Vấn đề thông tin không cân xứng , lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 23

Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 K38B - KTNT
Mục lục
Trang
Lời nói đầu ... 4
Chơng I: Lý luận chung về thị trờng chứng khoán, thông tin không cân
xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức .
8
1. Thị trờng chứng khoán 8
1.1. Khái niệm .. 8
1.2. Chức năng, cơ cấu và nguyên tắc hoạt động của thị trờng chứng khoán
9
1.2.1. Chức năng 9
1.2.2. Cơ cấu của thị trờng chứng khoán 10
1.2.3. Các nguyên tắc hoạt động của thị trờng chứng khoán ... 12
1.3. Các thành phần tham gia thị trờng chứng khoán . 13
1.3.1. Tổ chức phát hành .. 13
1.3.2. Nhà đầu t ... 13
1.3.3. Các tổ chức kinh doanh trên thị trờng chứng khoán . 14
2. Thông tin không cân xứng . 15
2.1. Khái niệm về thông tin không cân xứng
15
2.2. Cân bằng thị trờng trong điều kiện không cân xứng về thông tin 19
2.2.1. Cân bằng thị trờng trong điều kiện thông tin đầy đủ 21
2.2.1.1. Cân bằng chung 21
2.2.1.2. Cân bằng riêng . 23
2.2.2. Cân bằng thị trờng trong điều kiện thông tin không cân xứng .. 24
2.2.2.1. Cân bằng chung 25
2.2.2.2. Cân bằng riêng . 26
3. Lựa chọn đối nghịch .. 29
3.1. Khái niệm ... 29
3.2. Sự hình thành lựa chọn đối nghịch . 29

xuất kinh doanh của các công ty niêm yết và thực tế giao dịch trên thị trờng
... 53
2.4. Những dấu hiệu giao dịch nội gián một biểu hiện của rủi ro đạo đức 55
3. Những tác động của vấn đề thông tin không cân xứng, lựa chọn đối
nghịch và rủi ro đạo đức đến hoạt động của thị trờng chứng khoán Việt
Nam . 59
Chơng III: Đề xuất phơng hớng giải quyết vấn đề thông tin không cân
xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị trờng chứng khoán
Việt Nam .
61
1. Khuyến khích thành lập các công ty sản xuất và bán thông tin 61
2. Tăng cờng sự điều hành của Chính phủ để làm tăng thông tin trên thị tr-
ờng chứng khoán . 62
3. Khuyến khích thành lập các trung gian tài chính, đặc biệt là các quỹ đầu
t chứng khoán .. 63
Kết
luận
65
Phụ lục 1: Biểu đồ chỉ số cổ phiếu của các công ty niêm yết trên thị trờng
chứng khoán Việt Nam từ thời điểm niêm yết đến ngày1/12/2003 .. 67
Phụ lục II: Các hệ số tài chính của các công ty niêm yết trên Trung tâm 75
2
Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 K38B - KTNT
Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 9 tháng đầu năm 2002
Phụ lục III: Xếp hạng tài chính các công ty niêm yết tại Trung tâm Giao
dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh . 79
Danh mục tài liệu tham khảo . 80
3
Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 K38B - KTNT
Lời nói đầu

điều không thể thiếu là phải hạn chế tối đa sự bất cân xứng về thông tin của các
cuộc giao dịch. Đây là vấn đề đang thu hút nhiều sự chú ý và cần phải đợc giải
quyết một cách tối u.
Mục đích nghiên cứu
Sau khi tìm hiểu và nghiên cứu học thuyết thông tin không cân xứng, lựa
chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên một số phân đoạn thị trờng tài chính của
các nhà kinh tế học trên thế giới, tôi nhận thức rằng giải quyết vấn đề thông tin
không cân xứng là một yêu cầu thiết thực và xuyên suốt trong quá trình hoạt
động của thị trờng chứng khoán Việt Nam. Vì vậy, tôi đã mạnh dạn tìm hiểu,
phân tích và đánh giá mức độ không cân xứng về thông tin, khảo sát thực tế vấn
đề rủi ro đạo đức trên thị trờng chứng khoán Việt Nam từ khi hoạt động đến nay.
Do những hạn chế cả về chủ quan và khách quan nên luận văn chỉ hớng vào mục
tiêu chủ yếu là phát hiện và phân tích sơ bộ những biểu hiện của ba nội dung
trên. Dựa trên cơ sở đó, một số giải pháp đợc đề xuất nhằm hoàn thiện vấn đề
thông tin trên thị trờng chứng khoán Việt Nam. Tôi cũng hy vọng những phát
hiện này xẽ giúp ích cho các nghiên cứu sâu hơn về vấn đề thông tin không cân
xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị trờng chứng khoán Việt
Nam.
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn đề cập đến các khái niệm cơ bản nhất về chứng khoán và thị tr-
ờng chứng khoán, đồng thời trình bày chi tiết học thuyết thông tin không cân
xứng và các khái niệm liên quan.
Những vấn đề lý thuyết trên sẽ đợc vận dụng vào tình hình cụ thể trên thị
trờng chứng khoán Việt Nam từ khi chính thức hoạt động cho đến nay (từ
28/7/2000 đến 31/10/2003).
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nớc
5
Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 K38B - KTNT
Thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức là những
hiện tợng kinh tế đợc các nhà kinh tế học trên thế giới nghiên cứu từ những năm

