Nghiên cứu biến động, cấu trúc và phân bổ quần xã thực vật nổi tại một số điểm trên hệ thống sông hồng - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ SINH HOC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG, CẤU TRÚC VÀ PHÂN BỐ
QUẦN XÃ THỰC VẬT NỔI TẠI MỘT SỐ ĐIỂM TRÊN HỆ
THỐNG SÔNG HỒNG.

Giaó viên hướng dẫn: TS. Dương Thị Thủy
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Ngọc.
Lớp

: 11 – 01.

HÀ NỘI – 2015.


Khóa luận tốt nghiệp

Nguyễn Thị Ngọc

LỜI CẢM ƠN
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với sự hỗ trợ,
giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Để hoàn thành
khóa luận này, em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới TS. Dương Thị
Thủy – Trưởng phòng Thủy sinh học môi trường, Viện Công nghệ môi trường,
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tận tâm hướng dẫn và giúp đỡ em trong
suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận này.

1.2.2 Ảnh hưởng đến cấu trúc quần xã. .......................................................... 10
1.2.3 Ảnh hưởng của phì dưỡng và hiện tượng “nở hoa” của thực vật nổi. .... 10
1.2.4 Sự tích lũy sinh học (Bioaccumulation). ................................................. 13
1.3. Hệ thống sinh vật chỉ thị và sử dụng vi tảo làm sinh vật chỉ thị. ...................... 13
1.3.1 Khái niệm về sinh vật chỉ thị. ................................................................. 15
1.3.2 Vi tảo chỉ thị. ......................................................................................... 16
1.4 Tình hình ô nhiễm sông trên thế giới và Việt Nam. .......................................... 17
1.4.1 Hiện trạng ô nhiễm sông trên thế giới. ................................................... 17
1.4.2 Hiện trạng ô nhiễm sông ở Việt Nam. .................................................... 20
1.4.3 Những nghiên cứu về sông Hồng. .......................................................... 25
PHẦN II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................. 29
2.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu. ................................................................. 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu. ........................................................................... 29
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu. ............................................................................ 29
2.2. Phương pháp nghiên cứu. ............................................................................... 30
2.2.1. Phương pháp nghiên cứu thực địa. ....................................................... 30
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm................................. 30
Phần III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN................................................................. 32
3.1. Đặc điểm lưu vực sông Hồng. ......................................................................... 32
3.2. Biến động các thông số thủy lý, thủy hóa chất lượng nước trong tại một số điểm
nghiên cứu trên sông Hồng. ................................................................................... 34
3.2.1. Biến động pH ........................................................................................ 34


Khóa luận tốt nghiệp

Nguyễn Thị Ngọc

3.2.2. Độ đục (NTU). ...................................................................................... 35
3. 2.3. Tổng lượng chất rắn hòa tan (TDS). ................................................... 36

Hình 9. Biến động TDS tại 4 điểm nghiên cứu trong lưu vực sông Hồng. ........ 36
Hình 10. Biến động DO tại 4 điểm nghiên cứu trong lưu vực sông Hồng. ........ 37
Hình 11. Biến động N-NH4 tại 4 điểm nghiên cứu trong lưu vực sông Hồng. ... 39
Hình 12: Biến động N-NO2 tại 4 điểm nghiên cứu trong lưu vực sông Hồng. .. 39
Hình 13: Biến động N-NO3 tại 6 điểm nghiên cứu trong lưu vực sông Hồng... 40
Hình 14. Biến động P-PO4 tại 4 điểm nghiên cứu trong lưu vực sông Hồng. ... 41
Hình 15. Biến động số lượng tế bào tại 4 điểm nghiên cứu theo mùa (2014). ... 42
Hình 16. Biến động số lượng các ngành tảo tại 4 điểm nghiên cứu trên sông
Hồng trong giai đoạn 2014. ................................................................................. 43
Hình 17. Biến động số lượng các ngành tảo theo thời gian tại điểm Hà Nội..... 44
Hình 18. Biến động số lượng các ngành tảo theo thời gian tại điểm Vụ Quang.
.............................................................................................................................. 45
Hình 19. Biến động số lượng các ngành tảo theo thời gian tại điểm Hòa Bình. 46
Hình 20: Biến động số lượng các ngành tảo theo thời gian tại điểm Yên Bái. .. 46
Hình 21. Phân tích hợp phần (PCA) dựa trên các thông số thủy lý - thủy hóa và
quần xã thực vật nổi tại 6 điểm nghiên cứu trên hệ thống sông Hồng năm 2014.
.............................................................................................................................. 47


