Nghiên cứu biến động trầm tích và địa hình
trong Holocen muộn khu vực đới bờ biển từ
cửa Cung Hầu đến cửa Định An
Phạm Thu Thảo
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường
Mã số: 60 85 15
Người hướng dẫn: GS.TS Trần Nghi
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Khái quát về đới bờ; quan điểm tiếp cận; nghiên cứu địa mạo; nhóm
phương pháp địa chất- trầm tích; phương pháp phân tích viễn thám. Phân tích mối
quan hệ giữa địa hình địa mạo với quá trình tiến hóa trầm tích trong Holocen muộn.
Làm sáng tỏ mối quan hệ giữa địa hình và sự thay đổi mực nước biển. Nghiên cứu
biến động trầm tích và địa hình đới bờ khu vực từ cửa Cung Hầu đến cửa Định An
trong Holocen muộn trong mối liên quan với các quá trình địa mạo - trầm tích. Trình
bày nguyên nhân biến động địa hình đới bờ biển và đưa ra giải pháp định hướng quản
lý quỹ đất.
Keywords: Trầm tích; Địa hình; Holocen; Cung Hầu; Định An; Địa mạo học
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Đới bờ là dải đất tiếp giáp giữa biển và lục địa, là nơi tập trung các dạng tài nguyên
thiên nhiên phong phú đặc biệt là tài nguyên sinh vật. đới bờ cũng là khu vực nhạy cảm, rất dễ
bị tác động bởi các yếu tố động lực nội ngoại sinh như chuyển động tân kiến tạo, thay đổi
mực nước biển và các yếu tố thủy động lực …
Khu vực đới bờ biển từ cửa Cung Hầu đến cửa Định An (thuộc tỉnh Trà Vinh) biến
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Chương 2. Các nhân tố ảnh hưởng đến trầm tích và địa hình khu vực nghiên cứu.
Chương 3. Biến động trầm tích và địa hình đới bờ biển khu vực từ cửa Cung Hầu đến
cửa Định An trong Holocen muộn.
3
Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1. KHÁI QUÁT VỀ ĐỚI BỜ
Đới bờ là nơi nhạy cảm nhất, rất dễ bị tác động bởi những thay đổi từ bên ngoài (thay
đổi mực nước biển, tác động của con người, điều kiện địa chất), là nơi tài nguyên thiên nhiên
rất đa dạng bao gồm tài nguyên sinh vật và các dạng tài nguyên khác. Hiện nay khái niệm về
đới bờ chưa thống nhất phạm vi không gian, vì vậy việc định nghĩa và xác định ranh giới cho
đới bờ phục vụ cho các mục địch khác nhau, phụ thuộc mục đích sử dụng và nghiên cứu.
Dưới đây là một số khái niệm đới bờ được sử dụng rộng rãi và phổ biến trên thế giới và Việt
Nam:
Các khái niệm và định nghĩa về đới bờ nêu trên đều được xác lập một cách tương đối.
Cho đến nay định nghĩa đới bờ phổ biến, được dùng rộng rãi nhất là theo quan điểm của
Lymarev V.I: “Đới bờ là một dải tiếp giáp giữa đất liền và biển, không rộng lắm, có bản chất
độc đáo, tạo nên một lớp vỏ cảnh quan của trái đất và là nơi xảy ra mối tương tác rất phức tạp
giữa thạch quyển, thủy quyển, khí quyển và sinh quyển. Đới bờ cũng là hệ tự nhiên mở phức
tạp, đa dạng và cũng rất độc đáo thể hiện rõ rệt và đầy đủ nhất mối tác động qua lại lẫn nhau
giữa 5 quyển của trái đất: thạch quyển, thủy quyển, khí quyển, sinh quyển và trí quyển”.