góp phần hoàn thiện vấn đề thông tin và công bố thông tin trên thị trờng chứng
khoán Việt Nam, từ đó tạo điều kiện trớc mắt và lâu dài cho việc hoạt động và
phát triển của thị trờng.
Kết cấu của luận văn
Với các nội dung đã đề cập trên đây, luận văn đợc kết cấu nh sau:
Chơng I: Lý luận chung về thị trờng chứng khoán, thông tin không cân
xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức.
Chơng II: Vấn đề thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro
đạo đức trên thị trờng chứng khoán Việt Nam.
Chơng III: Một số nhận xét và đề xuất phơng hớng giải quyết vấn đề thông
tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị trờng chứng
khoán Việt Nam nhằm thúc đẩy thị trờng phát triển.
Nhận đợc sự hớng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình từ Thạc sỹ Phạm Song Hạnh
cùng với nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn
này. Tuy nhiên do hạn chế về năng lực, thời gian và nguồn tài liệu trong khi vấn
đề nghiên cứu còn khá mới mẻ và tinh tế nên những thiếu sót và nhầm lẫn là
không thể tránh khỏi. Tôi rất cảm ơn và mong nhận đợc sự phê bình, góp ý và
phát triển thêm từ các Thầy Cô giáo, những nhà nghiên cứu, bạn bè nhằm hoàn
thiện vấn đề nghiên cứu.
7
Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 K38B - KTNT
Chơng I
Lý luận chung về thị trờng chứng khoán,
thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch
và rủi ro đạo đức
1. Thị trờng chứng khoán
1.1. Khái niệm
Khái niệm thị trờng chứng khoán hình thành và hoàn thiện theo sự phát
triển của nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trờng hiện đại, thị trờng chứng khoán
là một yếu tố không thể thiếu đối với việc duy trì và phát triển của nền kinh tế.

Thị trờng chứng khoán cung cấp cho công chúng một môi trờng đầu t lành
mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trờng rất
khác nhau về thời hạn, tính chất và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu t có thể lựa
chọn cho loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
Chính vì vậy, thị trờng chứng khoán góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm
quốc gia.
Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có thị trờng chứng khoán, các nhà đầu t có thể chuyển đổi các chứng
khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn.
Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối
với nhà đầu t. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu t. Thị tr-
ờng chứng khoán hoạt động càng năng động và hiệu quả thì càng có khả năng
nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trờng.
Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
9
Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 K38B - KTNT
Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp đợc phản
ánh một cách tổng hợp và kịp thời, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động
của các doanh nghiệp đợc nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi
trờng cạnh tranh lành mạnh nhằng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp
dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
Tạo môi trờng giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.
Các dấu hiệu của thị trờng chứng khoán phản ánh động thái của nền kinh
tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu t
đang mở rộng, nền kinh tế tăng trởng, và ngợc lại giá chứng khoán giảm sẽ cho
thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, thị trờng chứng khoán đợc gọi
là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ
thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua thị trờng chứng khoán, Chính
phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp ngân
sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính

Thứ ba, thị trờng thứ cấp là thị trờng hoạt động liên tục, các nhà đầu t có
thể mua và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trờng này.
Ngoài cách phân loại trên, có thể phân loại thị trờng chứng khoán theo tính
chất tập trung của thị trờng, theo đó thị trờng chứng khoán bao gồm Sở giao dịch
chứng khoán (thị trờng tập trung) và thị trờng OTC (thị trờng phi tập trung). Tại
sở giao dịch, các giao dịch đợc tập trung tại một địa điểm, các lệnh đợc chuyển
đến sàn giao dịch và tham gia vào quá trình khớp lệnh để hình thành giá giao
dịch. Trên thị trờng OTC, các giao dịch (cả sơ cấp và thứ cấp) đợc tiến hành qua
mạng lới các công ty chứng khoán phân tán khắp quốc gia và đợc nối với nhau
bằng mạng máy tính. Giá cả hình thành theo phơng thức thoả thuận.
1.2.3. Các nguyên tắc hoạt động của thị trờng chứng khoán
Nguyên tắc cạnh tranh
Theo nguyên tắc này, giá cả trên thị trờng chứng khoán phản ánh quan hệ
cung cầu về chứng khoán và thể hiện tơng quan cạnh tranh giữa các công ty.
11
Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 K38B - KTNT
Trên thị trờng sơ cấp, các tổ chức phát hành cạnh tranh nhau để bán chứng khoán
của mình cho nhà đầu t, các nhà đầu t đợc tự do lựa chọn các chứng khoán theo
các mục tiêu của riêng mình. Trên thị trờng thứ cấp, các nhà đầu t cũng cạnh
tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất và giá cả đợc hình
thành theo phơng thức đấu giá.
Nguyên tắc công bằng
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo lợi ích cho tất cả những ngời tham gia thị
trờng. Công bằng có nghĩa là mọi ngời tham gia thị trờng đều phải tuân thủ
những quy định chung, đợc bình đẳng trong việc chi sẻ thông tin và trong việc
gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những quy định đó.
Nguyên tắc công khai
Chứng khoán là loại hàng hoá có tính trừu tợng, ngời đầu t không thể kiểm
tra trực tiếp đợc các chứng khoán nh các hàng hoá thông thờng mà phải dựa trên
cơ sở các thông tin có liên quan. Vì vậy thị trờng chứng khoán phải đợc xây dựng

ơng (phát hành trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phơng), các công ty (phát
hành cổ phiếu và trái phiếu công ty) và các tổ chức tài chính khác đóng vai trò
cung cấp hàng hoá cho thị trờng chứng khoán.
1.3.2. Nhà đầu t
Nhà đầu t là những ngời thực sự mua bán chứng khoán trên thị trờng
chứng khoán. Nhà đầu t có thể là cá nhân hoặc tổ chức.
Nhà đầu t cá nhân là những ngời có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua
bán chứng khoán với mục đích kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, trong đầu t thì lợi
nhuận lại luôn gắn với rủi ro, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn và ngợc lại.
Chính vì vậy, các nhà đầu t cá nhân luôn phải lựa chọn các hình thức đầu t phù
hợp với khả năng cũng nh mức độc chấp nhận rủi ro của mình.
Các nhà đầu t có tổ chức, hay còn gọi là các định chế đầu t, thờng xuyên
mua bán chứng khoán với số lợng lớn trên thị trờng. Các tổ chức này thờng có
các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứu
13
Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 K38B - KTNT
thị trờng và đa ra các quyết định đầu t. Một số nhà đầu t chuyên nghiệp chính
trên thị trờng chứng khoán là các công ty đầu t, các công ty bảo hiểm, các quỹ l-
ơng hu và các quỹ bảo hiểm xã hội khác. Đầu t thông qua các tổ chức đầu t có u
điểm nổi bật là có thể đa dạng hoá danh mục đầu t và các quyết định đầu t đợc
thực hiên bởi các chuyên gia giàu kinh nghiệp và có chuyên môn cao.
Một bộ phận quan trọng của các tổ chức đầu t là các công ty tài chính. Các
công ty tài chính đợc phép kinh doanh chứng khoán, có thể sử dụng vốn củ mình
để đầu t vào chứng khoán nhằm mục đích kiếm lợi.
Bên cạnh đó, các công ty chứng khoán, các ngân hàng thơng mại cũng có
thể trở thành nhà đầu t chuyên nghiệp khi họ mua chứng khoán cho chính mình.
1.3.3. Các tổ chức kinh doanh trên thị trờng chứng khoán
Công ty chứng khoán
Công ty chứng khoán là những công ty hoạt động trong lĩnh vực chứng
khoán, có thể đảm nhận môt hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là bảo lãnh

