§ç Hoµi Giang, Líp A4 K38B - KTNT–
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU 4
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN, THÔNG TIN KHÔNG CÂN XỨNG, LỰA CHỌN ĐỐI
NGHỊCH VÀ RỦI RO ĐẠO ĐỨC 8
1. Thị trường chứng khoán 8
1.1. Khái niệm 8
1.2. Chức năng, cơ cấu và nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng
khoán 9
1.2.1. Chức năng 9
1.2.2. Cơ cấu của thị trường chứng khoán 10
1.2.3. Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán 12
1.3. Các thành phần tham gia thị trường chứng khoán 13
1.3.1. Tổ chức phát hành 13
1.3.2. Nhà đầu tư 13
1.3.3. Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán 14
2. Thông tin không cân xứng 15
2.1. Khái niệm về thông tin không cân xứng
15
2.2. Cân bằng thị trường trong điều kiện không cân xứng về thông tin 19
2.2.1. Cân bằng thị trường trong điều kiện thông tin đầy đủ 21
2.2.1.1. Cân bằng chung 21
2.2.1.2. Cân bằng riêng 23
2.2.2. Cân bằng thị trường trong điều kiện thông tin không cân xứng 24
2.2.2.1. Cân bằng chung 25
2.2.2.2. Cân bằng riêng 26
3. Lựa chọn đối nghịch 29
3.1. Khái niệm 29
3.2. Sự hình thành lựa chọn đối nghịch 29
2.3. Giá cả cổ phiếu và chỉ số VN-Index không phản ánh đúng tình hình
sản xuất kinh doanh của các công ty niêm yết và thực tế giao dịch trên thị
trường 53
2.4. Những dấu hiệu giao dịch nội gián – một biểu hiện của rủi ro đạo đức 55
3. Những tác động của vấn đề thông tin không cân xứng, lựa chọn đối
nghịch và rủi ro đạo đức đến hoạt động của thị trường chứng khoán Việt
Nam 59
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT VẤN
ĐỀ THÔNG TIN KHÔNG CÂN XỨNG, LỰA CHỌN ĐỐI NGHỊCH
VÀ RỦI RO ĐẠO ĐỨC TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM 61
1. Khuyến khích thành lập các công ty sản xuất và bán thông tin 61
2. Tăng cường sự điều hành của Chính phủ để làm tăng thông tin trên thị
trường chứng khoán 62
3. Khuyến khích thành lập các trung gian tài chính, đặc biệt là các quỹ
đầu tư chứng khoán 63
KẾT LUẬN 65
2
§ç Hoµi Giang, Líp A4 K38B - KTNT–
PHỤ LỤC 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
3
§ç Hoµi Giang, Líp A4 K38B - KTNT–
LỜI NÓI ĐẦU
Trong các giao dịch tài chính nói chung và chứng khoán nói riêng, thông
tin giữ vai trò thiết yếu. Nhân tố quan trọng quyết định quy mô, hình thức và
hiệu quả của mỗi giao dịch chính là mức độ cân xứng về thông tin giữa các bên
liên quan. Xét trên tầm vĩ mô, nếu các bên tham gia của bất kỳ giao dịch tài
chính nào trong nền kinh tế đều có đầy đủ thông tin quá khứ, hiện tại và tương
lai liên quan đến giao dịch thì đồng vốn trong nền kinh tế luôn đến được các dự
của các nhà kinh tế học trên thế giới, tôi nhận thức rằng giải quyết vấn đề
thông tin không cân xứng là một yêu cầu thiết thực và xuyên suốt trong quá
trình hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam. Vì vậy, tôi đã mạnh dạn
tìm hiểu, phân tích và đánh giá mức độ không cân xứng về thông tin, khảo sát
thực tế vấn đề rủi ro đạo đức trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ khi hoạt
động đến nay. Do những hạn chế cả về chủ quan và khách quan nên luận văn
chỉ hướng vào mục tiêu chủ yếu là phát hiện và phân tích sơ bộ những biểu
hiện của ba nội dung trên. Dựa trên cơ sở đó, một số giải pháp được đề xuất
nhằm hoàn thiện vấn đề thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tôi
cũng hy vọng những phát hiện này xẽ giúp ích cho các nghiên cứu sâu hơn về
vấn đề thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị
trường chứng khoán Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn đề cập đến các khái niệm cơ bản nhất về chứng khoán và thị
trường chứng khoán, đồng thời trình bày chi tiết học thuyết thông tin không
cân xứng và các khái niệm liên quan.