DANH TỪ VIẾT TẮT
QCVN: Quy chuẩn Việt Nam
TB/L: Tế bào/Lít
NTU: Neophelometric Turbidity Unit
PCA: Principal component analysis


MỞ ĐẦU
Ngày nay ô nhiễm môi trường nước đang là một trong những vấn đề nóng
bỏng toàn cầu. Ở Việt Nam tốc độ đô thị hóa và phát triển kinh tế nhanh chóng đã
và đang phát triển mạnh gây ảnh hưởng đến nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm.

triển kinh tế. Quá trình bào mòn của dòng nước khi chảy từ nơi cao xuống thấp đã
hình thành nên các sông, suối, kênh rạch [1, 19, 28]. Phần lớn lượng lớn nước trong
sông ngòi ao hồ là do dòng chảy trực tiếp trên mặt đất cung cấp và được định nghĩa
là dòng chảy mặt [27].
Các thủy vực nước mặt có nhiều loại hình thủy vực khác nhau như: sông,
suối, hồ, ao, ruộng lúa... Đặc tính chung là trong nước có ít thành phần muối Na+,
Cl-, SO4 2; nhiều thành phần muối Ca2 +, HCO3 -, CO3 2- và nó chia thành hai nhóm:
nước đứng và nước chảy.
• Các thủy vực nước đứng: hồ, ao, đầm lầy…
• Các thủy vực nước chảy: sông, suối, mạch nước phun…[29].
Hệ sinh thái nước chảy có những đặc trưng sai khác so với hệ sinh thái
nước đứng. Yếu tố đặc trưng cho sự sai khác là dòng chảy. Dòng chảy là một hệ
thống “mở”, thuỷ vực nước chảy liên tục được nhận nước và các chất dinh dưỡng
mới do quá trình xói mòn và rửa trôi, đồng thời đưa chúng từ nơi này sang nơi
khác. Các chất dinh dưỡng chỉ tồn tại 1 thời gian, tạm thời ở nơi nào đó, hoặc trong
cơ thể sinh vật, cuối cùng chúng đều theo dòng nước về cuối dòng, và không thể
trực tiếp quay trở lại [20, 31]. Từ đặc điểm này ta dẫn ra một số đặc điểm khác có
tính hệ quả:
Sự không phân tầng: Ở các thủy vực nước đứng đặc trưng bởi sự phân tầng và biểu
thị bằng khối lượng nước bị phân tầng và hình thành 3 vùng khác nhau về nhiệt độ:
K18 – 1101 – Khoa Công Nghệ Sinh

2


Tầng trên (Epilimnion) ấm, nước được xáo trộn tốt. Tầng giữa (Metanlimnion)
Gradien nhiệt độ thay đổi nhanh theo độ sâu giữa nước tầng mặt và nước ở đáy.
Tầng đáy (Hypolimnion) nhiệt độ nước thấp và ổn định [30]. Ở các thủy vực nước
chảy, dòng chảy xáo trộn liên tục, độ sâu không lớn, bề mặt tiếp xúc không khí
nhiều nghĩa là nhiệt độ, ánh sáng, oxy hòa tan khá đồng đều theo chiều thẳng đứng


