LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt
tình và tạo điều kiện thuận lời của giáo viên hướng dẫn, đồng nghiệp, gia đình
và bạn bè.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thầy giáo PGS.TS Trần Đăng
Khâm đã tận tình hướng dẫn trong suốt thời gian em làm luận văn.
Em xin gửi lời cảm ơn tới Thầy, Cô trong khoa Kinh tế quản lý –
Trường Đại học Thăng Long đã giúp đỡ để em hoàn thành luận văn tốt hơn.
Em xin gửi lời cảm ơn đến cán bộ thuộc phòng Sau đại học – Trường
Đại học Thăng Long đã tạo điều kiện về các thủ tục hành chính và hướng dẫn
quy trình thực hiện trong toàn bộ quá trình học tập.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc gia đình, bạn bè đã động
viên, giúp đỡ trong suốt thời gian qua.
Hà Nội, ngày 09 tháng 07 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Thu Trang
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn "Áp dụng các phương pháp đo
lường rủi ro hệ thống trên thị trường chứng khoán Việt Nam" là công trình
nghiên cứu do tôi thực hiện, với sự hướng dẫn, hỗ trợ từ thầy giáo PGS.TS
Trần Đăng Khâm. Các thông tin, dữ liệu, số liệu trong luận văn đều có
nguồn gốc rõ ràng, cụ thể. Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Hà Nội, ngày 09 tháng 07 năm 2015
Học viên
Nguyễn Thị Thu Trang
1.2.1.2. Mô hình chỉ số đơn ............................................................................ 14
1.2.1.3. Mô hình nhân tố ................................................................................. 16
1.2.1.4. Ý nghĩa của hệ số Beta ....................................................................... 17
1.2.2. Phương pháp giá trị tại mức rủi ro – phương pháp VaR ...................... 20
1.2.2.1. Khái quát về phương pháp VaR ......................................................... 20
1.2.2.2. Các phương pháp đo lường VaR........................................................ 22
1.2.2.3. Nhược điểm của VaR ......................................................................... 34
1.3. Điều kiện áp dụng các phương pháp đo lường rủi ro hệ thống trên thị
trường chứng khoán ........................................................................................ 35
1.3.1. Điều kiện thuộc về Ủy ban chứng khoán Nhà nước ............................. 36
1.3.2. Điều kiện thuộc về Sở giao dịch chứng khoán ..................................... 38
1.3.3. Điều kiện thuộc về các công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ . 39
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO
LƯỜNG RỦI RO HỆ THỐNG TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM .................................................................................... 41
2.1. Khái quát về thị trường chứng khoán Việt Nam ...................................... 41
2.1.1. Thị trường phát hành và giao dịch chứng khoán ở Việt Nam .............. 41
2.1.2. Quản lý Nhà nước và quản lý tự quản trên TTCK Việt Nam ............... 50
2.1.2.1. Quản lý Nhà nước .............................................................................. 50
2.1.2.2. Quản lý tự quản .................................................................................. 52
2.1.3. Hoạt động của công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ ............... 54
2.1.3.1. Hoạt động của công ty chứng khoán.................................................. 54
2.1.3.2. Hoạt động của CTQL Quỹ ................................................................. 55
Thang Long University Libraty
3.2.2. Một số giải pháp khác ........................................................................... 93
3.3. Khuyến nghị ứng dụng phương pháp VaR trong đo lường rủi ro hệ thống
trên TTCK Việt Nam ...................................................................................... 96
KẾT LUẬN .................................................................................................. 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Thang Long University Libraty