Những vấn đề lý thuyết trên sẽ được vận dụng vào tình hình cụ thể trên
thị trường chứng khoán Việt Nam từ khi chính thức hoạt động cho đến nay (từ
28/7/2000 đến 31/10/2003).
5
§ç Hoµi Giang, Líp A4 K38B - KTNT–
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức là
những hiện tượng kinh tế được các nhà kinh tế học trên thế giới nghiên cứu từ
những năm 1960. Tuy nhiên, phải đến những năm 2000 vấn đề này mới thực
sự được quan tâm và nghiên cứu sâu sắc. Các nghiên cứu gần đây tập trung vào
việc xây dựng các mô hình toán và khảo sát thực trạng thông tin không cân
xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên một số phân đoạn của thị
trường tài chính, phổ biến nhất là thị trường bảo hiểm. Các nghiên cứu đều đã
đem lại những kết quả nhất định, đóng góp vào việc xây dựng một mô hình
cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức.
Chương II: Vấn đề thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi
ro đạo đức trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chương III: Một số nhận xét và đề xuất phương hướng giải quyết vấn đề
thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trên thị trường
chứng khoán Việt Nam nhằm thúc đẩy thị trường phát triển.
Nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình từ Thạc sỹ Phạm Song
Hạnh cùng với nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, tôi đã hoàn thành
luận văn này. Tuy nhiên do hạn chế về năng lực, thời gian và nguồn tài liệu
trong khi vấn đề nghiên cứu còn khá mới mẻ và tinh tế nên những thiếu sót và
nhầm lẫn là không thể tránh khỏi. Tôi rất cảm ơn và mong nhận được sự phê
bình, góp ý và phát triển thêm từ các Thầy Cô giáo, những nhà nghiên cứu, bạn
bè nhằm hoàn thiện vấn đề nghiên cứu.
7
§ç Hoµi Giang, Líp A4 K38B - KTNT–
8
§ç Hoµi Giang, Líp A4 K38B - KTNT–
Chương I
Lý luận chung về thị trường chứng khoán,
thông tin không cân xứng, lựa chọn đối nghịch
và rủi ro đạo đức
1. Thị trường chứng khoán
1.1. Khái niệm
Khái niệm thị trường chứng khoán hình thành và hoàn thiện theo sự phát
triển của nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, thị trường chứng
khoán là một yếu tố không thể thiếu đối với việc duy trì và phát triển của nền
kinh tế. Cho đến nay, các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều có
thị trường chứng khoán nhưng định nghĩa về thị trường chứng khoán thì có
nhiều cách khác nhau:
Thị trường chứng khoán là một thị trường có tổ chức nơi các chứng
tư có thể lựa chọn cho loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở
thích của mình. Chính vì vậy, thị trường chứng khoán góp phần đáng kể làm
tăng mức tiết kiệm quốc gia.
Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán
Nhờ có thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các
chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ
muốn. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng
khoán đối với nhà đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của
vốn đầu tư. Thị trường chứng khoán hoạt động càng năng động và hiệu quả thì
10
§ç Hoµi Giang, Líp A4 K38B - KTNT–
càng có khả năng nâng cao tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch
trên thị trường.
Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thông qua giá chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản
ánh một cách tổng hợp và kịp thời, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động
của các doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một
môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích
thích áp dụng công nghệ mới, cải tiến sản phẩm.
Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ
mô.
Các dấu hiệu của thị trường chứng khoán phản ánh động thái của nền
kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho
thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng, và ngược lại giá chứng
khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, thị
trường chứng khoán được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công
cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông
qua thị trường chứng khoán, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ
để tạo ra nguồn thu bù đắp ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ
cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào thị trường
tự do, giá chứng khoán trên thị trường thứ cấp do quan hệ cung cầu quyết định.
Thứ ba, thị trường thứ cấp là thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu
tư có thể mua và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trường này.
Ngoài cách phân loại trên, có thể phân loại thị trường chứng khoán theo
tính chất tập trung của thị trường, theo đó thị trường chứng khoán bao gồm Sở
giao dịch chứng khoán (thị trường tập trung) và thị trường OTC (thị trường phi
12
§ç Hoµi Giang, Líp A4 K38B - KTNT–
tập trung). Tại sở giao dịch, các giao dịch được tập trung tại một địa điểm, các
lệnh được chuyển đến sàn giao dịch và tham gia vào quá trình khớp lệnh để
hình thành giá giao dịch. Trên thị trường OTC, các giao dịch (cả sơ cấp và thứ
cấp) được tiến hành qua mạng lưới các công ty chứng khoán phân tán khắp
quốc gia và được nối với nhau bằng mạng máy tính. Giá cả hình thành theo
phương thức thoả thuận.
1.2.3. Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán
Nguyên tắc cạnh tranh
Theo nguyên tắc này, giá cả trên thị trường chứng khoán phản ánh quan
hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công
ty. Trên thị trường sơ cấp, các tổ chức phát hành cạnh tranh nhau để bán chứng
khoán của mình cho nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng
khoán theo các mục tiêu của riêng mình. Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu
tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất và giá
cả được hình thành theo phương thức đấu giá.
Nguyên tắc công bằng
Nguyên tắc này nhằm đảm bảo lợi ích cho tất cả những người tham gia
thị trường. Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân
thủ những quy định chung, được bình đẳng trong việc chi sẻ thông tin và trong
việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những quy định đó.
Nguyên tắc công khai
Chứng khoán là loại hàng hoá có tính trừu tượng, người đầu tư không
1.3.1. Tổ chức phát hành
Tổ chức phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị
trường chứng khoán. Tổ chức phát hành bao gồm Chính phủ và chính quyền
địa phương (phát hành trái phiếu Chính phủ và trái phiếu địa phương), các
14
§ç Hoµi Giang, Líp A4 K38B - KTNT–
công ty (phát hành cổ phiếu và trái phiếu công ty) và các tổ chức tài chính khác
đóng vai trò cung cấp hàng hoá cho thị trường chứng khoán.
1.3.2. Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua bán chứng khoán trên thị trường
chứng khoán. Nhà đầu tư có thể là cá nhân hoặc tổ chức.
Nhà đầu tư cá nhân là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia
mua bán chứng khoán với mục đích kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, trong đầu tư thì
lợi nhuận lại luôn gắn với rủi ro, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn và
ngược lại. Chính vì vậy, các nhà đầu tư cá nhân luôn phải lựa chọn các hình
thức đầu tư phù hợp với khả năng cũng như mức độc chấp nhận rủi ro của
mình.
Các nhà đầu tư có tổ chức, hay còn gọi là các định chế đầu tư, thường
xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Các tổ chức này
thường có các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm
để nghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư. Một số nhà đầu tư
chuyên nghiệp chính trên thị trường chứng khoán là các công ty đầu tư, các
công ty bảo hiểm, các quỹ lương hưu và các quỹ bảo hiểm xã hội khác. Đầu tư
thông qua các tổ chức đầu tư có ưu điểm nổi bật là có thể đa dạng hoá danh
mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiên bởi các chuyên gia giàu
kinh nghiệp và có chuyên môn cao.
Một bộ phận quan trọng của các tổ chức đầu tư là các công ty tài chính.