Đới bờ giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội vì vậy việc đầu tư thích
đáng cho những nghiên cứu về địa chất, địa chất thủy văn, địa chất công trình, thủy thạch
động lực, địa chất tai biến, địa mạo, … để phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội vùng ven biển
là mối quan tâm hàng đầu của chính phủ nhiều nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Hà
Lan, Nhật Bản,….
1.2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU TRONG VÀ NGOÀI NƢỚC VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
môi trường trầm tích Holocen - hiện đại vùng ven bờ châu thổ sông Cửu Long, phục vụ phát
triển bền vững kinh tế - xã hội", mã số KC09.06/06-10 do PGS. TSKH. Nguyễn Địch Dỹ chủ
trì [7] đã thu thập, xử lý, phân tích và tổng hợp một số lượng lớn tài liệu, số liệu liên quan đến
vùng cửa sông ven biển.
Như vậy hầu hết các đề tài, các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nghiên
cứu biến động trầm tích trong giai đoạn Pleistocen, Holocen, biến động đường bờ và cửa sông
trong khoảng 60 năm gần đây. Qua các tư liệu từ các công trình trên, kết hợp với kết quả
nghiên cứu và khảo sát thực địa học viên đã kế thừa và tổng hợp lại để làm rõ những biến
động địa hình và trầm tích trong Holocen muộn trong mối quan hệ với mực nước biển.
1.3. QUAN ĐIỂM TIẾP CẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.3.1. Quan điểm tiếp cận
1.3.1.1. Tiếp cận hệ thống
Các kiểu trầm tích và các tướng trầm tích có quan hệ với nhau có tính hệ thống. Tính
hệ thống có quan hệ nguồn gốc với nhau theo không gian và theo thời gian được gọi là cộng
sinh tướng.
1.3.1.2. Tiếp cận nhân-quả
Mối quan hệ giữa trầm tích, sự thay đổi mực nước biển và chuyển động kiến tạo là
mối quan hệ nhân-quả, trong đó trầm tích là kết quả còn hai yếu tố kia là nguyên nhân.
5
1.2.1.1. Phƣơng pháp phân tích hình thái - động lực
Thực chất đây là phương pháp hình thái-nguồn gốc. Giữa hình thái địa hình bờ biển và
các nhân tố động lực thành tạo chúng có mối liên quan rất mật thiết với nhau theo quan hệ
nhân - quả.
1.2.1.2. Phƣơng pháp phân tích trắc lƣợng hình thái
Thông qua địa hình đáy thể hiện trên các bản đồ địa hình đáy, các hải đồ tỷ lệ và
thời gian khác nhau, các băng đo sâu, phần nào có thể giải thích được nguồn gốc và động
lực thành tạo chúng khi kết hợp với đặc điểm phân bố trầm tích tầng mặt.
1.2.2. Nhóm phƣơng pháp địa chất - trầm tích
1.2.2.1. Phƣơng pháp nghiên cứu thành phần vật chất
6
1.2.3. Phƣơng pháp phân tích ảnh viễn thám
Các thế hệ ảnh viễn thám (cả ảnh chụp từ máy bay lẫn ảnh chụp từ vệ tinh) là nguồn
tài liệu cho phép nhận được những thông tin khá chính xác về địa hình bờ biển ở thời điểm
bay chụp.
7
Chƣơng 2.
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN TRẦM TÍCH VÀ ĐỊA HÌNH KHU VỰC
NGHIÊN CỨU
2.1. YẾU TỐ TỰ NHIÊN
2.1.1. Vị trí địa lý
Khu vực nghiên cứu thuộc tỉnh Trà Vinh, một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Cửu Long.
Nằm trong tọa độ địa lý giới hạn từ: 9
o
31’46’’ đến 10
o
04’5” vĩ độ Bắc và 105
o
57’16”
đến 106
o
36’04” kinh độ Đông; Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long; Đông giáp sông Cổ
Chiên, ngăn cách với tỉnh Bến Tre; Tây giáp sông Hậu, ngăn cách với tỉnh Sóc Trăng; Nam
và Đông Nam giáp biển với chiều dài hơn 65 km. Trung tâm tỉnh lỵ nằm trên quốc lộ 53,
cách thành phố Hồ Chí Minh gần 200 km và cách thành phố Cần Thơ 100 km.