tài nguyên nước là hệ quả của việc một số yếu tố hình thành chúng biến động có
tính chu kỳ. Bên cạnh đó dòng chảy còn là sản phẩm tác động của nhiều yếu tố
ngẫu nhiên. Khi các yếu tố ngẫu nhiên đều có tác động đáng kể tới dòng chảy thì nó
sẽ mang tính ngẫu nhiên rõ rệt. Những hiện tượng thuỷ văn, như lũ lụt, hạn hán, xảy
ra theo chu kỳ, nhưng các đặc trưng định lượng của chúng, như độ lớn, thời điểm
xuất hiện..., lại có tính ngẫu nhiên và tuân theo một quy luật ngẫu nhiên nhất định.
Biến động này không được biểu hiện rõ rệt trong các thủy vực nước đứng [4].
Khả năng tự tái tạo nước ở các lưu vực: Với đặc trưng dòng chảy liên tục
một chiều nước có thể tự tái tạo về lượng, chất và năng lượng. Khả năng tự tái tạo
về lượng và năng lượng thực hiện nhờ tuần hoàn nước. Khả năng tái tạo về chất
thông qua các quá trình cơ, lý, hóa như chuyển dịch dòng nước, pha loãng và lắng
đọng tự nhiên, khả năng tự làm sạch hóa học và hóa sinh [4].
1.1.2 Đặc điểm quần xã sinh vật dòng chảy.
Quần xã sinh vật là một tập hợp các quần thể phân bố trong một vùng hoặc
trong một sinh cảnh nhất định. Đó là một đơn vị có tổ chức, tức là có một số tính
chất đặc biệt không thể thấy ở mức quần thể và cá thể. Quần xã sinh vật là một thể
thống nhất nhờ sự chuyển hóa và trao đổi chất tương hỗ [5].
Quần xã sinh vật dòng chảy cũng như trong các thủy vực khác, theo dạng
sống có thể phân thành:
• Sinh vật đáy (benthos).
• Sinh vật nổi (plankton).
• Sinh vật tự bơi (nekton).
• Sinh vật sống trên bề mặt nước (neuston).
Tuy nhiên thì thành phần từng nhóm sinh vật và thành phần loài có sự thay
đổi theo điều kiện tự nhiên dòng chảy. Để mô tả được dễ dàng, trong cấu trúc hệ
sinh thái có thể phân chia một cách hợp lý các thành phần sau:
• Những chất vô cơ (C, N, CO2, H2O...) tham gia vào chu trình chuyển hóa vật
chất.
• Những chất hữu cơ (protein, gluxit, lipid, các chất mùn...) liên kết các thành


Sinh vật trong tầng tự dưỡng

Giáp xác, trùng bánh xe

Sinh vật trong tầng dị dưỡng

Côn trùng đáy, động vật thân mềm.,
giáp xác (Ostracoda, tôm, cua)

Sinh vật lớn hiếu động

Cá, các loài bò sát, thú biển

Vi sinh vật – sinh vật tiêu thụ (sinh vật hoại

Vi khuẩn và nấm

sinh)

1.1.2.1. Những thích nghi theo điều kiện tự nhiên của dòng chảy.
Điều kiện sống của các nhóm thủy sinh vật trong các thủy vực nước chảy có
sự biến động rất lớn do đặc điểm quan trọng của sông là chế độ nước chảy, sự phân
chia thành nhiều đoạn sinh cảnh khác nhau: thượng lưu, trung lưu và hạ lưu có
nhiều nhánh sông chảy qua nhiều địa phương. Phù hợp với đặc điểm trên, quần xã
thuỷ sinh vật sông có cấu tạo không đồng nhất, sai khác nhau giữa thương lưu và hạ
K18 – 1101 – Khoa Công Nghệ Sinh

5


Sự biến động quần xã sinh vật phụ thuộc vào sự biến động mực nước, liên quan tới
biến đổi khí hậu. Số lượng sinh vật sống nổi nhiều nhất vào kỳ nước thấp và nghèo
K18 – 1101 – Khoa Công Nghệ Sinh