Các công ty tài chính được phép kinh doanh chứng khoán, có thể sử dụng vốn
củ mình để đầu tư vào chứng khoán nhằm mục đích kiếm lợi.
Bên cạnh đó, các công ty chứng khoán, các ngân hàng thương mại cũng
kinh tế quốc tế và nguồn gốc của các cuộc khủng hoảng tài chính. Để tạo cơ sở
cho những phân tích tiếp theo của luận văn, trong phần này tôi xin trình bày
16
§ç Hoµi Giang, Líp A4 K38B - KTNT–
một cách chi tiết học thuyết Thông tin không cân xứng và các khái niệm có liên
quan.
2.1. Khái niệm về thông tin không cân xứng.
Trong mọi nền kinh tế, các giao dịch về tài chính đều hướng đến mục
tiêu cuối cùng là chuyển nguồn vốn nhàn rỗi đến những dự án đầu tư hiệu quả
nhất với chi phí thấp nhất có thể. Nền sản xuất hàng hoá và dịch vụ của xã hội
liên tục phát triển làm gia tăng không ngừng giá trị thặng dư. Chịu tác động bởi
chi phí cơ hội của việc giữ tiền, những chủ nhân của phần giá trị thặng dư đó
luôn tìm kiếm các cơ hội đầu tư tốt nhất. Diễn ra đồng thời với quá trình đó là
sự huy động vốn của các chủ thể kinh tế, những người muốn thành lập hoặc mở
rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự gặp nhau của hai luồng nhu cầu trên
tạo nên các giao dịch về tài chính và tổng hợp tất cả các giao dịch tài chính đó
hình thành thị trường tài chính của một quốc gia.
Tuy nhiên sẽ là không đơn giản để các giao dịch về tài chính đạt đến
mục tiêu cuối cùng trên đây. Nguyên nhân là do sự tương hợp về yêu cầu giữa
người cho vay và người đi vay không phải bao giờ cũng đạt được.
Từ phía người cho vay, với vai trò là người sở hữu vốn, yêu cầu đảm bảo
an toàn cho đồng vốn luôn được đặt lên trước tiên. Họ yêu cầu người vay vốn
đưa ra những bằng chứng cho thấy tính an toàn của đồng vốn và điều đó phải
được thể hiện thực tế thông qua việc hoàn trả vốn khi thời hạn vay kết thúc.
Yêu cầu chung thứ hai của người cho vay là thu được lãi suất kỳ vọng vào
đúng thời điểm cam kết. Vì những người cho vay chấp nhận cho vay là để
chống lại chi phí cơ hội của việc giữ tiền mà biểu hiện ra chính là lãi suất huy
động vốn (i) của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng, nên lãi suất kỳ
vọng không thể thấp hơn i. Ngoài hai yêu cầu trên, trong những tình huống cụ
thể người cho vay còn có những yêu cầu khác về hình thức trả lãi, cung cấp
dụng nó. Điều này đồng nghĩa với việc rủi ro thu hồi vốn tăng lên và mức độ
rủi ro phụ thuộc hoàn toàn vào người vay vốn.
18
§ç Hoµi Giang, Líp A4 K38B - KTNT–
Do vậy, những gì người cho vay phải làm để hạn chế rủi ro là phải thu
thập và phân tích các thông tin liên quan đến người vay vốn. Họ cần biết người
đi vay sử dụng đồng vốn như thế nào, mức độ rủi ro cao hay thấp, sức mạnh tài
chính, mức độ tin tưởng, nguy cơ dẫn đến việc sử dụng vốn không đúng cam
kết của người vay, … Tuy nhiên những thông tin như thế đến với người cho
vay thường không đầy đủ hoặc thiếu chính xác dẫn đến những lựa chọn của
người cho vay có thể là một “lựa chọn đối nghịch”
Tóm lại, trong các giao dịch tài chính thường có sự chênh lệch về thông
tin giữa các bên tham gia, đó chính là hiện tượng thông tin không cân xứng.