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU
Ký hiệu
ߪ
Β
ߩ
Độ lệch chuẩn
ߣ
Cov
ߪଶ
߮
ߤ
Ý nghĩa
VaR
CTCK
Công ty chứng khoán
CTQL Quỹ
Công ty quản lý Quỹ
DMĐT
Danh mục đầu tư
HNX
Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
HOSE
Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
HS
Historical simualation
MCFV
Modified cornish fisher VaR
MCS
UBCKNN
Ủy ban chứng khoán Nhà nước
ii
Thang Long University Libraty
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Hình 1.1. Đa dạng hóa và giảm thiểu rủi ro phi hệ thống ................................. 6
Hình 1.2. Phân loại rủi ro trên thị trường chứng khoán .................................... 7
Hình 1.3. Minh họa VaR trong phân phối tỷ suất sinh lời danh mục ............. 21
Hình 1.4. Tần số tỷ suất sinh lời của chỉ số Vnindex ..................................... 23
Hình 1.5. Biến động TSSL theo ngày của chỉ số Vnindex năm 2014 ............ 28
Hình 2.1. Mô tả điểm và TSSL chỉ số Vnindex 1/2006 đến 3/2007............... 43
Hình 2.2. Chỉ số Vnindex giai đoạn 2008 - 2010 ........................................... 45
Hình 2.3. Quản lý Nhà nước đối với Chứng khoán và TTCK Việt Nam ....... 51
Hình 2.4. Số lượng các CTCK từ 2000 đến 2014 ........................................... 54
Hình 3.1. VaR 1 ngày với độ tin cậy 99%, 95% của CP BBC ....................... 82
Hình 3.2. VaR 1 ngày với độ tin cậy 99%, 95% của chỉ số ngành thực phẩm
......................................................................................................................... 83
Bảng 1.1.Tỷ suất sinh lời Vnindex năm 2014 xếp theo thứ tự tăng dần ........ 28
Bảng 2.1. Thống kê một số chỉ tiêu của TTCKVN giai đoạn 2000 -2005 ..... 42
Bảng 2.2. Thống kê một số chỉ tiêu trên hai sàn HOSE và HNX ................... 47
Bảng 3.1. Một số tham số thống kê của CP BBC, chỉ số ngành thực phẩm và
chỉ số Vnindex................................................................................................. 80
Bảng 3.2. Kết quả tính VaR của CP BBC sử dụng các phương pháp khác nhau
......................................................................................................................... 81
Bảng 3.3. Kết quả tính VaR của chỉ số ngành thực phẩm áp dụng các phương
suất... xảy ra thì mức giảm giá hay mức lỗ tối đa của chứng khoán là bao
nhiêu? để họ có thể cân nhắc khối lượng đầu tư và tài sản dự trữ để bù đắp
cho khoản lỗ có thể xảy ra đó.
Thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh giá là thị trường mới nổi,
rất tiềm năng nên thu hút được rất nhiều nhà đầu tư tham gia. Tuy nhiên, rủi
ro hệ thống đối với thị trường chứng khoán Việt Nam là không thể tránh khỏi.
Và mức độ ảnh hưởng của rủi ro hệ thống đến các đối tượng tham gia thị
trường chứng khoán như thế nào là giá trị cần phải xác định. Đo lường được
giá trị rủi ro sẽ xác định được giá trị an toàn (ngưỡng an toàn) cho thị trường
và tăng tính hấp dẫn của thị trường chứng khoán Việt Nam đối với các nhà
đầu tư. Chính vì vậy, việc tìm kiếm phương pháp đo lường mức độ rủi ro hệ
thống đủ độ tin cậy và phù hợp với thị trường chứng khoán Việt Nam là nhu
cầu cần thiết.
Thị trường chứng khoán Việt Nam có những đặc thù riêng và nhiều
phương pháp đo lường rủi ro hệ thống đã được nghiên cứu và thử nghiệm trên
thị trường. Từ những tìm hiểu trên, học viên đã lựa chọn đề tài nghiên cứu
v
cho Luận văn thạc sỹ Tài chính – Ngân hàng là: "Áp dụng các phương pháp
đo lường rủi ro hệ thống trên thị trường chứng khoán Việt Nam" làm đề tài
nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
- Rủi ro hệ thống trên thị trường chứng khoán, nguyên nhân nào gây
lên rủi ro trên TTCK Việt Nam.
- Các phương pháp đo lường giá trị rủi ro hệ thống, cụ thể: phương
pháp hệ số Beta và phương pháp VaR. Phương pháp đo lường đang được áp
dụng trên TTCK Việt Nam.
- Lựa chọn phương pháp áp dụng đo lường rủi ro hệ thống cho TTCK
Việt Nam.