2.1.2. Đặc điểm khí hậu, khí tƣợng
Trà Vinh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ven biển, có điều kiện ánh sáng
bức xạ dồi dào, nền nhiệt độ cao và ổn định, tuy nhiên, do đặc thù của vùng khí hậu ven biển
2.1.3. Đặc điểm địa chất
2.1.3.1. Địa tầng
1. Phụ thống Holocen giữa - Hệ tầng Hậu Giang (m, am)Q
2
2
hg
Theo Lê Đức An [1] bề dày của hệ tầng Hậu Giang ở Trà Vinh dao động từ 15m đến
30m, gồm các kiểu nguồn gốc sau:
+ Trầm tích biển (mQ
2
2
hg)
+ Trầm tích nguồn gốc sông biển hỗn hợp- amQ
2
2
hg
2. Thống Holocen, phụ thống Holocen trên - Hệ tầng Cửu Long (a, am, amb, ab, mb, m)
Q
2
3
cl
- Trầm tích Holocen trên - phần dưới ( Q
2
3a
)
+Trầm tích biển (mQ
2
3a
)
+ Trầm tích sông - biển (amQ
2.1.3.2. Đặc điểm kiến tạo, địa động lực
Khu vực nghiên cứu nằm trọn trong khối sụt sông Tiền – sông Hậu, chịu ảnh hưởng
mạnh mẽ của đứt gãy sông Hậu và đứt gãy sông Cổ Chiên. Hoạt động tân kiến tạo - địa động
lực và các đứt gãy này đã tác động lớn đến quá trình lắng đọng trầm tích: các quá trình
estuary hóa cửa sông, tăng bề dày trầm tích, động đất…
2.2. YẾU TỐ NHÂN SINH
Dân số ngày càng phát triển, đặc biệt là các khu vực ven biển. Các hoạt động của con
người như làm đê, kè, khai thác cát, xây dựng nhà ở, các khu công nghiệp, ….đã góp phần
không nhỏ thay đổi địa hình khu vực tỉnh Trà Vinh. Đặc biệt các hoạt động gần đây như xây
dựng luồng (dài 40km từ sông Hậu ra đến cửa biển) cho các tàu biển có trọng tài lớn vào sông
Hậu, trong dự án này đoạn kênh Quan Chánh Bố dài 19 km, đoạn kênh Tắt cắt qua đất liền
dài 9 km để xây dựng phải nạo vét, đào mới, tác động rất lớn đến địa hình bờ biển. Ngoài ra
nhà máy nhiệt điện chạy than được khởi công xây dựng từ năm 2010 tại ven biển huyện
Duyên Hải (sử dụng cát khu vực bãi triều để xây dựng) cũng ảnh hưởng không nhỏ.
10
Chƣơng 3.
BIẾN ĐỘNG TRẦM TÍCH VÀ ĐỊA HÌNH ĐỚI BỜ BIỂN KHU VỰC TỪ CỬA CUNG
HẦU ĐẾN CỬA ĐỊNH AN TRONG HOLOCEN MUỘN
3.1. BIẾN ĐỘNG TRẦM TÍCH HOLOCEN MUỘN
3.1.1. Đặc điểm trầm tích
Các vật liệu trầm tích phân bố phân bố ở những nơi có dòng chảy, những bồn trũng.
Mỗi loại trầm tích đều tuân theo quy luật phân dị trầm tích và đều có lịch sử hình thành riêng.