chi phí thấp nhất có thể. Nền sản xuất hàng hoá và dịch vụ của xã hội liên tục
phát triển làm gia tăng không ngừng giá trị thặng d. Chịu tác động bởi chi phí cơ
hội của việc giữ tiền, những chủ nhân của phần giá trị thặng d đó luôn tìm kiếm
các cơ hội đầu t tốt nhất. Diễn ra đồng thời với quá trình đó là sự huy động vốn
của các chủ thể kinh tế, những ngời muốn thành lập hoặc mở rộng hoạt động sản
xuất kinh doanh. Sự gặp nhau của hai luồng nhu cầu trên tạo nên các giao dịch về
tài chính và tổng hợp tất cả các giao dịch tài chính đó hình thành thị trờng tài
chính của một quốc gia.
Tuy nhiên sẽ là không đơn giản để các giao dịch về tài chính đạt đến mục
tiêu cuối cùng trên đây. Nguyên nhân là do sự tơng hợp về yêu cầu giữa ngời cho
vay và ngời đi vay không phải bao giờ cũng đạt đợc.
Từ phía ngời cho vay, với vai trò là ngời sở hữu vốn, yêu cầu đảm bảo an
toàn cho đồng vốn luôn đợc đặt lên trớc tiên. Họ yêu cầu ngời vay vốn đa ra
những bằng chứng cho thấy tính an toàn của đồng vốn và điều đó phải đợc thể
hiện thực tế thông qua việc hoàn trả vốn khi thời hạn vay kết thúc. Yêu cầu
15
Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 K38B - KTNT
chung thứ hai của ngời cho vay là thu đợc lãi suất kỳ vọng vào đúng thời điểm
cam kết. Vì những ngời cho vay chấp nhận cho vay là để chống lại chi phí cơ hội
của việc giữ tiền mà biểu hiện ra chính là lãi suất huy động vốn (i) của hệ thống
ngân hàng và các tổ chức tín dụng, nên lãi suất kỳ vọng không thể thấp hơn i.
Ngoài hai yêu cầu trên, trong những tình huống cụ thể ngời cho vay còn có
những yêu cầu khác về hình thức trả lãi, cung cấp thông tin, nh ng tựu chung
lại đó cũng chỉ là các yêu cầu phái sinh nhằm đảm bảo hai yêu cầu trên đây.
Đối với ngời đi vay, tìm đợc nguồn vốn đủ lớn về quy mô, đủ dài về thời
hạn với lãi suất và các ràng buộc hợp lý là những yêu cầu cơ bản và quan trọng
nhất. Việc xác định nh thế nào là đủ và hợp lý tơng ứng phụ thuộc vào dự
định sử dụng vốn và thoả thuận của hai bên trên cơ sở các điều kiện cho vay áp
dụng phổ biến trong nền kinh tế. Nh vậy, ngời đi vay phải một mặt thoả mãn đợc
các yêu cầu của ngời cho vay và mặt khác phải đáp ứng đợc các yêu cầu đi vay

Tóm lại, trong các giao dịch tài chính thờng có sự chênh lệch về thông tin
giữa các bên tham gia, đó chính là hiện tợng thông tin không cân xứng.
Cho đến nay, qua nhiều nghiên cứu, các nhà kinh tế học có nhiều cách
định nghĩa khác nhau về thông tin không cân xứng:
Theo nhà kinh tế học Markusk K.Brunnermeier, Đại học Boston: Thông
tin không cân xứng là hiện tợng ngời đi vay có thông tin tốt hơn ngời cho vay
1
.
Theo hai nhà kinh tế học Udo Schmidt Mohr (University des Saarlandes)
và J.Miguel Villas-Boas (University of California at Berkeley) trong cuốn
Assymetric Information and the Market Structure of the Banking Industry (tạm
dịch: Thông tin không cân xứng và cấu trúc thị trờng của ngành ngân hàng):
Thông tin không cân xứng là tình trạng trong đó ngời mua và ngời bán có thông
tin khác nhau về cùng một giao dịch.
Theo nhà kinh tế học Fredic S.Miskin Đại học Columbia, Hoa Kỳ: Thông
tin không cân xứng là sự không ngang bằng về một thông tin mà mỗi bên tham
gia vào một giao dịch biết đợc
2
.
1
Asset pricing under Assymetric Information: Bubbles, Crashes, Technical Analysis and Herding, NXB Đại
học Boston, 1999, trang 27, dòng 18.
2
Kinh tế học về tiền tệ, ngân hàng và thị trờng tài chính, NXB Khoa học Kỹ thuật, 1999, trang 907.
17
Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 K38B - KTNT
Có thể định nghĩa khái niệm thông tin không cân xứng theo nhiều cách
khác nhau. Tuy nhiên mọi trờng hợp không cân xứng về thông tin đều có ba đặc
điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, có sự khác biệt về thông tin giữa các bên tham gia giao dịch.