6


đi ở thời kì nước cao. Sở dĩ như vậy là do trong mùa lũ tốc độ dòng quá lớn và độ
đục cao [3, 4, 21].
1.1.2.2. Những biến đổi theo điều kiện ô nhiễm.
Trong sự biến đổi của khí hậu và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
phát triển như ngày nay thì ô nhiễm môi trường là việc không thể tránh khỏi. Chính
điều này đã gây ảnh hưởng lớn tới quần xã sinh vật thủy sinh, nó làm cho quần xã
sinh vật ngoài biến đổi tự nhiên còn thay đổi theo các mức độ ô nhiễm. Dưới đây là
hệ thống ô nhiễm (Saprobicsystem) -Kolkwitz và Marsson (1902, 1908, 1909). Hệ
thống này dựa vào việc quan sát sự thay đổi của khu hệ sinh vật xảy ra ở nguồn
nước bị ô nhiễm hữu cơ. Khi quá trình tự làm sạch xảy ra, những thay đổi hơn nữa
của hệ sinh thái cũng có thể được quan sát chủ yếu vào các thành phần quần xã sinh
vật:
Vùng rất ô nhiễm (polysaprobic zone): Quá trình phân hủy xảy ra rất
nhanh và trạng thái kỵ khí chiếm ưu thế. Nước rất bẩn có màu xám, có mùi hôi,
có độ đục cao do số lượng lớn của vi khuẩn và chất keo. Trong nước vắng mặt
hầu hết các loài sinh vật tự dưỡng, vi khuẩn chiếm ưu thế, đặc biệt là
thiobacteria, thích ứng tốt với sự có mặt của H2S . Có nhiều loài trùng chân rễ,
trùng roi động vật, trùng tiêm mao là những sinh vật điển hình cho vùng nước
rất bẩn. Một số ít loài động vật không xương sống có thể sống được trong vùng
nước rất bẩn thường xuyên có huyết sắc tố, haemoglobin như Tubifex,
Chironomusthummi. Cá thường không có mặt ở vùng này [13, 15]
Vùng ô nhiễm (α mesosaprobic zone): Các loại amino acid và các sản
phẩm phân hủy của chúng chủ yếu là acid béo. Đã có oxygen. Nước thường có

tăng, sự phân hủy sẽ diễn ra trong một thời gian ngắn và trên một đoạn sông ngắn
[9, 10, 19, 20, 22].

K18 – 1101 – Khoa Công Nghệ Sinh

8


1. 2. Ảnh hưởng của ô nhiễm đến quần xã thủy sinh vật.
Chúng ta không thể phủ nhận mối tương tác mật thiết và chặt chẽ giữa yếu tố
môi trường và cơ thể sống. Môi trường nước tác động tới cơ thể sống, dù nó ô
nhiễm ở mức độ nặng hay nhẹ đều gây ảnh hưởng xấu tới quần xã thủy sinh vật.
Các nghiên cứu cho thấy chất lượng môi trường nước, kiểu ô nhiễm hay mức độ ô
nhiễm của môi trường nước sẽ tác động tới thủy sinh vật theo các mức độ khác
nhau:
Ô nhiễm nhẹ: kích thích sự phát triển của nấm, vi khuẩn, thực vật phiêu
sinh…
Ô nhiễm nặng: làm giảm sự đa dạng (thành phần loài) đồng thời làm giảm
mật độ, sinh khối. Làm thay đổi cấu trúc khu hệ thủy sinh vật như có thể xuất hiện
loài mới thích nghi cao với môi trường giàu dinh dưỡng, nhiễm bẩn cao như hiện
tượng nở hoa thực vật nổi, sinh vật đáy; một số loài nhạy cảm hoặc không có khả
năng chống chịu với môi trường ô nhiễm sẽ bị biến dạng cơ thể ( cấu trúc nội quan,
mầu sắc, gen..), sự tích lũy các chất gây độc quá mức bình thường sẽ dẫn tới chết
dần dần.
Ô nhiễm rất nặng: sẽ đe dọa và có thể hủy diệt một số loài nhạy cảm với
môi trường ngay trong thời gian đầu và hủy diệt từ từ với các loài khác, một số loài
cũ không có khả năng phục hồi và các loài mới cũng không thể xuất hiện. Hệ sinh
thái thủy vực bị hủy diệt hoàn toàn [6].
1.2.1 Ảnh hưởng tới mức độ đa dạng.
Các tảo đơn bào là mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn, hình thành nên đặc

