Mô hình lựa chọn kỳ hạn tính lợi suất và thời kỳ ước lượng khi ước lượng rủi ro - ứng dụng trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 28

Website: Email : Tel : 0918.775.368
MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT
NAM..................................................................................................................8
I. Những vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán.....................................8
1. Khái niệm và chức năng của thị trường chứng khoán..................................8
1.1. Khái niệm thị trường chứng khoán............................................................8
1.2. Chức năng của thị trường chứng khoán ..................................................10
1.2.1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế...................................................10
1.2.2. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng.......................................10
1.2.3. Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán..........................................10
1.2.4. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp..................................................11
1.2.5. Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế
vĩ mô ...............................................................................................................11
2. Nguyên tắc hoạt động cơ bản của thị trường chứng khoán........................11
2.1. Nguyên tắc công khai..............................................................................11
2.2. Nguyên tắc trung gian..............................................................................12
2.3. Nguyên tắc đấu giá .................................................................................12
2.3.1. Căn cứ vào các hình thức đấu giá..........................................................13
2.3.2. Căn cứ vào phương thức đấu giá...........................................................13
3. Các chủ thể trên thị trường chứng khoán...................................................14
3.1. Nhà phát hành..........................................................................................14
3.2. Nhà đầu tư................................................................................................14
3.2.1. Các nhà đầu tư cá nhân..........................................................................14
3.2.2. Các nhà đầu tư có tổ chức.....................................................................15
3.3. Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán ............................15

Website: Email : Tel : 0918.775.368
3.3.1. Công ty chứng khoán.............................................................................15

2.2. Vai trò của hệ số bêta...............................................................................29
II. Mô hình định giá tài sản vốn CAPM.........................................................30
1. Các giả thiết của mô hình ..........................................................................30
1.1. Giả thiết về nhà đầu tư ............................................................................30
1.2. Giả thiết đối với thị trường và các tài sản trên thị trường........................31
2. Các danh mục và biểu diễn hình học của mô hình ....................................31
2.1. Danh mục thị trường và tính hiệu quả của danh mục thị trường ............31
2.2. Đường thị trường vốn (CML)..................................................................34
2.3. Đường thị trường chứng khoán (SML) và biểu diễn hình học của mô
hình CAPM......................................................................................................35
2.4. Mối quan hệ giữa CML và SML.............................................................37
3. Các đặc tính của CAPM.............................................................................38
3.1. Phương trình biểu diễn CAPM................................................................38
3.2. Các đặc tính.............................................................................................38
4. Ứng dụng của mô hình CAPM ..................................................................40
4.1. Phân tích rủi ro của tài sản, danh mục ....................................................40
4.2. Tính hệ số α của tài sản, danh mục..........................................................40
III. Mô hình chỉ số đơn SIM.........................................................................41
1. Giới thiệu ...................................................................................................41
2. Mô hình chỉ số đơn SIM.............................................................................42
2.1. Các giả thiết của mô hình .......................................................................42
2.2. Hàm số mô tả SIM...................................................................................42
IV. Mô hình xác định kì hạn tính lợi suất và thời kỳ ước lượng khi ước
lượng rủi ro.....................................................................................................43
1. Một vài vấn đề gặp phải khi ước lượng rủi ro............................................43

Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.1. Chuỗi lợi suất...........................................................................................43
1.2. Độ dao động.............................................................................................44
2. Mô hình .....................................................................................................45