CHƯƠNG 1. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐO LƯỜNG RỦI RO
HỆ THỐNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1. Rủi ro hệ thống trên thị trường chứng khoán
1.1.1. Khái quát về thị trường chứng khoán
1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm thị trường chứng khoán
Khái niệm thị trường chứng khoán: "Thị trường chứng khoán được
hiểu là nơi trao đổi, mua bán các chứng khoán hay các giấy tờ có giá. Việc
trao đổi mua bán này được thực hiện theo nhưng quy tắc ấn định trước"[7].
Chứng khoán được hiểu là các loại giấy tờ có giá hay bút toán ghi sổ, nó cho
phép chủ sở hữu có quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của tổ chức phát
hành hoặc quyền sở hữu, quyền đòi nợ. Các quyền yêu cầu này có sự khác
nhau giữa các loại chứng khoán, tùy theo tính chất sở hữu của chúng.
Đặc điểm thị trường chứng khoán:
TTCK được hiểu là nơi trao đổi, mua bán các loại chứng khoán chủ yếu
là các loại chứng khoán trung và dài hạn. Việc trao đổi, mua bán này có thể
diễn ra tại thị trường sơ cấp hay thị trường thứ cấp; ở thị trường tập trung hay
thị trường phi tập trung; ở thị trường giao ngay hay thị trường kỳ hạn.
Hàng hóa của thị trường chứng khoán có tính chất đặc biệt đó là quyền
sở hữu về tư bản. Chính vì vậy, có thể hiểu bản chất của thị trường chứng
khoán thể hiện mối quan hệ về cung – cầu của vốn đầu tư. Giá cả của chứng
khoán thể hiện chi phí của vốn đầu tư. "Thị trường chứng khoán là thị trường
thể hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó, giá cả của
chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư.
Thị trường chứng khoán là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và
lưu thông hàng hóa"[12].
Hoạt động mua bán trên TTCK chủ yếu được thực hiện thông qua hoạt
động môi giới: Mọi hoạt động giao dịch, mua bán chứng khoán trên thị
1
chuyển chứng khoán của họ thành tiền bất cứ khi nào họ muốn.
2
1.1.1.2. Phân loại thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán có thể được phân loại theo nhiều hình thức
khác nhau và thông thường được phân loại theo 3 cách thức cơ bản: Theo quá
trình luân chuyển vốn; theo loại hàng hóa; theo hình thức tổ chức thị trường.
Theo quá trình luân chuyển vốn: Thị trường được phân chia thành thị
trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Thị trường sơ cấp hay thị trường phát
hành là nơi mua bán các chứng khoán mới phát hành (phát hành lần đầu
tiên). Tại đây, vốn của các nhà đầu tư sẽ được chuyển cho nhà phát hành
thông qua các chứng khoán mới phát hành. Đây cũng là thị trường duy nhất
mang lại nguồn vốn cho nhà phát hành. Thị trường thứ cấp thực hiện hoạt
động mua – bán, trao đổi những chứng khoán đã được phát hành nhằm mục
đích kiếm lời, dịch chuyển vốn đầu tư hay di chuyển tài sản xã hội. Thị
trường thứ cấp làm tăng tính lỏng của các chứng khoán đã phát hành và thị
trường này được xem là thị trường định giá các công ty.
Theo hàng hóa: Theo các loại hàng hóa được mua bán trên thị trường,
người ta có thể phân loại thị trường chứng khoán thành thị trường cổ phiếu,
thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ dẫn suất. Trong đó, thị trường cổ
phiếu (Stock markets): là nơi giao dịch mua bán, trao đổi các giấy tờ xác nhận
cổ phần đóng góp của các cổ đông. Thị trường trái phiếu (Bond Markets): là
thị trường trao đổi, mua bán các trái phiếu - chứng khoán nợ. Trái phiếu là
chứng khoán xác nhận nghĩa vụ và cam kết trả nợ của nhà phát hành đối với
người cho vay. Thị trường các công cụ dẫn suất (Derivative Markets): là nơi
các loại chứng khoán phái sinh được mua bán như: Hợp đồng quyền chọn
(Options), hợp đồng tương lai (Future Contracts)…
Theo hình thức tổ chức của thị trường: Thị trường chứng khoán có thể
được tổ chức theo 2 hình thức: Thị trường chứng khoán tổ chức thành các Sở
cách khác mỗi nhà đầu tư có "khẩu vị rủi ro" khác nhau. Bất kỳ hình thức đầu
tư nào cũng có rủi ro, tuy nhiên mức rủi ro giữa các hình thức là không giống
nhau. Một nhà đầu tư có kỳ vọng lợi nhuận cao, sẽ dám chấp nhận lựa chọn
4
hình thức đầu tư có mức rủi ro lớn. Tuy nhiên, họ cũng cần phải tính toán để
xác định cái giá phải trả cho việc chấp nhận mức rủi ro đó. Nếu rủi ro thực sự
xảy ra, với tiềm lực tài chính của họ có thể chống đỡ được hay không? Chính
vì vậy, với các nhà đầu tư khi tham gia thị trường cần tìm hiểu và có những
hiểu biết nhất định để hạn chế những mất mát, thua thiệt có thể gặp phải và
tối đa hóa được lợi nhuận cho mình.