Đặc điểm trầm tích (như thành phần độ hạt, thành phần khoáng vật, độ mài tròn hạt vụn…)
góp phần lý giải được quá trình lắng đọng, di chuyển của vật liệu trầm tích, đồng thời phần
nào suy đoán địa hình trong quá khứ. Đặc điểm trầm tích khu vực nghiên cứu được chia ra
làm hai giai đoạn: giai đoạn Holocen muộn phần sớm (trong phạm vi phần đất liền) và giai
đoạn Holocen muộn phần muộn (trong phạm vi phần ngập nước).
3.1.1.1. Đặc điểm trầm tích Holocen muộn phần sớm (Q
2
và nhóm tướng phân bố dưới phần ngập nước, trong đó có tất cả 16 tướng như sau:
Các tướng trầm tích có tuổi Holocen muộn phân bố trên đất liền (Q
2
3a
)
1. Tướng cát cồn chắn cửa sông cổ (giồng cát) (amSQ
2
3a
)
2. Tướng bùn đồng bằng châu thổ (amf/MQ
2
3a
)
3. Tướng bùn đầm lầy ven biển cổ (amb/MQ
2
3a
)
4. Tướng cát bùn lòng sông cổ tàn dư (amc/mSQ
2
3a
)
Các tướng trầm tích có tuổi Holocen muộn phần muộn phân bố dưới phần ngập
nước (Q
2
3b
)
5. Tướng cát bùn lòng cửa sông hiện đại (amc/mSQ
2
3b
)
3b
); 14. Tướng bùn cát tiền châu thổ hiện đại (ma/sMQ
2
3b
);
15. Tướng bùn sườn châu thổ hiện đại (ma/MQ
2
); 16. Tướng cát bùn biển nông ven bờ
(m/mSQ
2
3b
).
3.1.2.2. Luận giải biến động môi trƣờng trầm tích qua phân tích cộng sinh tƣớng.
Khu vực nghiên cứu có sự cộng sinh tướng từ lục địa ra biển. Theo không gian (chiều
ngang) sự phân bố các tướng trầm tích tuân theo quy luật cộng sinh tướng và có mối quan hệ
chặt chẽ với hướng vận chuyển vật liệu, hướng dịch chuyển đường bờ. Trong giai đoạn
Holocen muộn, quá trình biển thoái, môi trường châu thổ Trà Vinh bồi tụ ra phía biển, cộng
sinh tướng được thể hiện qua sự chuyển tướng từ đất liền ra biển: nhóm tướng bột sét đồng
bằng châu thổ → nhóm tướng cát, bùn cát tiền châu thổ → nhóm tướng bùn sườn châu thổ.
12
Trong mặt cắt trầm tích khu vực nghiên cứu (theo chiều dọc) có thể nhận thấy rất
rõ biến động trầm tích có quan hệ chặt chẽ với mực nước biển dâng. Từ 5000 năm đến nay
biển thoái, từ dưới lên mặt cắt trầm tích thay đổi từ tướng sét sườn châu thổ (tuổi từ 5000
– 3000 năm cách ngày nay) lên tướng bùn pha cát tiền châu thổ và trên cùng là tướng
tướng bùn đồng bằng châu thổ đan xen với tướng cát cồn chắn cửa sông.
3.2. BIẾN ĐỘNG ĐỊA HÌNH ĐỚI BỜ TRONG HOLOCEN MUỘN
3.2.1. Đặc điểm địa mạo
2
và 330km
2
, tăng diện tích châu thổ
thêm khoảng 560km
2
. Từ năm 2000 đến 1000 cách ngày nay châu thổ bồi tụ thêm đơn vị số 8
– 5, tăng diện tích đồng bằng thêm khoảng 660km
2
. Như vậy từ 3000 năm đến 1000 năm cách
nay châu thổ bồi tụ với tốc độ rất nhanh, đường bờ dịch chuyển về phía biển với tốc độ
khoảng 40m/năm.
Từ 1000 năm đến nay đường bờ tiến ra phía biển, tăng thêm 5 đơn vị 4- 1, diện tích
tăng thêm là 580km
2
, tốc độ dịch chuyển đường bờ khoảng 20m/năm. So sánh với giai đoạn
bồi tụ từ 3000 – 2000 thì giai đoạn từ 1000 đến nay cho thấy tốc độ bồi tụ giảm khá nhanh.