những phần tiếp theo của luận văn.
2.2. Cân bằng thị trờng trong trờng hợp không cân xứng về thông
tin
Trên các thị trờng tài chính nói chung và thị trờng bảo hiểm nói riêng, hiện
tợng thông tin không cân xứng luôn đi kèm và có mối quan hệ mật thiết với vấn
đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Trên thị trờng bảo hiểm, lựa chọn đối
nghịch phát sinh do các công ty bảo hiểm không thể phân loại một cách triệt để
mức độ rủi ro của những ngời tham gia bảo hiểm. Sau khi mua bảo hiểm, ngời đ-
ợc bảo hiểm không có động lực để hạn chế rủi ro. Những rủi ro nh vậy gọi là rủi
ro đạo đức và ngời chịu rủi ro này không ai khác chính là công ty bảo hiểm.
Nghiên cứu sắp trình bày dới đây giả thiết rằng các cá nhân tham gia bảo hiểm
không có khả năng phân phối rủi ro.
Những nghiên cứu trên thị trờng bảo hiểm thân thể và xe hơi của một số
nhà kinh tế học trên thế giới đã đi đến đến kết luận rằng lựa chọn đối nghịch
khiến những ngời có rủi ro thấp không muốn tham gia bảo hiểm đồng thời tạo ra
hiện tợng chuyển thu nhập từ những ngời có mức rủi ro thấp sang những ngời có
mức rủi ro cao.
Để xác định cân bằng thị trờng trong điều kiện thông tin không cân xứng
trên thị trờng bảo hiểm, trớc tiên cần xem xét quá trình đạt đến cân bằng trên thị
trờng cạnh tranh hoàn hảo bằng cách sử dụng lý thuyết cung-cầu thị trờng.
Giả sử một cá nhân X muốn mua một hợp đồng bảo hiểm để ổn định thu
nhập trớc các rủi ro. Để đơn giản ta giả thiết có hai khả năng xảy ra: có tổn thất
và không có tổn thất. Giả sử tiếp rằng X muốn tối đa hoá thu nhập. Nếu không
có hợp đồng bảo hiểm, anh ta sẽ có tổng thu nhập kỳ vọng là:
V(m,p) = (1 - p)U(m) + pU(m d) (1)
19
Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 K38B - KTNT
Trong đó:
m: thu nhập
p: xác suất xảy ra tổn thất

Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 K38B - KTNT
m
2
thể hiện thu nhập trong hai trờng hợp tơng ứng: không có tổn thất và có tổn
thất.
2.2.1. Cân bằng thị trờng trong điều kiện thông tin đầy đủ.
Trên thị trờng bảo hiểm cạnh tranh hoàn hảo, có hai kiểu cân bằng là cân
bằng chung và cân bằng riêng. Cân bằng chung xảy ra khi thị trờng có một loại
khách hàng đồng nhất về mức độ rủi ro, công ty bảo hiểm chỉ cần định giá một
loại hợp đồng bảo hiểm. Trong trờng hợp cân bằng riêng, thị trờng có nhiều
nhóm khách hàng khác nhau về mức độ rủi ro. Khi đó, công ty bảo hiểm bán các
hợp đồng bảo hiểm ở các mức giá khác nhau cho từng đối tợng khách hàng có độ
rủi ro phù hợp. Thị trờng đạt đến cân bằng tại nhiều điểm ứng với từng loại khách
hàng.
2.2.1.1. Cân bằng chung

E
K
F
U
T
m
1
m
2
thu nhập của công ty bảo hiểm và chính là đờng cung bảo hiểm. Độ dốc của đ-
ờng EF đợc xác định bằng tỷ lệ
p
p