Vậy rủi ro là gì? Từ điển định nghĩa rủi ro là "mối nguy, hiểm họa, tiếp
xúc với mất mát hoặc thu thiệt"[19]. Trên thị trường hiện nay có hai quan
điểm khác nhau về rủi ro. Quan điểm 1 - hiểu theo cách truyền thống: "Rủi ro
trong đầu tư chứng khoán là khả năng (hay xác suất) xảy ra những kết quả
đầu tư ngoài dự kiến hay cụ thể hơn là khả năng làm cho mức sinh lời thực tế
nhận được trong tương lai khác với mức sinh lời dự kiến ban đầu"[12]. Trên
thực tế, các nhà đầu tư khi tham gia thị trường đều xác định một tỷ lệ sinh lời
kỳ vọng và rủi ro xảy ra tức là tỷ lệ sinh lời thực trong tương lai khác với tỷ lệ
sinh lời kỳ vọng ban đầu của họ. Vậy, rủi ro theo cách hiểu này bao gồm rủi
ro giảm giá và rủi ro tăng giá so với giá kỳ vọng ban đầu. Bất kỳ kết quả đầu
tư nào lệch ra khỏi kết quả dự kiến ban đầu đều được xem là rủi ro. Với quan
điểm này, cách thức đo lường rủi ro được đưa ra dựa vào sự biến động của tỷ
suất sinh lời của chứng khoán.
Quan điểm thứ 2 cho rằng: Rủi ro là khả năng xảy ra những điều không
mong muốn và khi nó xảy ra mang lại những tổn thất cho nhà đầu tư. Với
quan điểm này rủi ro được xem là rủi ro giảm giá hay giá chứng khoán tăng ít
hơn so với giá kỳ vọng ban đầu. Quan điểm này tương đối phù hợp với tư duy
của các nhà đầu tư trên thị trường, họ chủ yếu quan tâm đến các yếu tố làm
loại chứng khoán hoặc một vài nhóm chứng khoán. Nguyên nhân gây ra loại
rủi ro này xuất phát từ các yếu tố nội tại của công ty như: sự bất ổn định trong
cơ cấu vốn, cơ cấu tài sản của công ty; các yếu tố trong môi trường kinh
doanh, việc quản lý bất ổn định… Chính vì những nguyên nhân này, các nhà
đầu tư có thể loại trừ loại rủi ro này theo phương châm "không bỏ trứng vào
6
một rổ". Rủi ro phi hệ thống được phân loại thành ba loại cơ bản: rủi ro kinh
doanh, rủi ro tài chính và rủi ro quản lý. Trong phạm vi của luận văn sẽ không
tìm hiểu chi tiết các loại rủi ro này với giả định các loại rủi ro này đã được
loại trừ bằng việc đa dạng hóa danh mục đầu tư nhưng sẽ tìm hiểu sâu dạng
rủi ro thứ hai là rủi ro hệ thống – rủi ro không thể loại trừ trên thị trường
chứng khoán. Hình 1.1 thể hiện việc đa dạng hóa danh mục đầu tư sẽ làm
giảm rủi ro phi hệ thống và rủi ro hệ thống là một biến cố định (không đổi)
với bất kỳ một danh mục nào.