Chlorella,… xuất hiện trong môi trường giàu chất hữu cơ. Tảo beegiatoa xuất hiện
trong môi trường có nồng độ Hydrogen Sulfat (H2SO4) cao [2]. Trong môi trường
trầm tích đáy nguồn dinh dưỡng phong phú thì giun ít tơ, một số ấu trùng muỗi lắc
Chironomidae, vi khuẩn kỵ khí Closterium xuất hiện. Ngược lại, một số nhóm thủy
sinh vật phân bố rộng rãi lại không thấy hoặc ít thấy trong các thủy vực ô nhiễm
trên như các loài tảo Silic đơn bào, nhóm giáp xác Copepode, nhiều loài tôm, cua,
trai, ốc [8].
1.2.3 Ảnh hưởng của phì dưỡng và hiện tượng “nở hoa” của thực vật nổi.
Hiện tượng phú dưỡng là một dạng biểu hiện của ao hồ bị ô nhiễm do dư
thừa các chất dinh dưỡng, thông thường khi hàm lượng nitơ (N) lớn hơn 500µg/l và
photpho (P) lớn hơn 20µg/l. Sự dư thừa các chất dinh dưỡng này sẽ thúc đấy sự phát
10
K18 – 1101 – Khoa Công Nghệ Sinh


triển của các loài tảo, rong, rêu và các thực vật thân mềm trong nước và cuối cùng
sẽ ảnh hưởng đến sự cân bằng sinh học của nước. Các loài sinh vật này sau khi chết
sẽ phân hủy tạo ra một lượng lớn các hợp chất hữu cơ. Khi các thực vật bùn lắng
xuống ao hồ, cộng với sự phát triển mạnh của các loài thực vật ở ven bờ làm cho ao
hồ ngày càng nông hơn và mặt hồ ngày càng bị thu hẹp, cuối cùng ao hồ sẽ biến
thành đầm lầy, thậm chí trên thế giới có hồ biến mất hoàn toàn do hiện tượng phì
dưỡng xảy ra trong một thời gian dài.
Nguyên nhân gây phì dưỡng là sự thâm nhập một lượng lớn N, P từ nước
thải sinh hoạt của các khu dân cư, rác thải công nghiệp, y tế, thực phẩm…không
qua xử lý hoặc xử lý không kỹ đã đổ ra sông hồ. Khi các hồ gia tăng chất dinh
dưỡng, các loài tảo thuộc các chi Microcystis, Anabaena, Oscillatoria,
Hapalosiphon