Các tính toán cho thấy hai giai đoạn bồi tụ này tương ứng với hai giai đoạn mực nước biển hạ
và dâng. Trong kết quả nghiên cứu của Trần Nghi [12] mực nước biển từ 3000, 2500 năm đến
1000 năm hạ 4,5m, từ 1000 năm đến nay mực nước biển lại nâng dần từ -2m đến -1m (mốc
thời gian 500 năm cách nay) và tiếp tục dâng ở giai đoạn hiện đại (bảng 3.3).
2. Sự thay đổi về hình thái của các đơn vị địa hình
Từ 3000 năm đến nay, địa hình luôn thay đổi, địa hình sườn châu thổ chuyển thành
dạng địa hình tiền châu thổ nhờ vật liệu tích tụ từ đáy biển sườn bờ ngầm và địa hình tiền
châu thổ chuyển sang dạng địa hình đồng bằng châu thổ. Thay đổi của đơn vị đồng bằng châu
thổ là sự ghép nối các cồn cát chắn cửa sông thuộc đơn vị địa hình tiền châu thổ và đơn vị
đồng bằng châu thổ. Đồng bằng châu thổ có hai dạng địa hình chính là các cồn cát đan xen
các vùng trũng thấp. Các kết quả phân tích thành phần độ hạt cho thấy các cồn cát này có
chính là các cồn cát chắn cửa sông, thuộc nhóm địa hình tiền châu thổ. Các cồn cát chắn cửa
sông nổi cao dần, không còn chịu tác động của sông biển và các đơn vị địa hình vũng (lagun)
mạnh thuộc khu vực bãi tắm Ba Động xã
trường Long Hòa có chiều dài 9km. Vùng bồi
tụ rộng trung bình 120m, rộng nhất là 300m,
tương đương tốc độ bồi tụ 6,5m/năm và
16m/năm
Bờ biển biến động mạnh, vùng xói lở
dài từ 4 – 5,2km, chiều rộng vùng xói lở
trung bình 160m, lớn nhất là 140m, tương
đương tốc độ xói lở 9m/năm đến 23m/năm.
Giữa các đoạn xói lở là bồi tụ chiều dài từ 4,5
- 5,7km. Vùng bồi tụ có chiều rộng trung
bình 500m và rộng nhất là 1200m, tương
đương tốc độ bồi tụ 28m/năm và lớn nhất
66m/năm.
Giai đoạn 1983 -1990
Quá trình bồi tụ xói lở xen kẽ. Bờ
biển xã Trường Long Hòa tiếp tục được bồi
tụ nhẹ tại khu vực bãi tắm Ba Động. Vùng
bồi tụ dài 3.6km, rộng trung bình 70m, rộng
nhất là 140m, tương đương tốc độ 8m/năm và
lớn nhất là 15,5m/năm. Đoạn bờ thuộc xã Mỹ
Long huyện Cầu Ngang, Hiệp Thạnh huyện
Duyên Hải bồi tụ xói lở xen kẽ trên các đoạn
bờ dài từ 1,5 đến 3km.
Đoạn xói lở có chiều dài 2,8 – 3,4km.
Vùng xói có chiều rộng trung bình 90m, lớn
nhất là 220m, tương đương tốc độ xói
12,5m/năm, lớn nhất 31m/năm. Vùng bồi tụ
có chiều dài 3 – 3,7km. Vùng bồi có chiều
cửa sông về phía thượng nguồn:
Sông Cổ Chiên cả hai bên đều bị xói lở, nhưng xói lở ở bờ phải cửa Cung Hầu, tốc độ
xói lở ở phía cửa sông là 5,4m/năm.