Rủi ro hệ thống (Systematic Risks): Đây là rủi ro tác động tới toàn bộ
thị trường hoặc hầu hết các loại chứng khoán trên thị trường. Rủi ro hệ thống
có thể bị gây ra bởi sự biến động của các yếu tố như: thị trường, GDP, lạm
phát, tỷ giá, lãi suất, sức mua, chiến tranh, các sự kiện kinh tế - chính trị…
đây là các yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của các công ty. Khác với rủi ro phi
hệ thống, đa dạng hóa danh mục đầu tư cũng không thể giúp các nhà đầu tư
loại bỏ loại rủi ro này. Trong nội dung tiếp theo, luận văn sẽ phân tích kỹ hơn
các loại rủi ro hệ thống thường gặp bao gồm: rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất,
rủi ro tỷ giá và rủi ro sức mua.
Phân loại rủi ro trên thị trường chứng khoán được thể hiện khái quát
trong Hình 1.2 như sau:
Rủi ro
Rủi ro
Như vậy, rủi ro tổng thể = rủi ro hệ thống + rủi ro phi hệ thống. Với giả
định rủi ro phi hệ thống đã được loại trừ bằng cách quản lý một danh mục đầu
tư hiệu quả, lợi nhuận kỳ vọng của các nhà đầu tư còn bị ảnh hưởng bởi rủi ro
hệ thống, rủi ro đến từ các yếu tố vĩ mô của thị trường.
1.1.3. Rủi ro hệ thống trên thị trường chứng khoán
1.1.3.1. Khái niệm rủi ro hệ thống
Rủi ro hệ thống là một dạng rủi ro trên thị trường chứng khoán với các
nhân tố gây rủi ro xuất phát từ sự biến động của các yếu tố vĩ mô của thị
trường. Rủi ro hệ thống là rủi ro tác động đến toàn bộ hoặc hầu hết các chứng
khoán. Các nhân tố rủi ro của rủi ro hệ thống bao gồm: sự bấp bênh của môi
trường kinh tế nói chung như sự sụt giảm GDP, biến động của lãi suất, thay
đổi của tốc độ lạm phát, biến động của tỷ giá… Dạng rủi ro này không thể
loại trừ nhưng tìm hiểu nó để đo lường và dự báo, cảnh báo ngưỡng an toàn
cho các nhà đầu tư.
1.1.3.2. Các loại rủi ro hệ thống thường gặp trên thị trường chứng khoán
Rủi ro thị trường: là sự thay đổi về mức sinh lời do sự đánh giá và ra
quyết định của các nhà đầu tư trên thị trường. Giá của các loại chứng khoán
có thể dao động mạnh mặc dù thu nhập của các công ty không thay đổi.
Nguyên nhân có thể khác nhau nhưng phụ thuộc chủ yếu vào cách nhìn nhận
của các nhà đầu tư với các loại chứng khoán đó. Sự kỳ vọng của các nhà đầu
tư vào giá của các chứng khoán thay đổi dẫn tới mức sinh lời của một hay
một nhóm các chứng khoán thay đổi. Các nhà đầu tư thường ra quyết định
việc mua bán chứng khoán dựa vào hai nhóm sự kiện: Các sự kiện hữu hình
như các sự kiện kinh tế – chính trị, xã hội và các sự kiện vô hình là yếu tố tâm
lý của thị trường. Rủi ro thị trường xuất phát từ những sự kiện hữu hình,
nhưng do tâm lý không vững vàng của các nhà đầu tư nên họ thường có
những phản ứng thái quá trước các sự kiện đó. Những sự sụt giảm đầu tiên
8
Thang Long University Libraty
Như vậy, có thể kết luận mối quan hệ giữa lãi suất và các công cụ nợ là mối
quan hệ trực tiếp và ngược chiều, hầu hết các công cụ nợ đều chịu rủi ro trực
tiếp từ lãi suất (trừ các công cụ nợ có lãi suất thả nổi). Do dòng tiền thu nhập
của cổ phiếu không cố định như trái phiếu, chúng có thể thay đổi cùng với lãi
suất và mức thay đổi này có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn mức thay đổi của lãi
suất. Chính vì vậy, mối quan hệ giữa lãi suất và các công cụ vốn là mối quan
hệ không trực tiếp là không hoàn toàn ngược chiều: Nếu lãi suất chuẩn tăng
nhưng tăng ít hơn thu nhập từ cổ phiếu thì giá của cổ phiếu tăng, nếu lãi suất
tăng nhiều hơn mức thu nhập từ cổ phiếu thì giá của cổ phiếu giảm.