Cho đến nay, qua nhiều nghiên cứu, các nhà kinh tế học có nhiều cách
định nghĩa khác nhau về thông tin không cân xứng:
Theo nhà kinh tế học Markusk K.Brunnermeier, Đại học Boston:
“Thông tin không cân xứng là hiện tượng người đi vay có thông tin tốt hơn
người cho vay”
1
.
Theo hai nhà kinh tế học Udo Schmidt Mohr (University des Saarlandes)
và J.Miguel Villas-Boas (University of California at Berkeley) trong cuốn
“Assymetric Information and the Market Structure of the Banking Industry”
(tạm dịch: Thông tin không cân xứng và cấu trúc thị trường của ngành ngân
hàng): Thông tin không cân xứng là tình trạng trong đó người mua và người
bán có thông tin khác nhau về cùng một giao dịch.
Theo nhà kinh tế học Fredic S.Miskin Đại học Columbia, Hoa Kỳ:
“Thông tin không cân xứng là sự không ngang bằng về một thông tin mà mỗi
bên tham gia vào một giao dịch biết được”
2
Thị trường và Thương mại, Viện Nghiên cứu Kinh tế, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ
thực hiện tháng 4, 2001. Việc lựa chọn thị trường bảo hiểm là xuất phát từ
nhiều nguyên nhân: thứ nhất, bảo hiểm là lĩnh vực mà thông tin đóng vai trò
đặc biệt quan trọng và thể hiện rõ ràng nhất những đặc điểm của thông tin
không cân xứng, lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức; thứ hai, rủi ro đạo đức
trên thị trường này thường xuyên xảy ra vì sau khi được bảo hiểm, người được
bảo hiểm có ít nỗ lực hơn trong việc bảo vệ đối tượng bảo hiểm; thứ ba, đã có
nhiều nghiên cứu được thực hiện trên nhiều loại thị trường bảo hiểm nên các
mô phân tích đều đã được khẳng định tính đúng đắn. Dựa trên các phân tích đó,
20
§ç Hoµi Giang, Líp A4 K38B - KTNT–
việc vận dụng nghiên cứu trên thị trường này sang các lĩnh vực khác có nhiều
điểm tương đồng và do đó sẽ đóng góp rất lớn trong những phần tiếp theo của
luận văn.
2.2. Cân bằng thị trường trong trường hợp không cân xứng về
thông tin
Trên các thị trường tài chính nói chung và thị trường bảo hiểm nói riêng,
hiện tượng thông tin không cân xứng luôn đi kèm và có mối quan hệ mật thiết
với vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Trên thị trường bảo hiểm, lựa
chọn đối nghịch phát sinh do các công ty bảo hiểm không thể phân loại một
cách triệt để mức độ rủi ro của những người tham gia bảo hiểm. Sau khi mua
bảo hiểm, người được bảo hiểm không có động lực để hạn chế rủi ro. Những
rủi ro như vậy gọi là rủi ro đạo đức và người chịu rủi ro này không ai khác
chính là công ty bảo hiểm. Nghiên cứu sắp trình bày dưới đây giả thiết rằng các
cá nhân tham gia bảo hiểm không có khả năng phân phối rủi ro.
Những nghiên cứu trên thị trường bảo hiểm thân thể và xe hơi của một
số nhà kinh tế học trên thế giới đã đi đến đến kết luận rằng lựa chọn đối nghịch
khiến những người có rủi ro thấp không muốn tham gia bảo hiểm đồng thời tạo
ra hiện tượng chuyển thu nhập từ những người có mức rủi ro thấp sang những
người có mức rủi ro cao.
Mỗi hợp đồng bảo hiểm được đặc trưng bởi mức phí bảo hiểm a và mức
bồi thường i. Do đó, phương trình (4) thể hiện tất cả các hợp đồng bảo hiểm
của công ty. Tại một xác suất xảy ra rủi ro nhất định p, công ty sẽ định giá a và
i sao cho phương trình (4) được thoả mãn.
