Vấn đề thông tin không cân xứng, lựa chọn đối
nghịch và rủi ro đạo đức trên thị trờng chứng
khoán Việt Nam
1. Tình hình hoạt động của thị trờng chứng khoán Việt Nam từ khi thành lập
đến nay
1.1. Tổng quan tình hình hoạt động của thị trờng chứng khoán Việt Nam.
Hai giờ chiều ngày 28/7 năm 2000 TTCK Việt Nam chính thức đi vào hoạt
động với phiên giao dịch đầu tiên tại Trung tâm giao dịch chứng khoán
(TTGDCK) Thành phố Hồ Chí Minh chỉ với 2 loại cổ phiếu đợc giao dịch ban
đầu. Kể từ đó đến nay đã hơn 3 năm đi hoạt động TTCK Việt Nam có nhiều biến
đổi thăng trầm
Về mặt cơ cấu các cơ quan chức năng và các bộ phận thành viên trong
TTCK Việt Nam có thể kể đến Uỷ ban chứng khoán nhà nớc, TTGDCK Tp HCM,
11 công ty chứng khoán ra đời, 6 công ty kiểm toán và 3 ngân hàng lu ký nớc
ngoài đợc thừa nhận về t cách pháp lý phục vụ cho các công ty niêm yết và nhà
đầu t, đã có khoảng 15.000 tài khoản đợc thống kê tại các công ty chứng khoán
(nhng thực tế chỉ có khoảng 2000 nhà đầu t thực sự có mua bán chứng khoán).
TTCK Việt Nam đi vào hoạt động với sự chào đón nhiệt tình từ các nhà đầu
t và ngay lập tức đã có đợc những thành công ngoài mong đợi. Chỉ số VN-index
và tất cả các loại cổ phiếu đều tăng mạnh và chỉ đến phiên giao dịch ngày
25/6/2001 đã ghi nhận con số kỷ lục: chỉ số VN-index đạt 571,04 điểm với giá trị
giao dịch phiên đạt 23.570.700.000 VNĐ, một con số đáng kể so với một thị tr-
ờng mới và vẫn còn rất khan hiếm hàng hoá. Trớc thời điểm ngày 25/6/2001 giá
cổ phiếu tăng theo từng ngày và dờng nh cứ mua cổ phiếu vào ngày hôm trớc là có
2% lãi vào ngày hôm sau vì thế đã tạo nên cơn sốt cổ phiếu, mọi nhà đầu t đều cố
gắng mua bằng đợc cổ phiếu và cứ vậy đẩy giá của cổ phiếu lên cao. Trớc tình
hình đó, các Cơ quan quản lý và Uỷ ban chứng khoán nhà nớc đã chủ động hạ sốt
bằng cách tăng biên độ giao dịch. Với sự thay đổi đó đã làm cho các nhà đầu t dè
dặt hơn khi đặt mua cổ phiếu và cứ thế thị trờng cổ phiếu suy giảm dần. Nhng
ngoài sự suy tính của các nhà quản lý, chỉ số VN-index và giá cổ phiếu giảm liên
tục kéo dài từ giữa năm 2001 không có dấu hiệu phục hồi. Đến tháng 3 năm 2002
23.500VNĐ/1cổ phiếu.
Giá trị giao dịch
Tổng giá trị giao dịch cổ phiếu trên TTCK năm 2002 đạt
960.120.953.000VNĐ (chiếm 89,6% tổng giá trị giao dịch năm của TTCK, tổng
giao dịch trái phiếu chỉ đạt đợc 111.402.541.000 VNĐ chiếm 11,4%). Hình thức
giao dịch chủ yếu là khớp lệnh với 73,53%, hình thức thoả thuận chỉ chiếm
26,47%, trong khi đó đối tợng mua bán cổ phiếu trên thị trờng chủ yếu vẫn là các
nhà đầu t trong nớc, chiếm tới 86,65%.
Biểu đồ chỉ số VN-index cổ phiếu năm 2002
(Nguồn: www.vietstock.com.vn )
Lợng cung cầu chứng khoán
Năm 2002, lợng cung cầu chênh lệch nhau không nhiều với 57.710.770 cổ
phiếu tổng cung và 56.166.390 cổ phiếu tổng cầu trong đó tổng giá trị thực hiện là
29.678.890 cổ phiếu. Kết quả đó cho thấy phần nào sự cân bằng trong cung và cầu
cả năm, đặc biệt 6 tháng cuối năm sự chênh lệch giữa cung và cầu trong mỗi tuần
là rất ít.
Khối lợng giao dịch và giá trị giao dịch của một số cổ phiếu năm 2002:
Cổ phiếu REE (Công ty cổ phần cơ điện lạnh) vẫn đứng đầu với giá trị giao dịch
là 221.852.123.000 VNĐ , chiếm tới 23,12% tổng giá trị giao dịch trên thị trờng,
xếp sau là SAM (Công ty cổ phần Cáp và Vật liệu viễn thông) 13,53%, BBC
(Công ty cổ phần bánh kẹo Biên Hoà) 11,48%, GMD (Công ty cổ phần Đại lý liên
hiệp vận chuyển) 7,85%, AGF (Công ty cổ phần thuỷ sản An Giang) 7,39%,
Trong năm 2002 chỉ có duy nhất một cổ phiếu GIL là có tăng lên chút ít về giá, từ
khoảng 38.500 VNĐ (đầu năm) lên khoảng 42.000 VNĐ (cuối năm) và đã có lúc
đạt tới
50.000 VNĐ/1cổ phiếu , giá trị giao dịch toàn năm đạt tói
49.283.160.000 chiếm 5,14%.