Rủi ro sức mua: Rủi ro sức mua là tác động của lạm phát đến các
khoản đầu tư, biến động giá càng cao thì rủi ro sức mua càng tăng. Yếu tố lạm
phát hay giảm phát sẽ làm thay đổi mức lãi suất danh nghĩa và từ đó sẽ tác
động đến giá của các chứng khoán trên thị trường. Lợi tức thực tế của chứng
khoán đem lại là kết quả của lợi tức danh nghĩa trừ đi lạm phát. Khi nhà đầu
tư nắm giữ chứng khoán mặc dù có khả năng thu được lợi nhuận trong tương
lai nhưng họ lại mất đi cơ hội mua sắm hàng hóa dịch vụ khác. Mặt khác, giá
cả hàng hóa tăng lên trong thời gian nắm giữ chứng khoán do yếu tố lạm phát
nhà đầu tư sẽ mất đi một phần sức mua từ thu nhập có được trong tương lai.
Giá trị phần sức mua bị giảm sút do lạm phát phản ánh mức rủi ro sức mua
của nhà đầu tư chứng khoán. Nếu lạm phát vượt quá tỷ lệ dự tính, giá trị thực
của đồng tiền sẽ giảm và làm cho giá trị của khoản đầu tư bị giảm xuống. Các
nhà đầu tư sẽ dự tính trước mức độ mất giá của đồng tiền qua tỷ lệ lạm phát
dự tính, nếu như phần lợi tức thu được không đủ bù đắp cho phần tổn thất này
thì họ sẽ không chấp nhận đầu tư.
Rủi ro tỷ giá: Rủi ro tỷ giá là rủi ro do tác động của tỷ giá đến các
khoản đầu tư. Khi có sự biến động về tỷ giá sẽ dẫn tới sự thay đổi về giá của
vào cơ sở kinh tế và văn hóa của từng quốc gia.
11
Thang Long University Libraty
Việc lựa chọn mô hình quản lý TTCK cần phải xem xét, cân nhắc kỹ
lưỡng các yếu tố và phải phù hợp với từng giai đoạn phát triển của thị trường
trên nguyên tắc tối đa hóa sự tin cậy của nhà đầu tư đối với thị trường. Chúng
ta không để cho thị trường trở thành sòng bạc với các trò gian lận làm thiệt
hại cho các nhà đầu tư, cũng không nên hạn chế thị trường bằng sự can thiệp
quá mức của Chính phủ [7]. Quản lý rủi ro trên TTCK là một bộ phận không
thể tách rời, là yêu cầu bắt buộc và có vai trò quan trọng trong quản lý và
giám sát TTCK.
Quản lý rủi ro trên thị trường chứng khoán là một quy trình liên tục
cung cấp một phương tiện để giảm thiểu những hậu quả tiêu cực của những
bất ngờ không lường trước được của thiên tai, khủng bố, chiến tranh, thay đổi
kinh tế - chính trị và môi trường pháp lý, sự biến động của thị trường… Mục
tiêu cuối cùng của quản lý rủi ro là đảm bảo rằng không có bất ngờ nào đặt
các nhà đầu tư trong nguy hiểm.
1.1.4.2. Nội dung quản lý rủi ro trên thị trường chứng khoán
Nội dung của quản lý rủi ro trên thị trường chứng khoán là việc xác
định được quy trình quản lý rủi ro, quy trình quản lý rủi ro liên quan đến việc
xác định, đo lường, giám sát, đánh giá và quản lý rủi ro. Thông thường, quản
lý rủi ro được chia thành năm bước:
Bước 1 - Nhận diện rủi ro: Đây là bước đầu tiên nhằm tìm hiểu chi tiết
về bản chất của rủi ro. Nhận dạng các nhân tố gây rủi ro, các tác nhân kinh tế
gây rủi ro trên thị trường chứng khoán như: yếu tố lãi suất, lạm phát, tỷ giá,
tăng trưởng kinh tế… Tìm hiểu chiều hướng có thể gây ra rủi ro (Ví dụ như:
Việc Ngân hàng tăng lãi suất sẽ tác động như thế nào đến giá của chứng