1
. Độ dốc của đờng U đợc xác định bằng tỷ
lệ thay thế cận biên của thu nhập trong hai trờng hợp m
1
và m
2
, tức là bằng
)(
)(
2
1
'
'
mU
mU
.
Thị trờng đạt tới trạng thái cân bằng khi độ dốc của đờng cầu U bằng độ
dốc của đờng cung EF. Giả X có điểm kết hợp thu nhập ban đầu tại E. Tại điểm
này X sẽ có thu nhập m nếu tổn thất không xảy ra và m - d nếu tổn thất xảy ra.
Để hạn chế rủi ro, X mua một hợp đồng bảo hiểm dọc theo đờng EF. Trong số
các hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng tại điểm K tối đa hoá thu nhập kỳ vọng của
anh ta. Hợp đồng tại K là một hợp đồng bảo hiểm toàn bộ rủi ro và cân bằng thu
nhập của X trong cả hai trờng hợp có hay không có tổn thất. Tại điểm cân bằng,
hợp đồng đợc mua bán trong điều kiện cả hai bên đều biết rõ về nhau. Vì vậy K
chính là điểm cân bằng trong điều kiện thông tin đầy đủ, lúc này ngời bảo hiểm

2
U

L
U
H

A
B
H
F
Hình 1.2: Cân bằng thị trường trong

2.2.2. Cân bằng thị trờng trong điều kiện thông tin không cân xứng.
Nhà kinh tế học Akerlof, trong nghiên cứu về thông tin không cân xứng
năm 1970 đã đa ra những vấn đề phát sinh trên thị trờng bảo hiểm thân thể khi
ngời đợc bảo hiểm biết rõ tình trạng sức khoẻ của mình còn công ty bảo hiểm
không biết đến điều đó. Ông đa ra một ví dụ trong đó công ty bảo hiểm không
thể phân loại khách hàng theo mức độ rủi ro và định giá các hợp đồng bảo hiểm ở
23
Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 K38B - KTNT
một mức trung bình. Trong điều kiện đó, chỉ những ngời có mức rủi ro cao hơn
mức trung bình mới muốn mua bảo hiểm. Điều này khiến công ty bảo hiểm bị lỗ
và do đó, phí bảo hiểm phải đợc tăng lên để đảm bảo cho công ty hoà vốn. Tiếp
tục, trong số những ngời mua bảo hiểm trớc đây, chỉ những ngời có mức rủi ro
cao hơn mức trung bình mới mua bảo hiểm ở mức giá mới cao hơn. Quá trình t-
ơng tự diễn ra liên tục cho đến khi chỉ những ngời có mức rủi ro rất cao mới sãn
sàng mua bảo hiểm ở một mức phí bảo hiểm cũng rất cao
3
.
Năm 1976, nghiên cứu của hai nhà kinh tế học Rothschild và Stiglitz đã
giải thích sự đạt đến cân bằng trên thị trờng bảo hiểm trong điều kiện thông tin
không cân xứng xảy ra giữa ngời bảo hiểm và ngời đợc bảo hiểm. Với sự thiếu
hụt về thông tin, thị trờng này sẽ có hai kiểu cân bằng: cân bằng chung (Pooling
Equilibrium) và cân bằng riêng (Seperating Equilibrium). Trong trờng hợp cân
bằng chung, công ty bảo hiểm không thể phân loại khách hàng theo mức độ rủi
ro nên phí bảo hiểm đợc xác định ở mức trung bình. Các hợp đồng bảo hiểm đợc
bán với cùng một mức giá cho mọi nhóm khách hàng. Tình trạng này sẽ dẫn đến
kiểu thị trờng trong mô hình của nhà kinh tế học Akerlof nh đã trình bày trên
đây. Trong trờng hợp cân bằng riêng, các hợp đồng bảo hiểm đợc bán ở mức giá
phù hợp với từng loại rủi ro. Khi đó những ngời tham gia bảo hiểm sẽ tự phân
loại mình theo đặc điểm của rủi ro thông qua việc lựa chọn hợp đồng bảo hiểm.
2.2.2.1. Cân bằng chung

A
B
E
H
G
A
B
F

Hình 1.3 biểu diễn một ví dụ về cân bằng chung trong trờng hợp có thông
tin không cân xứng. Trong phân tích trớc, ta đã giả thiết rằng có hai nhóm khách
hàng tham gia bảo hiểm LR và HR với xác suất xảy ro rủi ro tơng ứng là p
L
và p
H
(p
L
< p
H
). Đờng EF biểu diễn đờng cung các hợp đồng bảo hiểm cho khách hàng
có rủi ro thấp với độ dốc là (1 - p
L
)/ p
L
còn các hợp đồng cho khách hàng có rủi
ro cao tập trung thành đờng EH với độ dốc (1 p
H
)/p
H
. Độ dốc và hình dạng của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status