Sông Hậu bên phía bờ trái, từ phía cửa sông vào sâu bên trong khoảng 10km tốc độ
bồi tụ gần 28m/năm. Đoạn nối tiếp lại đan xen bờ xói lở - bồi tụ (dài khoảng 7m) và đoạn bồi
tụ - xói lở dài 25km. Bờ phía bên phải sông Hậu đoạn ở cửa sông bồi tụ - xói lở với chiều dài
khoảng 5km, tốc độ 1,53m/năm.
3.2.3.3. Địa hình ngập nƣớc ven bờ
- Lòng dẫn trước cửa sông được phân thành nhiều đoạn dài ngắn, bồi tụ xói lở khác
nhau. Biến động lòng dẫn rất phức tạp, nhưng tổng chiều dài lòng dẫn qua các số liệu ở Cửa
Cung Hầu về cơ bản không thay đổi.
Delta Định An
- Trục bồi tụ bắt đầu từ cửa sông, bồi tụ dày 2,7m; đến km3, bồi tụ dày 6m; đến
km11, bồi tụ dày 4m; đến km15,5, bồi tụ dày 3m; đến km 26, bồi tụ dày 1-2m. Từ km26, trục
đổi hướng Nam đến km32, bồi tụ dày 1-3m với chiều rộng dải bồi tụ 3-4km. Ở đọan này dải
bồi tụ đã chắn ngang lòng dẫn buộc dòng chảy sông phía trên về phía thượng nguồn phải đổi
hướng Nam.
- Có một hố bào xói 1,5 x 5km, sâu 6m cách đỉnh delta 5km, nhưng trục bào xói chỉ
bắt đầu từ km 11,7, bào xói sâu 5m; đến km 20, bào xói sâu 5,5m; đến km 18,7, bào xói
sâu5,3m. Từ km 18,7, trục bào xói đổi hướng Nam, rộng 5-8km, bào xói sâu 1-5m, cắt phá
sườn phải của lòng dẫn, cắt qua cả đồng bằng rìa và một phần delta Tranh Đề.
Delta Cổ Chiên có 3 trục bồi tụ và 2 trục bào xói. Theo hướng từ Nam nên Bắc là các
trục:
- Trục bồi tụ 1 bắt đầu từ Cửa Cung Hầu, bồi tụ dày 7m.
16
- Trục bào xói 1 bắt đầu từ km 11 cách cửa sông, cách trục bồi tụ 1 khoảng 1,7 km về
phía Đông Bắc. Từ km 11, trục chuyển dần sang hướng Nam Tây Nam đến km 15,7 thì
chuyển hẳn hướng Nam đi tiếp đến km 24. Trên đoạn này rãnh bào xói cắt vào bề mặt đồng
bằng rìa delta trong dải rộng 1,5 - 3,5km, sâu 1 - 2,3m.
mang ra bị hòa tan trong nước và được sóng mang ra xa bờ.
Đặc biệt vào mùa mưa (mùa hè) sông cung cấp một lượng trầm tích cao gấp mười lần
17
so với trong mùa đông (mùa khô). Vào mùa hè sóng liên kết với gió mùa phía nam tới tây
nam yếu hơn, vào mùa đông gió mùa tăng cường sóng mạnh từ phía bắc tới đông bắc. Trầm
tích từ sông đem ra biển vào mùa hè lớn, nhưng do mưa nhiều, nước dâng nên được giữ lại
ven biển. Vào mùa đông gió mùa hướng Đông Bắc kết hợp với dòng chảy ven bờ, trầm tích
bồi tụ dọc bờ tạo ra đê cát dài song song với đường bờ. Khi có bão, nước dâng, sóng bão tác
động làm cho cát tích tụ lên cao hơn. Khi đó đê cát nhô lên cao thêm vài mét, không bị ngập
dưới mực nước biển và trở thành cồn cát chắn cửa sông (hay còn gọi là đảo).