như mới trở thành một cơn sốt nóng hổi.
Cùng với sự phát triển của thị trường, hàng loạt các website, các diễn
đàn, các chương trình và gameshow truyền hình ra đời cung cấp thông tin cho
các nhà đầu tư và cũng là nơi để các chuyên gia phân tích thị trường. Kể từ
đó, các phương pháp phân tích thị trường được đưa ra khá nhiều, các thuật
ngữ như CAPM, hệ số bêta, P/E… đã dần trở nên quen thuộc. Tuy nhiên vấn
đề ý nghĩa của các thuật ngữ đó và phân tích các chứng khoán và thị trường từ
các chỉ số đó chưa được hiểu và quan tâm một cách đúng và đầy đủ. Hai chỉ
số được nhắc đến nhiều nhất là hệ số bêta và chỉ số P/E. Nhà đầu tư biết đến
hệ số bêta là một chỉ tiêu đánh giá rủi ro của công ty nhưng đó là rủi ro gì và
đánh giá như thế nào thì đó là một câu hỏi khó có được lời giải thích chính
xác. Bên cạnh đó, một số nhà phân tích còn coi hệ số bêta của công ty như
một chỉ tiêu bất biến đo lường rủi ro nhưng dường như quên mất rằng rủi ro
của công ty có thể thay đổi khi công ty có một số thay đổi về sở hữu, quản lý,
sản phẩm, chiến lược kinh doanh… .
Xuất phát từ thực tế trên cùng với những kiến thức thu được sau 4 năm
học chuyên ngành Toán Tài chính và được sự gợi ý của giáo viên hướng dẫn
thực tập thầy giáo TS. Ngô Văn Thứ, em lựa chọn đề tài: “Mô hình lựa chọn

Website: Email : Tel : 0918.775.368
kỳ hạn tính lợi suất và thời kỳ ước lượng khi ước lượng rủi ro - ứng dụng
trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm nội dung cho chuyên đề tốt
nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Lựa chọn được kỳ hạn tính lợi suất (theo ngày, theo tuần,…) và thời kỳ
ước lượng (bao nhiêu năm) hợp lý để ước lượng rủi ro của một số cổ phiếu
trên thị trường chứng khoán Việt Nam một cách tương đối chính xác.
3. Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp ước lượng rủi ro hệ thống dựa trên mô hình SIM và mô
hình lựa chọn kỳ hạn tính lợi suất và thời kỳ ước lượng.

Chương 1
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
I. Những vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán
1. Khái niệm và chức năng của thị trường chứng khoán
1.1. Khái niệm thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng
của nền kinh tế hiện đại. Thông qua diễn biến trên thị trường chứng khoán có
thể đo lường và dự tính sự phát triển kinh tế. Là một bộ phận cấu thành của
thị trường tài chính, thị trường chứng khoán, được hiểu một cách chung nhất,
là nơi diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán – các hàng hoá
và dịch vụ tài chính giữa các chủ thể tham gia. Việc trao đổi mua bán này
được thực hiện theo những quy tắc ấn định trước.
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về thị trường chứng khoán.
Quan điểm thứ nhất cho rằng thị trường chứng khoán (TTCK) và thị
trường vốn là một, chỉ là tên gọi khác nhau của cùng một khái niệm: Thị
trường tư bản (Capital Market). Nếu xét về nội dung thì thị trường vốn biểu
hiện các quan hệ bản chất bên trong của quá trình mua bán các chứng khoán.
TTCK là biểu hiện bên ngoài, là hình thức giao dịch vốn cụ thể. Do đó, các
thị trường này không thể phân biệt, tách rời nhau mà thống nhất và cùng phản
ánh các quan hệ bên trong và bên ngoài của thị trường tư bản.
Quan điểm thứ hai của đa số các nhà kinh tế cho rằng: “Thị trường
chứng khoán được đặc trưng bởi thị trường vốn chứ không phải đồng nhất là
một”. Như vậy, theo quan điểm này, TTCK và thị trường vốn là khác nhau,
trong đó TTCK chỉ giao dịch, mua bán các tài sản tài chính trung và dài hạn
như trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty. Các tài sản tài chính ngắn hạn

Website: Email : Tel : 0918.775.368
được giao dịch trên thị trường tiền tệ, không thuộc phạm vi hoạt động của
TTCK.