Tức là: (1 - p)a -p(i - a) = 0
22
Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 K38B - KTNT
hay a - pi = 0
Phng trỡnh (2) v phng trỡnh (4) th hin ng cu v cung bo
him. S tng tỏc gia cung v cu bo him c th hin trờn trc m
1
0m
2
,
trong ú m
1
v m
2
th hin thu nhp trong hai trng hp tng ng: khụng cú
tn tht v cú tn tht.
2.2.1. Cõn bng th trng trong iu kin thụng tin y .
Trờn th trng bo him cnh tranh hon ho, cú hai kiu cõn bng l
cõn bng chung v cõn bng riờng. Cõn bng chung xy ra khi th trng cú
mt loi khỏch hng ng nht v mc ri ro, cụng ty bo him ch cn nh
giỏ mt loi hp ng bo him. Trong trng hp cõn bng riờng, th trng
cú nhiu nhúm khỏch hng khỏc nhau v mc ri ro. Khi ú, cụng ty bo
him bỏn cỏc hp ng bo him cỏc mc giỏ khỏc nhau cho tng i tng
khỏch hng cú ri ro phự hp. Th trng t n cõn bng ti nhiu im
ng vi tng loi khỏch hng.
2.2.1.1. Cõn bng chung
O
Hỡnh 1.1 biu din im cõn bng chung ca th trng bo him cnh
tranh hon ho vi mt loi khỏch hng ng nht v 1 t l xỏc sut xy ra
23
§ç Hoµi Giang, Líp A4 K38B - KTNT–
rủi ro, trong điều kiện thông tin đầy đủ. Trục hoành m
1
và trục tung m
2
biểu
diễn thu nhập trong hai trường hợp tương ứng: không có tổn thất và có tổn
thất. Đường cong U thể hiện tập hợp các điểm kết hợp thu nhập của người mua
bảo hiểm trong hai trường hợp trên, phụ thuộc vào a, i và d, chính là đường cầu
bảo hiểm. Đường thẳng OT biểu diễn các tập hợp điểm có kết hợp thu nhập
bằng nhau dù tổn thất có xảy ra hay không. Đường thẳng EF là đồ thị của
phương trình (4) biểu diễn các kết hợp thu nhập của công ty bảo hiểm và chính
là đường cung bảo hiểm. Độ dốc của đường EF được xác định bằng tỷ lệ
p
p
−
1
. Độ dốc của đường U được xác định bằng tỷ lệ thay thế cận biên của thu nhập
trong hai trường hợp m
1
và m
2
, tức là bằng
)(
)(
2
Đỗ Hoài Giang, Lớp A4 K38B - KTNT
E
O
m
1
m
2
U
L
U
H
A
)/p
H
.
Trong trng hp ny, dc v lừm ca ng cu ng vi mi
nhúm khỏch hng ph thuc vo mc tn tht khi ri ro xy ra (d) v c im
ri ro (tu theo tng c im ri ro m cụng ty bo him a ra mc phớ a v
mc bi thng i phự hp). Gi hai ng ny tng ng l U
L
v U
H
.
Vỡ cụng ty bo him bit rừ xỏc sut xy ra ri ro ca hai nhúm khỏch
hng nờn h s a ra hai loi hp ng bo him tng ng vi hai mc ri
ro. Ti im cõn bng, c hai nhúm khỏch hng u c bo him ton b ri
ro v mt mc giỏ c cụng bng.
2.2.2. Cõn bng th trng trong iu kin thụng tin khụng cõn
xng.
Nh kinh t hc Akerlof, trong nghiờn cu v thụng tin khụng cõn xng
nm 1970 ó a ra nhng vn phỏt sinh trờn th trng bo him thõn th
khi ngi c bo him bit rừ tỡnh trng sc kho ca mỡnh cũn cụng ty bo
25