Hiện tượng thủy triều đỏ có liên quan chặt chẽ tới sự phú dưỡng của thủy
vực. Nguyên nhân của hiện tượng trên có liên quan đến các yếu tố môi trường như:
nhiệt độ, độ mặn và hàm lượng muối dinh dưỡng cũng như các trường khí - thủy
văn. Ngoài ra, các chất thải từ hoạt động của con người như nuôi trồng thủy sản
thiếu quy hoạch, sự phát triển của các nhà máy chế biến thủy sản, hóa chất… cũng
là một trong các nguyên nhân dẫn đến sự hình thành thủy triều đỏ [27].
Hầu hết các loài vi tảo biển nở hoa thường đưa đến hậu quả làm cho môi
trường xấu đi. Tảo chết và chìm xuống đáy thủy vực với một lượng lớn sau nở rộ
tạo thành một lượng chất dinh dưỡng tích lũy trong trầm tích đáy. Một số chất dinh
dưỡng vô cơ dễ phân hủy làm hàm lượng oxy hòa tan suy giảm nhanh chóng, gây
nên hiện tượng thiếu oxy trong các tầng nước làm chết các loài thủy sản, giảm đa
dạng sinh học và thay đổi cấu trúc, thành phần nhóm thủy sinh vật. Quá trình này
làm thay đổi thành phần hóa học trong nước, gây tăng các khí độc. Đến nay, các
nhà khoa học đã xác nhận có khoảng trên 300 loài vi tảo đã hình thành sự nở hoa
làm thay đổi màu nước. Trong đó có 1/4 loài (70 - 80 loài) gây hiện tượng nở hoa
có khả năng sản sinh độc tố đang là mối đe dọa đến khu hệ động vật và thực vật tự
nhiên ở nước, nghề nuôi trồng thủy sản và sức khỏe của con người do độc tố tảo có
thể được tích lũy trong vài loài động vật thân mềm sò, ốc hay cá… và không bị phá
hủy trong quá trình đun nấu, không ảnh hưởng đến mùi vị của thực phẩm. Theo các
nhà khoa học, trong vài thập kỷ qua, hiện tượng thủy triều đỏ và nở hoa nước đang
gia tăng ở cả 2 khía cạnh tần số/cường độ xuất hiện và phân bố địa lý [28].
Tại Việt Nam, hiện tượng thủy triều đỏ cũng đã xảy ra ở nhiều nơi. Tuy
nhiên, khu vực biển Bình Thuận là nơi có tần suất nở hoa của vi tảo cao nhất, hiện
tượng này dường như xảy ra hàng năm vào khoảng tháng 3 đến tháng 8, khi nhiệt
độ ấm lại và cường độ bức xạ cao nhất trong năm. Cũng trong thời kỳ tháng 7 - 8,
hiện tượng nước trồi tỏ ra mạnh nhất, nhiều nhà khoa học cho rằng hiện tượng nước
trồi cũng có quan hệ mật thiết đến sự nở hoa của vi tảo. Đồng thời, nghề sản xuất
giống thủy sản và nuôi lồng các loài tôm hùm, cá mú cũng thải ra môi trường một
lượng dinh dưỡng đáng kể cũng là một điều kiện kích thích sự nở hoa [31].

quốc gia trên thế giới nghiên cứu và ứng dụng đạt kết quả cao do nó có ưu điểm:
• Rất đa dạng về thành phần và số lượng loài trong tự hiên, thuận tiện ứng
dụng trong các chương trình quan trắc.

K18 – 1101 – Khoa Công Nghệ Sinh

13


• Có phân bố ổn định theo lưu vực, có khả năng phản ánh vấn đề ô nhiễm tại
các điểm khi việc xả thải đã kết thúc/không thấy được.
• Nhiều loài nhạy cảm với ô nhiễm, cho phép phát hiện được vấn đề ô nhiễm,
đặc biệt là ô nhiễm một số hợp chất dạng vết qua phân tích mẫu lý – hóa
hoặc việc phân tích quá tốn kém.
• Nhiều nhóm sinh vật có vòng đời đủ dài, phản ánh được diễn biến chất lượng
môi trường nước thời gian dài và không đòi hỏi tần suất quan trắc liên tục.
• Một số loài đặc biệt phù hợp cho các phân tích trong phòng thí nghiệm [13].
• Mọi sinh vật đều có thể sử dụng làm sinh vật chỉ thị tuy nhiên nó có những
ưu nhược điểm nhất đinh. Theo J. M Hellawell (1989) thống kê một số nhóm
thường sử dụng làm sinh vật chỉ thị dưới nước và thấy rằng vi tảo và động
vật không xương sống là hai nhóm ưu việt hơn cả và thường xuyên được sử
dụng [24].