Giải thích cho sự sụt giảm giá chứng khoán có thể xét tới lý do cơ bản sau:
cách đều đặn, các nhà đầu t vẫn tâm lý do dự, ngời có cổ phiếu không dám bán vì
sợ lỗ, ngời mua không dám mua vì sợ cổ phiếu sẽ lại giảm trong những phiên sau
nữa.
1.2.2.2. Tình hình TTCK 10 tháng đầu năm 2003
Trong 10 tháng đầu năm, tình hình TTCk vẫn không có dấu hiệu tiến triển
tốt đẹp, TTCK ế ẩm, tụt giảm liên tục, những con số thấp của VN-index cũng nh
giấ của các cổ phiếu luôn lập những kỷ lục mới:
Tại phiên 24/10 chỉ số VN-index chỉ đạt 130,90 điểm, mức thấp kỷ lục
nhất trong hơn 3 năm qua.
Biểu đồ chỉ số VN-index 10 tháng đầu năm 2003:
(Nguồn: www.vietstock.com.vn )
Tổng khối lợng giao dịch 10 tháng chỉ đạt 31.006.089 cổ phiếu. Cụ thể
tổng kết khối lợng giao dịch 10 tháng:
Thng kê khi lng giao dch chng khoán to n th trng 10 tháng
u nm 2003 (Nguồn: www.vietstock.com.vn )
Thỏng Ton th trng
Giao dch
khp lnh
T trng
Giao dch
tha thun
T trng
1 1.637.650 1.232.950 75,29% 404.700 24,71%
2 1.450.470 1.310.470 90,35% 140.000 9,65%
3 2.506.800 1.813.900 72,36% 692.900 27,64%
4 3.474.250 2.627.600 75,63% 846.650 24,37%
5 3.081.150 2.377.100 77,15% 704.050 22,85%
6 2.972.370 1.559.120 52,45% 1.413.250 47,55%
7 2.606.100 1.020.370 39,15% 1.585.730 60,85%
8 3.286.190 1.304.620 39,70% 1.981.570 60,30%
của công ty Bibica cũng không khác nhiều so với SAM, trong đầu tháng 2/2003,
BBC đã hạ giá bất ngờ làm một số nhà đầu t thua lỗ nặng nề. Cũng chỉ trong 2,3
phiên liên tiếp từ mức
43.000 VNĐ/1cp đã giảm chỉ còn 27.300 VNĐ/1cp
(giảm >1/3 giá trị), trớc và sau đó cổ phiếu có giảm nhng chậm, chỉ đến cuối
tháng 8 và đầu tháng 9, BBC mới lại giảm lần nữa, xuống mức kỷ lục chỉ còn
8.800 VNĐ/1cp. Cho đến ngày 29/10 cổ phiếu BBC chỉ còn 7.300 VNĐ/1cp, trớc
đó hạ xuống tới 7.100 VNĐ/1cp. Với con số đó BBC là cổ phiếu giảm mạnh nhất.
Về giá trị giao dịch, không bằng REE nhng BBC vẫn là cổ phiếu có giấ trị giao
dịch lớn. Sự giảm giá cổ phiếu của BBC có thể do các nhà đầu t không tin tởng
vào công ty Bibica vì đã không cung cấp những thông tin kịp thời về tình hình tài
chính và kế hoạch, gây ra tâm lý không an tâm của nhà đầu t.
Các loại cổ phiếu khác: có nhiều cổ phiếu cũng biến động rất mạnh theo
chiều hớng giảm giá bán nh CAN, Công ty cổ phần đồ hộp Hạ Long, (từ 1800
VNĐ/1cp đầu năm giảm còn
1.200 VNĐ/1cp cuối năm), cổ phiếu TMS, Một
số cổ phiếu khá ổn định chỉ giảm đi chút ít nh TRI (cổ phiếu TRI, Công ty cổ
phần nớc giải khát Sài Gòn, đã có những phiên tăng giá với giá trị giao dịch vợt cả
REE vơn lên đứng đầu), SGH (công ty cổ phần Sài Gòn Hotel),
Nh vậy, sau ba năm hoạt động, thị trờng chứng khoán Việt Nam đã có 21
cổ phiếu và các loại trái phiếu chính phủ tham gia niêm yết. Chỉ số VN-Index đạt
mức cao nhất 571,04 điểm vào ngày 25/6/2001, giảm đến mức kỷ lục 130,90 điểm
ngày 24/10/2002 và sau đó tăng dần rồi ổn định quanh mức 150 điểm. Có nhiều
nguyên nhân giải thích cho sự biến động rất mạnh của VN-Index trong đó có
nguyên nhân liên quan đến sự bất cân xứng về thông tin do sự cha hoàn thiện của
hoạt động thông tin và công bố thông tin của thị trờng gây ra. Phần tiếp theo của
luận văn sẽ đề cập chi tiết hơn về vấn đề này.
2. Những dấu hiệu về thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và