Sự hình thành các vùng trũng thấp xen giữa các giồng cát
Phần diện tích ở giữa bờ biển và đê cát mới nổi lên trở thành vũng, không chịu tác
động của sóng biển (còn gọi là các lagun). Sau một thời gian vũng bị ngọt hóa, rừng ngập
mặn không còn phát triển, tạo ra một lớp sét than bùn. Đặc biệt khi nước dâng vào mùa mưa
bão, ngập lụt cục bộ, trầm tích sông dần lấp đầy các vụng biển. Kết quả là tạo ra một vùng
trũng thấp, bên trên là trầm tích cát bùn, bên dưới là trầm tích sét than bùn.
Khi biển thoái đồng bằng châu thổ mở rộng ra phía biển, đơn vị tiền châu thổ nổi
cao hơn so với mực nước biển trở thành phần phía ngoài của đồng bằng châu thổ, khu vực
địa hình sườn châu thổ được bồi tụ từ vật liệu do sông mang ra. Quá trình đó diễn ra theo
một chu kỳ, liên tiếp tạo ra các cồn cát (mà người dân gọi là các giồng cát) xen giữa các
vùng trũng thấp, kết quả là trong vòng khoảng 3000 năm trở lại đây đồng bằng châu thổ
Trà Vinh đã mở rộng ra phía biển gần 50km.
3.3.1.2. Yếu tố nhân sinh
Các hoạt động thâm canh, thủy lợi phục vụ phát triển nông nghiệp như nạo vét, đào
mới các kênh mương có ảnh hưởng lớn đến quá trình bồi tụ phù sa.
Vận tải thủy là phương tiện chính của vùng, ngày càng gia tăng, đặc biệt là tàu thuyền
ra vào khu vực cửa sông ảnh hưởng rất lớn sự ổn định của yếu tố thủy thạch động lực, quá
trình lắng đọng và bồi tụ và ở đây.
Các hoạt động quai đê lấn biển cũng ảnh hưởng ít nhiều đến quá trình phát triển tự
cát: từ Long Hữu qua Trà Cú, hành lang chạy qua thị trấn huyện về phía sông Hậu và hành
lang ven biển. Di giãn dân và tái định cư khu vực mới khai hoang phía trong đê biển và đê
sông.
3.3.2.7. Quy hoạch đê sông, đê biển thích ứng với biến đổi khí hậu và nƣớc biển dâng
Cần xây dựng hệ thống công trình phù hợp để phòng chống thiên tai, bảo vệ sản xuất,
cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp xây dựng tuyến đê làm đường giao thông
phục vụ nhu cầu đi lại cho dân cư.
19
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trầm tích Holocen muộn vùng ven biển châu thổ Trà Vinh bao gồm 16 tướng phân bố
từ trên đất liền thuộc nhóm tướng đồng bằng châu thổ đến độ sâu 25m nước thuộc tướng sườn
châu thổ. Phần đất liền phía trong từ 50km ra đến bờ biển luôn có sự thay đổi tướng luân
phiên giữa tướng cồn cát chắn cửa sông, tướng bùn đồng bằng châu thổ và tướng bùn đầm lầy
ven biển cổ thể hiện trầm tích biến động trong một thời kỳ biển thoái.
Sự dư thừa trầm trầm tích trong Holocen muộn đã khẳng định khối lượng trầm tích do
sông Mê Kông qua hai nhánh sông Cổ Chiên và Cung Hẩu cung cấp là luôn luôn lớn hơn biên
độ sụt lún kiến tạo trong mọi thời đại.