K18 – 1101 – Khoa Công Nghệ Sinh

14


1.3.1 Khái niệm về sinh vật chỉ thị.
Khái niệm chung và cơ bản của sinh vật chỉ thị được mọi người thừa nhận là:


Sinh vật thăm dò và cảnh báo là những loài sinh vật bản địa đơn lẻ, có khả
năng thể hiện phản ứng có thể đo được đối với chất ô nhiễm và nó được sử dụng
như một chỉ thị cảnh báo sớm về sự có mặt của các chất ô nhiễm trong môi trường.
Đối tượng sinh vật là sinh vật chỉ thị có thể là các loài (loài chỉ thị) hoặc các
tập hợp loài (nhóm loài chỉ thị).
• Chỉ thị hệ sinh thái: đo năng suất sơ cấp, quá trình hô hấp của quần xã.
• Cấu trúc quần xã chỉ thị: tính chất chỉ thị không dừng ở loài mà từng nhóm
loài, từng quần xã sinh vật trong một vùng sinh cư. Sự biến đổi môi trường
nước đã tác động đến cấu trúc quần xã sinh vật nào đó (sinh vật nổi, sinh vật
đáy, cá, rong...). Sự thay đổi của môi trường thể hiện qua các chỉ số sinh học
như: BMWP, IBI, ASPT... (đối với quần xã sinh vật thủy vực).
• Quần thể sinh vật chỉ thị: sự biến đổi môi trường thể hiện ở sự có mặt, không
có mặt của một loài, một nhóm loài mà còn thể hiện ở sự biến đổi về số
lượng, cấu trúc quần thể các loài chỉ thị.
• Cá thể sinh vật chỉ thị là những dấu hiệu mang tính chỉ thị về sinh lý, sinh
hoá, tập tính, tổ chức tế bào của cá thể sinh vật chỉ thị [29].

1.3.2 Vi tảo chỉ thị.
Vi tảo trong hệ sinh thái thủy vực vừa là sinh vật sản xuất tạo năng xuất sơ
cấp vừa là nguồn dinh dưỡng chủ yếu cho nhiều loài và là nguồn cung cấp oxy
chính cho hệ sinh thái. Vì thế việc lựa chọn nó là sinh vật chỉ thị đánh giá chất
lượng nước đang rất được quan tâm. Tảo được chọn là sinh vật chỉ thị do đặc tính
hầu như không chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi tác nhân lý hoá. Với ưu thế kích thước
nhỏ, việc đánh giá những thay đổi trên một số lượng lớn cá thể của quần xã tảo có
thể tiến hành dễ dàng. Tảo có thể dùng làm chỉ thị cho độ axit, ô nhiễm hữu cơ, phú
dưỡng trong hồ hoặc suối. Việc thu mẫu vi tảo dễ, không tốn kém. Tuy nhiên với
loài tảo sống bám trên bề mặt đá thì đòi hỏi chú trọng trong khâu lẫy mẫu. Mặt
khác, chu kỳ sống của tảo ngắn nên không phù hợp để đánh giá tác động môi
trường trong thời gian dài [4].

Micractinium

1

Ankistrodesmus

2

Navicula

3

Chlamydomonas

4

Nitzschia

3

Chlorella

3

Oscillatoria

5

Closterium


Lepocinclis

1

Stigeoclonim

2

Melosira

1

Syndra

2

Từ bảng 2 ta thấy rõ ràng 5 chi tảo Chlamydomonas, Euglena, Scenedesmus,
Phormidinium, Oscillatoria có khả năng chịu được ô nhiễm cao [20, 23].
1.4 Tình hình ô nhiễm sông trên thế giới và Việt Nam.
1.4.1 Hiện trạng ô nhiễm sông trên thế giới.

K18 – 1101 – Khoa Công Nghệ Sinh

17


Ô nhiễm nước đang là vấn đề đáng báo động trên thế giới hiện nay. Đặc biệt
là các nước phát triển. Cùng với sự phát triển thì các khu công nghiệp, nhà máy…đã
thải ra môi trường hàng loạt các lượng chất thải độc hại làm cho nguồn nước ở đây
bị ô nhiễm trầm trọng. Đầu tiên phải nói tới con sông ô nhiễm nhất, bẩn nhất thế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status