1.2.1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền
nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp
phần mở rộng sản xuất xã hội. Bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư của
công ty, TTCK đã có những tác động quan trọng đối với sự phát triển của nền
kinh tế quốc dân. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa
phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư
phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.
1.2.2. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với
các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác
nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa
chọn cho hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
Chính vì vậy, TTCK góp phần đáng kể làm tăng mức tiết kiệm quốc gia.
1.2.3. Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán khác
khi họ muốn. Khả năng thanh khoản (khả năng chuyển đổi thành tiền mặt) là
một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây
là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động
càng năng động và có hiệu quả thì càng có khả năng nâng cao tính thanh
khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.2.4. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được
phản ảnh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh
hoạt động, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản
phẩm.
1.2.5. Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế

chính xác thì người đầu tư phải chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư của
mình.
2.2. Nguyên tắc trung gian
Theo nguyên tắc này, trên TTCK các giao dịch được thực hiện thông
qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp,
các nhà đầu tư thường không mua trực tiếp của các nhà phát hành mà mua từ
các nhà bảo lãnh phát hành. Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ
môi giới, kinh doanh các công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán giúp
các khách hàng, hoặc kết nối các khách hàng với nhau qua thực hiện các giao
dịch mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình.
2.3. Nguyên tắc đấu giá
Mọi việc mua bán chứng khoán trên TTCK đều hoạt động trên nguyên
tắc đấu giá. Nguyên tắc đấu giá dựa trên mối quan hệ cung – cầu trên thị
trường quyết định.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
2.3.1. Căn cứ vào các hình thức đấu giá, có các loại
Đấu giá trực tiếp: là hình thức đấu giá trong đó các nhà môi giới chứng
khoán trực tiếp gặp nhau thông qua người trung gian (một chuyên gia chứng
khoán) tại quầy giao dịch để thương lượng giá.
Đấu giá gián tiếp: là hình thức đấu giá mà các nhà môi giới chứng
khoán không trực tiếp gặp nhau mà việc thương lượng giá được thực hiện
gián tiếp thông qua hệ thống điện thoại và mạng máy tính.
Đấu giá tự động: là hình thức đấu giá qua hệ thống mạng máy tính nối
giữa máy chủ của sở giao dịch với hệ thống máy của các công ty chứng khoán
thành viên. Các lệnh mua, bán được truyền đến máy chủ, máy chủ tự động
khớp các lệnh mua – bán có giá phù hợp và thông báo kết quả cho những
công ty chứng khoán có các lệnh đặt hàng được thực hiện.
2.3.2. Căn cứ vào phương thức đấu giá, có các hình thức
Đấu giá định kỳ: là hệ thống trong đó các giao dịch chứng khoán được

phiếu, chứng chỉ thụ hưởng… phục vụ cho hoạt động của họ.
3.2. Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua bán chứng khoán trên TTCK.
Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có
tổ chức.
3.2.1. Các nhà đầu tư cá nhân
Nhà đầu tư cá nhân là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia
mua bán trên TTCK với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, trong đầu
tư thì lợi nhuận lại luôn gắn với rủi ro, khả năng kiếm được lợi nhuận càng

Website: Email : Tel : 0918.775.368
cao thì rủi ro càng lớn và ngược lại. Chính vì vậy, các nhà đầu tư cá nhân
luông phải lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp với khả năng cũng như mức
độ chấp nhận rủi ro của mình.
3.2.2. Các nhà đầu tư có tổ chức
Nhà đầu tư có tổ chức, hay còn gọi là các định chế đầu tư, thường
xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Các tổ chức
này thường có các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh
nghiệm để nghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư. Một số nhà
đầu tư chuyên nghiệp chính trên TTCK là các công ty đầu tư, các công ty bảo
hiểm, các quỹ lương hưu và các quỹ bảo hiểm xã hội khác. Đầu tư thông qua
các tổ chức đầu tư có ưu điểm nổi bật là có thể đa dạng hoá danh mục đầu tư
và các quyết định đầu tư được thực hiện bởi các chuyên gia có kinh nghiệm.
Một bộ phận quan trọng của các tổ chức đầu tư là các công ty tài chính.
Các công ty tài chính được phép kinh doanh chứng khoán, có thể sử dụng
nguồn vốn của mình để đầu tư vào chứng khoán nhằm mục đích thu lợi.
Bên cạnh các công ty chứng khoán, các ngân hàng thương mại cũng có
thể trở thành nhà đầu tư chuyên nghiệp khi họ mua chứng khoán cho chính
mình.
3.3. Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán

này do chính phủ (nhà nước) của các nước thành lập, nhằm mục đích bảo vệ

Website: Email : Tel : 0918.775.368
lợi ích của người đầu tư và bảo đảm cho thị trường chứng khoán hoạt động
lành mạnh, suôn sẻ và phát triển vững chắc.
3.4.2. Sở giao dịch chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán thực hiện vận hành thị trường thông qua bộ
máy tổ chức bao gồm nhiều bộ phận khác nhau phục vụ các hoạt động trên sở
giao dịch. Ngoài ra, sở giao dịch cũng ban hành những quy định điều chỉnh
các hoạt động giao dịch chứng khoán trên sở phù hợp với các quy định của
luật pháp và uỷ ban chứng khoán.
3.4.3. Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức của các công ty
chứng khoán và một số thành viên khác hoạt động trong ngành chứng khoán,
được thành lập với mục đích bảo vệ lợi ích cho các công ty thành viên nói
riêng và cho toàn ngành chứng khoán nói chung.
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán thường là một tổ chức tự
quản thực hiện một số chức năng chính như sau:
+ Khuyến khích hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán.
+ Ban hành và thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ sở các quy định
pháp luật về chứng khoán.
+ Điều tra và giải quyết các tranh chấp giữa các thành viên.
+ Tiêu chuẩn hoá các nguyên tắc và thông lệ trong ngành chứng khoán.
+ Hợp tác với chính phủ và các cơ quan khác để giải quyết các vấn đề có
tác động đến hoạt động kinh doanh chứng khoán.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
3.4.4. Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
Là tổ chức nhận lưu giữ các chứng khoán và tiến hành các nghiệp vụ
thanh toán bù trừ cho các giao dịch chứng khoán.

Có nhiều tiêu chí để phân loại chứng khoán trên thị trường nhưng phổ
biến nhất là phân loại chứng khoán theo tính chất. Theo tính chất, chứng
khoán được phân thành các loại như sau:
4.1. Chứng khoán vốn
Chứng khoán vốn là chứng thư xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu
phần vốn góp vá các quyền hợp pháp khác đối với tổ chức phát hành.
Đại diện cho chứng khoán vốn là cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư.
Cổ phiếu là một loại chứng khoán vốn được phát hành dưới dạng chứng
chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với
tài sản hoặc vốn của một công ty cổ phần. cổ phiếu là một công cụ tài chính
có thời hạn thanh toán là vô hạn.
Khi tham gia mua cổ phiếu, các nhà đầu tư trở thành các cổ đông của
công ty cổ phần. Cổ đông có thể tiến hành mua bán, chuyển nhượng các cổ
phiếu trên thị trường thứ cấp theo quy định của pháp luật.
4.2. Chứng khoán nợ
Chứng khoán nợ, điển hình là trái phiếu, tín phiếu là một loại chứng
khoán quy định nghĩa vụ của người phát hành (người đi vay) phải trả cho

Website: Email : Tel : 0918.775.368
người đứng tên sở hữu chứng khoán (người cho vay) một khoản tiền nhất
định bao gồm cả gốc và lãi trong những khoản thời gian cụ thể.
4.3. Chứng khoán phái sinh
Chứng khoán phái sinh là các công cụ tài chính có nguồn gốc từ chứng
khoán và có quan hệ chặt chẽ với các chứng khoán gốc.
Các chứng khoán phái sinh được hình thành do nhu cầu giao dịch của
người mua và người bán và phát triển phụ thuộc vào mức độ phát triển của thị
trường chứng khoán.
4.4. Chứng khoán chuyển đổi
Chứng khoán chuyển đổi là loại chứng khoán tuỳ theo những điều kiện
cụ thể mà cho phép người nắm giữ có đổi lấy một chứng khoán khác. Thông

cho nền kinh tế chỉ chiếm trên 10%. Trước yêu cầu huy động vốn cho đầu tư
phát triển một kênh huy động vốn mới cho nền kinh tế.
Thị trường chứng khoán ra đời giải quyết được hai yêu cầu trên: vừa
thúc đẩy cổ phần hoá, vừa tạo một kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh
tế.
Trước yêu cầu, ngày 28/11/1996 Chính phủ ban hành Nghị định 75/CP
về thành lập Uỷ ban chứng khoán. Ngày 04/07/1998 Chính phủ ban hành
Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán… .
Ngày 20/07/2000 Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
đi vào hoạt động đánh dấu sự phát triển mới của thị trường vốn.

Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Thị trường chứng khoán Việt Nam
Sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam có
thể được đánh dấu bằng hai mốc quan trọng, đó là sự ra đời của Trung tâm
giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh ngày 28/07/2000 và Trung
tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội ngày 08/03/2005. Tuy mới hình thành và
đi vào hoạt động trong một thời gian ngắn nhưng thị trường chứng khoán Việt
Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, đóng vai trò quan trọng trong
việc huy động vốn và luân chuyển vốn phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp
hoá - hiện đại hoá đất nước. Việc chính thức đi vào thực thi Luật chứng khoán
từ ngày 01/01/2007 đã lành mạnh hoá và minh bạch hơn cho môi trường đầu
tư tại thị trường chứng khoán.
Nếu tính đến cuối năm 2006 toàn thị trường chỉ có 22 công ty chứng
khoán chính thức đi vào hoạt động thì tính đến 31/12/2007 đã có tổng cộng 80
công ty chứng khoán được Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép hoạt
động, trong đó có 69 công ty đã chính thức đi vào hoạt động (59 công ty hoạt
động dưới hình thức công ty cổ phần và 10 công ty trách nhiệm hữu hạn trực
thuộc các ngân hàng thương mại cổ phần và quốc doanh).
Tính đến thời điểm 21/12/2007, thị trường chứng khoán Việt Nam đã

5.521.092.015 chứng khoán (không tính trái phiếu).
2.1. Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE)
Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh được thành
lập theo quyết định 127/1998/QĐ-TTg ngày 11/07/1998 của Thủ tướng Chính
phủ và chính thức đi vào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên ngày
28/07/2000 đã đánh dấu một sự kiện quan trọng trong đời sống kinh tế - xã
hội của đất nước. Giữa năm 2007, Trung tâm giao dịch chứng khoán thành

Website: Email : Tel : 0918.775.368
phố Hồ Chí Minh đã được chuyển thành Sở giao dịch chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh đồng thời ngày 30/07/2007 Sở giao dịch chứng khoán Thành
phố Hồ Chí Minh thực hiện giao dịch liên tục và từng bước thực hiện triển
khai giao dịch nhập lệnh từ xa để đáp ứng tình hình thị trường đang phát triển.
Nếu như ban đầu chỉ có 2 cổ phiếu (REE và SAM) và một vài trái
phiếu chính phủ được niêm yết giao dịch thì tính đến thời điểm 31/12/2007,
sở giao dịch đã có 141 chứng khoán niêm yết. Tính đến thời điểm21/12/2007,
tổng khối lượng niêm yết đạt 4.197.693.526 chứng khoán, trong đó có
4.026.283.996 cổ phiếu của 138 công ty cổ phần và 171.409.530 chứng chỉ
quỹ của 3 quỹ đầu tư chứng khoán.
Tính đến ngày 28/12/2007, sở giao dịch chứng khoán đã thực hiện
được 248 phiên giao dịch với tổng khối lượng giao dịch đạt hơn 2,3 tỷ chứng
khoán tương đương với tổng giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 224.000
nghìn tỷ đồng, gấp 2 lần khối lượng và 2,8 lần giá trị giao dịch so với năm
2006. Bình quân mỗi phiên giao dịch có 9,2 triệu chứng khoán được chuyển
nhượng tương đương với 980 tỷ đồng.
2.2. Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (HASTC)
Tháng 6/2004, Bộ Tài chính ra Thông báo số 136/TB/BTC nêu kết luận
của Lãnh đạo Bộ về mô hình tổ chức và xây dựng thị trường giao dịch chứng
khoán Việt Nam. Trong đó định hướng xây dựng Trung tâm giao dịch chứng
khoán Hà Nội thành một thị trường giao dịch phi tập trung (OTC) đơn giản,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status