tài chính.
Thường xuyên điều chỉnh và bổ sung hoàn thiện quy chế chi tiêu nội bộ theo
hướng công bằng, công khai và dân chủ từ khâu xây dựng văn bản đến tổ chức thực hiện.
Đảng uỷ, Ban giám đốc học viện cần quan tâm hơn nữa đến công tác tài chính, kế
toán; quan tâm đến việc xây dựng kế hoạch đào tạo, kế hoạch tài chính sát với yêu cầu
thực tế của ngành, của đất nước.
Cần phải xây dựng kế hoạch thu, chi kinh phí hàng quý, năm kịp thời, chính xác;
bởi vậy, việc chi tiêu thanh toán hàng tháng phải bám sát kế hoạch chi mới đảm bảo cân
đối giữa kế hoạch và thực tế.
Xác định cơ chế phân bổ kinh phí cho các đơn vị; mạnh dạn thực hiện khoán chi

và kế hoạch năm 1996 - 2000.
6. Bộ Tài chính (2002), Thông tư số 25/2002/TT-BTC ngày 21-3, Hướng dẫn thực hiện
Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16-1-2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng
cho đơn vị sự nghiệp có thu, Hà Nội.
7. Các văn bản hƣớng dẫn thực hiện Luật ngân sách nhà nƣớc 2002 (có hiệu lực từ
01-01-2004) (2003), Nxb Tài chính, Hà Nội.
8. Dƣơng Đăng Chinh - 2000: Lý thuyết tài chính - Nxb Tài chính, 2000.
9. Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc Tập bài giảng “Cơ sở khoa học quản lý”.
Năm 2004.
10. Vũ Cao Đàm Phương pháp luận nghiên cứa khoa học. Nhà xuất bản khoa học và kỹ
thuật năm 2005.

27
11.Đảng Cộng sản Việt Nam - 1997: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 BCH TW Đảng khoá
VIII. Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội 1997.
12.Trần Khánh Đức Học phần Quản lý nhà nước về giáo dục. Năm 2005.
13. Nguyễn Công Giáp - 2006: Kinh tế học giáo dục Hà Nội năm 2006.
14. Đặng Xuân Hải. Vai trò của cộng đồng xã hội trong Giáo dục và Quản lý giáo dục.
Hà nội 2004.
15. Hiến pháp nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 - Nxb Chính trị Quốc
gia - Hà Nội 1993.
16. Đặng Bá Lãm (chủ biên). Quản lý nhà nước về giáo dục, lý luận và thực tiến. Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2005.
17. Nguyễn Thị Mỹ Lộc cùng các tác giả. Cẩm nang quản lý nhà trường. Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia.
18. Luật Giáo dục - 1998 và 2005: Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội năm 1998, năm
2005.
19. Luật Ngân sách nhà nƣớc - 1998 và 2004: Nxb Chính trị Quốc gia - Hà Nội năm
1998, năm 2004.
20. Luật Kế toán

33. Internet. http//: hvhcqg.edu.vn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status