Sự thay đổi mực nước biển, các hoạt động địa chất và lượng phù sa do sông cung cấp
đã làm cho địa hình khu vực nghiên cứu biến động mạnh, địa hình đồng bằng châu thổ mở
rộng nhờ sự ghép nối của đơn vị tiền châu thổ, sự chuyển tiếp từ địa hình sườn châu thổ sang
địa hình tiền châu thổ. Sự biến động diễn ra tiếp nối liên tục trong giai đoạn Holocen muộn.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và sự dâng cao mực nước biển hiện đại cửa
sông và đường bờ hiện tại sẽ có xu thế biến động mạnh mẽ hơn. Tốc độ bồi tụ ra phía biển sẽ
chậm lại, ngày càng xuất hiện nhiều đoạn bờ xói lở mạnh đan xen với bồi tụ. Trong khi đó sụt
lún kiến tạo với tốc độ 2mm/năm vẫn đang diển ra sẽ là yêu tố nội sinh làm chậm dần tốc độ
lấn ra biển của đới bờ. Nếu tốc độ dâng cao mực nước biển hiện đại là 2mm thì đáy biển
(chưa tính đền bù trầm tích) sẽ sụt lún 4mm/năm. Tuy nhiên tốc độ đền bù trầm tích hiện tại
vẫn vượt quá 4mm/năm nên đường bờ vẫn được tiếp tục tiến ra biển với tốc độ 20m/năm. Sự
dư thừa trầm trầm tích trong Holocen muộn đã khẳng định khối lượng trầm tích do sông Mê
9. Doãn Đình Lâm (2003), Lịch sử tiến hóa trầm tích Holocen châu thổ sông Hồng, Luận án
tiến sỹ, 129tr.
10. Trần Nghi, Đinh Xuân Thành và nnk (2005), “Quy luật chuyển tướng lòng sông cổ của
trầm tích Neogen muộn – Đệ tứ trong mối quan hệ với hoạt động kiến tạo vùng đồng
bằng Nam Bộ”, Tạp chí khoa học công nghệ biển, số 3 (T5), 2005, tr.1 – 9.
11. Trần Nghi, Đinh Xuân Thành (2000), “Tiến hóa trầm tích và cổ địa lý giai đoạn Pliocen -
Đệ tứ lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam”, Tạp chí địa chất, loạt A, phụ trương 2000, tr. 19
– 29.
12. Trần Nghi, Đinh Xuân Thành và nnk (2004). “Nhìn lại sự thay đổi mực nước biển trong
đệ tứ trên cơ sở nghiên cứu trầm tích vùng ven biển và biển nông ven bờ từ Nha Trang
đến Bạc Liêu”, Tạp chí khoa học và công nghệ biển, số 3, tập 4, tr.1 – 9.
13. Đinh Văn Thuận, 2005. Các phức hệ sinh thái bào tử phấn hoa trong trầm tích Đệ tứ ở
đồng bằng Nam Bộ. Luận án Tiến sĩ Địa chất, 150 tr. 55
14. Phạm Huy Tiến (2005), Dự báo hiện tượng xói lở - bồi tụ ở biển, cửa sông và các giải
pháp phòng tránh, báo cáo tổng kết đề tài KC – 09 – 05.
15. Vũ Văn Vĩnh và nnk (1994), Báo cáo sơ bộ sụp lở đất dọc sông Tiền, sông Hậu, Lưu trữ
liên đoàn bản đồ địa chất miền Nam TP.HCM.
Tiếng Anh
16. Clark. J.R. (1992), Intergrated Management of coastal zones. Food and Agriculture
Organization of the United Nations, Rome. FAO Fisheries Technical Paper No. 327.
17. Clark. J.R. (1996), Coastal zone Management Handbook, Lewis Publisher/CRC Press,
694 p.
21
18. Coleman. J.M. and Roberts. H.H. (1989). “Geology and Management of deltaic
lowlands”, In: Van der Linden, W.J.M., S.A.P.L. Cloetingh, J.P.K. Kaasschieter, J.
Vandenberghe, W.J.E. van der Graaff & J.A.M. van der Gun (eds.): Coastal Lowlands:
Geology and Geotechnology. Proceedings KNGMG Symposium. Geologie en
Mijnbouw, 68, 1-24.
19. Nagothu Udaya Sekhar (2005), “Intergrated coastal zone management in Viet Nam: