địa tầng các trầm tích permi thượng - trias hạ, điều kiện thành tạo và khoáng sản liên quan ở khu vực bắc bộ - Pdf 13

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VIỆN NGHIÊN CỨU ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN BÁO CÁO
ĐỊA TẦNG CÁC TRẦM TÍCH PERMI THƯỢNG - TRIAS HẠ
ĐIỀU KIỆN THÀNH TẠO VÀ KHOÁNG SẢN CÓ LIÊN QUAN Ở
KHU VỰC BẮC BỘ 6615
26/10/2007


VIỆN NC ĐỊA CHẤT VÀ KHOÁNG SẢN

TS NGUYỄN XUÂN KHIỂN
CHỦ NHIỆM ĐỀ ÁN TS ĐẶNG TRẦN HUYÊN

Hà Nội, 10-2004 3
MỤC LỤC

Các văn bản pháp lý
6
Lời nói đầu
37

Phức hệ Cẩm Thủy 127
Loạt Yên Duyệt 178
Hệ tầng Tiên Quang 179
Hệ tầng Nà Có 188

4
Hệ tầng Hua Tất 190
Hệ tầng Pa Khôm 197
2.4. Vùng Cực Tây Bắc Bộ 204
Đá vôi Mường Nhé 204
Chương IV. Sinh địa tầng
208
1. Các sinh đới trong Permi thượng 208
2. Các sinh đới trong Trias hạ 209
3. Đối sánh địa tầng 218
Chương V. Ranh giới Permi - Trias
225
1. Nghiên cứu ranh giới Permi -Trias bằng phương pháp sinh địa tầng 227
2. Nghiên cứu ranh giới Permi -Trias bằng phương pháp MESC 235
Chương VI. Điều kiện thành tạo các trầm tích Permi thượng - Trias hạ
ở khu vực Bắc Bộ
239
1. Đặc điểm thành phần vật chất của các tổ hợp thạch kiến tạo Permi
thượng - Trias hạ Bắc Bộ Việt Nam
239
1.1. Đặc điểm tổ hợp thạch kiến tạo đồng tạo núi va chạm mảng PZ
muộn - MZ sớm Đông Bắc Bộ
239
1.2. Đặc điểm tổ hợp thạch kiến tạo rift PZ muộn - MZ sớm Tây Bắc
Bộ

Kết luận
321
Văn liệu tham khảo
322
Phụ lục
Các mặt cắt địa chất
Các bản ảnh cổ sinh

331
346
6
LỜI NÓI ĐẦU

Các trầm tích Permi thượng và Trias hạ ở Bắc Bộ phân bố khá rộng rãi tại
các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình, Thanh Hoá, Hà Tây (thuộc Tây
Bắc Bộ); Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh (thuộc Đông Bắc Bộ) với
tổng diện tích khoảng 3.000km
2
(hình 1). Các trầm tích này được hình thành trong
một giai đoạn địa chất không dài (khoảng 20 triệu năm) nhưng là một trong những
giai đoạn có nhiều biến động nhất trong lịch sử phát triển địa chất ở Bắc Bộ, nó giữ
vai trò định vị một bình đồ cấu trúc kiến tạo hoàn toàn mới cho khu vực. Vào cuối
Permi giữa - đầu Permi muộn, môi trường trầm đọng đồng nhất, yên tĩnh đã t
ừng
tồn tại trong suốt Carbon - Permi giữa đã chấm dứt với một gián đoạn trầm tích
mang tính khu vực được tiếp nối bằng hoạt động núi lửa mafic - siêu mafic mạnh
mẽ ở Tây Bắc Bộ. Sau hoạt động núi lửa, ở vùng Tây Bắc Bộ và muộn hơn, ở vùng

1
), điều kiện thành tạo và khoáng sản có liên quan ở khu vực Bắc Bộ" với mục tiêu
và nhiệm vụ:

7
1. Phân chia chi tiết các phân vị địa tầng, các trầm tích Permi thượng - Trias
hạ (P
3
-T
1
) trong phạm vi khu vực Bắc Bộ.
2. Nghiên cứu, xác lập các đới cổ sinh có mặt trong các trầm tích Permi
thượng - Trias hạ (P
3
-T
1
).
3. Xác định điều kiện và môi trường thành tạo của các trầm tích Permi
thượng - Trias hạ và các tiền đề, dấu hiệu khoáng sản liên quan.
Đề tài chính thức được thi công từ 01/2002 với sự phân công như sau:
Nhóm nghiên cứu địa tầng Permi thượng gồm: Đoàn Nhật Trưởng (chịu
trách nhiệm chính), Trần Hữu Dần, Nguyễn Đức Phong.
Nhóm nghiên cứu địa tầng Trias hạ gồm: Đặng Trần Huyên (chịu trách
nhiệm chính), Nguyễn
Đình Hữu, Nguyễn Hữu Hùng, Trần Minh Khang.
Nhóm nghiên cứu các đá núi lửa: Phạm Đức Lương (chịu trách nhiệm
chính), Nguyễn Thế Vấn.
Nhóm nghiên cứu điều kiện thành tạo các đá trầm tích: Nguyễn Linh Ngọc
(chịu trách nhiệm chính), Nguyễn Xuân Quang, Nguyễn Đức Chính, Đặng Mỹ
Cung.

Trong quá trình làm báo cáo kết thúc, chúng tôi nhận được sự cộng tác, góp
ý kiến của các cán bộ trong và ngoài Viện, đặc biệt là của GS TSKH Đặng Vũ
Khúc, GS TS Phan Cự Tiến (Tổng hội Địa chất Việt Nam), TS Nguyễn Xuân Khiển
(Viện Nghiên cứu Địa chấ
t và Khoáng sản), TS Nguyễn Đức Thắng (Bộ Tài nguyên
và Môi trường), PGS TS Tạ Hòa Phương (Đại học Quốc gia Hà Nội), GS TSKH
Nguyễn Thị Kim Thoa (Viện Vật lý Địa cầu - Viện Khoa học Công nghệ Việt
Nam), PGS TS Bùi Minh Tâm (Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản).
Tập thể tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành.
Cho dù đã hết sức nỗ lực nhằm hoàn thành tốt những mục tiêu của đề tài đặt
ra nhưng ch
ắc chắn báo cáo không tránh khỏi các sai sót và tồn tại. Chúng tôi mong
nhận được sự đóng góp ý kiến rộng rãi của các nhà khoa học để báo cáo được hoàn
thiện tốt nhất. class="bi x34 yf4 w2 hc"
class="bi x34 yf4 w4 hd"
class="bi x34 yf4 w6 hc"

12
CHƯƠNG I
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỊA TẦNG, ĐIỀU KIỆN THÀNH TẠO VÀ
KHOÁNG SẢN CÓ LIÊN QUAN CỦA CÁC TRẦM TÍCH
PERMI THƯỢNG - TRIAS HẠ Ở KHU VỰC BẮC BỘ

Lịch sử nghiên cứu địa tầng, điều kiện thành tạo và các khoáng sản liên quan
của các trầm tích Permi thượng - Trias hạ ở khu vực Bắc Bộ có thể chia thành hai
giai đoạn chủ yếu: 1. Trước năm 1954, là thời kỳ do các nhà đị
a chất Pháp ở Sở Địa

với việc phát hiện và xác định vị trí địa tầng của giống fusulinid đặ
c trưng cho
Permi thượng Palaeofusulina. Năm 1913, Deprat phát hiện ra một giống fusulinid
mới trong đá vôi đen ở Lạng Nắc. Do đá vôi này giống với đá vôi đen Núi Voi ở
Hải Phòng chứa hoá thạch Dinanti (Vise) nên Deprat cho rằng giống mới này cũng

13
có tuổi Dinanti và là dạng tổ tiên. Vì vậy, ông đặt tên là Palaeofusulina. Colani
(1924) cho rằng cấu tạo của Palaeofusulina đã tiến hoá không thể là dạng tổ tiên,
tuy nhiên bà chỉ xếp giống này vào khoảng địa tầng ứng với P
1
hiện nay. Patte
(1927) dựa vào quan sát ở thực địa thấy rằng Palaeofusulina nằm lân cận với đá vôi
chứa Neoschwagerina, đã kết luận rằng Palaeofusulina là một dạng của Permi
thượng. Kết luận đúng đắn này của Patte không được Saurin (1956) thừa nhận.
Ngày nay, những tiến bộ trong nghiên cứu cổ sinh, địa tầng đã xác nhận
Palaeofusulina có vị trí địa tầng cao nhất trong Permi thượng.
Nhìn chung, trong giai đoạ
n đầu, những kết quả nghiên cứu của các tác giả
Pháp về Permi thượng chỉ mang tính chất phát hiện và tập trung ở khu vực Đông
Bắc Bộ. Các mô tả về các thành tạo không có được sự hoàn chỉnh của một phân vị
địa tầng. Một hạn chế khác là do không nghiên cứu địa tầng theo các mặt cắt cụ thể
nên trật tự địa tầng có khi bị lẫn lộn.
1.1.2. Các trầm tích Trias hạ

Ở Đông Bắc Bộ (kể cả vùng Duyên hải Bắc Bộ). Các nghiên cứu địa tầng
các trầm tích Trias hạ được tiến hành rất sớm, từ đầu thế kỷ XX.
Các phát hiện hoá thạch Mollusca Trias đầu tiên của Counillon và Mansuy ở
vùng Lạng Sơn đã được Mansuy (1908) nghiên cứu và mô tả. Ông đã xác nhận sự
có mặt của đá phiến chứa các hoá thạch Trias sớm phát hiện được ở vùng Bình Gia

và xếp vào Gotlandi cũng là thành phần của "Đá phiến Sông Hiến".
Theo Bourret, "Đá phiến Sông Hiến" có lẽ thuộc Trias thượng và Ret (trong
đó phần dăm kết ở trên được xem có tuổi Ret).
Việc xác lập "Đá phiến Sông Hiến" có ý nghĩa quan trọng như việc phân
định một phân vị
địa tầng Trias của khu vực nghiên cứu. Tuy rằng chưa có hoá
thạch chứng minh cho tuổi của phân vị, song nó đã phân biệt với các thể địa chất
nằm trên và dưới nó. Hiện nay, "đá phiến Sông Hiến" của Bourret được xác nhận
như là một phân vị địa tầng, có tuổi Trias sớm (Đặng Trần Huyên, 1992; Vũ Khúc,
Đặng Trần Huyên, 1995; Đặng Trần Huyên, 1998, 2000).
Năm 1927, Patte đã công bố kết quả nghiên cứu địa ch
ất ở Đông Bắc Bộ.
Ông đã xác định bậc Werfen với sự tồn tại của mức này về mặt địa tầng bằng sự
liên tục giữa Permi và Trias.
Như vậy, trong giai đoạn nghiên cứu đầu tiên của người Pháp, các trầm tích
Trias hạ biển ở Đông Bắc Bộ đã được phát hiện và mô tả. Tuy vậy, chúng chưa
được phân chia thành các phân vị địa tầng khu vực, trừ
"Đá phiến Sông Hiến". Các
hoá thạch sưu tập được chủ yếu là Mollusca và một ít Ammonoidea ở Lạng Sơn và
các vùng lân cận đã được Mansuy (1908, 1919) và Patte (1926) mô tả. Kết quả của
các nghiên cứu kể trên đã được Saurin (1956) tóm tắt trong "Từ điển địa tầng Đông
Dương”.
Ở Tây Bắc Bộ. Năm 1915, Deprat lần đầu tiên đã phân chia các trầm tích
Trias ở Tây Bắc Bộ, trong đó các trầm tích "cát kết s
ặc sỡ Chi Nê" ở vùng Hoà Bình
- Phủ Nho Quan và "đá phiến chứa vôi có Danubites hymalayacus" ở trung lưu
Sông Đà được ghi nhận có tuổi Werfen (T
1
). Các tầng cát kết ở làng Mương, xóm
Ni chứa Hoernesia socialis đáng lẽ xếp vào Werfen thì ông lại xếp vào Anisi.

nhận ở đới Thanh Hoá, bao gồm các thành tạo lục nguyên, đôi khi chứa than (bảng
I.1).
Các trầm tích Permi thượng nêu trên được xác nhận nằm trên mặt bào mòn
của đá vôi Permi trung.
Các tác giả bản đồ tỷ lệ 1/500.000 cũng đã xác lập ba phức hệ Foraminifera
đặc trưng cho Permi muộn, trong đó phức hệ thứ nhất và phức hệ thứ hai dường nh
ư
ngang mức địa tầng: 1/ Pseudofusulina, Parafusulina, Jangchienia; 2/ Reichelina,
Nankinella và nhiều đại biểu Lagenida, Miliolida; 3/ Palaeofusulina, Lagenida và
Miliolida.
Điểm hạn chế của các tác giả kể trên và của nhiều tác giả bản đồ tỷ lệ
1/200.000 là họ vẫn dùng những tên địa tầng ở Tây Âu, Liên Xô để gọi những trầm
tích tương ứng ở Việt Nam. Dưới một tên gọi trên bản đồ là nhiều loại trầm tích
khác nhau được thể
hiện. Điều này không phản ảnh được lịch sử phát triển địa chất
của khu vực.
Nhằm phục vụ cho công tác tìm kiếm bauxit ở Đông Bắc Bộ, Nguyễn Văn
Liêm (1966) đã dẫn ra trật tự địa tầng sau cho trầm tích Permi thượng:
- Tầng có Neoschwagerina: đá vôi xám, xám sáng.
- Tầng chứa bauxit Đồng Đăng: đá silic, bauxit, aleurolit, silic vỡ vụn chứa
Nankinella, Staffella và Reichelina.
- Tầng có Palaeofusulina: đá vôi v
ụn, đá vôi đen lẫn sét.
Những năm tiếp theo, qua công tác đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ 1/200.000, các
trầm tích Permi thượng được phát hiện rộng rãi. Nhiều phân vị địa tầng đã được xác
lập cho từng vùng nghiên cứu.
Ở Đông Bắc Bộ có các phân vị địa tầng sau đây được xác lập:
- Điệp Hạ Long (P
2
-T

đá cát kết dạng quarzit, đá phiến silic và đá vôi. Nguyễn Văn Liêm cũng đã nêu sự
tồn tại ở tây thị trấn Đồng Đăng - Lạng Sơn và ở Lạng Nắc của “tầng đá vôi cao
nh
ất của Paleozoi thượng ở Miền Bắc Việt Nam chứa Colaniella, Reichelina và
Palaeofusulina “. Ông xem nó như biến tướng ngang với hệ tầng Đồng Đăng”
(trang 138 và trong sơ đồ tướng - địa tầng, trang 161). Điều này cần được đầu tư
xem xét. Sự phân chia các trầm tích Permi thượng ở Đông Bắc Bộ thành hai hệ tầng
Đồng Đăng và Bãi Cháy như đã nêu ở trên không được các tác giả của Địa chất Việt
Nam (
Tập 1 - Địa tầng) tán thành. Theo các tác giả này, hệ tầng hệ tầng Bãi Cháy là
đồng nghĩa của hệ tầng Đồng Đăng (bảng I.2).
class="bi x34 yf4 w8 h10"

19
Ở Tây Bắc Bộ đến năm 1976, các hệ tầng sau đã được xác lập: - Hệ tầng Núi
Ông (P
2
no): Nguyễn Xuân Bao (1969); - Tầng Chiềng Khừa (P
2
-T
1
ck): Nguyễn
Xuân Bao (1969); - Hệ tầng Cẩm Thủy (P
2
ct), Hệ tầng Kim Bôi (P
2
-T
1
kb), Điệp
Yên Duyệt (P

Thống Trias dưới
Cát kết, đá phiến sét, đá
vôi, phun trào bazơ,
Điệp Tân Lạc
Cát bột kết, cuội sỏi kết,
đá phiến sét, đá phiến vôi.
Permi trên
Điệp Yên Duyệt
- Đá vôi, đá vôi dạng dăm
- Đá phiến sét, đá phiến
silic, đá phiến than, vỉa
than, sialit sắt.
Hệ tầng Cẩm Thuỷ
Phun trào bazơ, tuf.
Hệ tầng Bản Có
Đá phiến sét, đá phiến
silic, đá vôi dăm kết.
Hệ tầng Viên Nam
Phun trào bazơ,tuf xen
cát bột kết, có nơi có đá
phiến than, thấu kính đá
vôi.

Trong các phân vị vừa nêu, hệ tầng Bản Có không được sử dụng trong các tờ
bản đồ được đo vẽ sau đó. Nó được xem là đồng nghĩa của hệ tầng Yên Duyệt tuy
rằng trong thành phần của hệ tầng, đá carbonat là chủ yếu. Vấn đề này, theo Quy
phạm Địa tầng mới, cần được xem lại.
Công trình "Những vấn đề địa chất Tây Bắc" đã đạt đượ
c những thành công
quan trọng, tuy nhiên vẫn còn những tồn tại nhất định. Vì nhiều phân vị địa tầng

Hiến chưa được xác định chính xác.
Trong quá trình lập Bản đồ địa chất tỷ lệ 1/200.000 cũng như 1/50.000 sau
này trong phạm vi khu vự
c nghiên cứu, một số phân vị địa tầng Trias mới đã được
xác lập, hướng tới sự hoàn thiện dần sơ đồ địa tầng của khu vực Đông Bắc Bộ.
Phạm Đình Long và đồng nghiệp (1968) khi lập Bản đồ địa chất tờ Tuyên
Quang đã xác lập tầng Cúc Đường (T
3
ccđ). Nhưng thực ra tầng Cúc Đường thực
chất là thành phần của hệ tầng Sông Hiến.
Trong quá trình lập Bản đồ địa chất tờ Bảo Lạc, Tạ Thành Trung (1972) đã
xác lập ở các vùng Phó Bảng và Mèo Vạc hệ tầng Hồng Ngài (P
2
-T
1
hn) và hệ tầng
Luông Le (T
1-2
ll). Đó là thành tạo gồm bauxit, đá phiến silic, đá vôi, đá phiến vôi và
đá vôi dolomit. Theo ông, hai hệ tầng trên phân biệt được là do ở phần trên của mặt
cắt Luông Le xuất hiện các lớp đá vôi phân lớp dày hơn và sáng màu hơn. Các hóa
thạch sưu tập được ở phần cao nhất của hệ tầng Đồng Đăng gồm Fusulinida tuổi
Permi muộn và chuyển lên các lớp chứa hóa thạch Mollusca Claraia tuổi Trias sớm.
Việ
c mô tả gộp các trầm tích chứa Claraia vào cùng một hệ tầng với các lớp chứa
bauxit Permi thượng của vùng không được các nhà nghiên cứu sau đó chấp nhận,
nhất là khi các trầm tích chứa bauxit đã được mô tả là hệ tầng Đồng Đăng (Nguyễn
Văn Liêm, 1966). Do đó các lớp chứa Claraia sau này được tách ra khỏi Permi
thượng và được xếp vào hệ tầng Hồng Ngài (Hoàng Xuân Tình và nnk., 1978). Hệ
tầng Luông Le bị phủ nhậ

tạo carbonat xen lục nguyên chứa Ammonoidea Olenec như Columbites, Tirolites,
Preflorianites, v.v Những hóa thạch này do Nguyễn Đình Hữu (1977) phát hiện
lần đầu tiên. Cũng trong công trình này các tác giả đã xác nhận sự phổ biến của
thành tạo phun trào - lục nguyên Anisi ở vùng Lạng Sơn song lại xếp nó vào điệp
Sông Hiến (T
2
ash). Tương tự như vậy, thành tạo phun trào - lục nguyên nằm dưới
hệ tầng Nà Khuất trên tờ Bản đồ địa chất Móng Cái - Hòn Gai tỷ lệ 1/200.000 cũng
được xếp vào điệp Sông Hiến (T
1-2
sh) (Nguyễn Công Lượng và nnk., 1980). Việc
phân chia địa tầng này về thực chất là coi hai bồn An Châu và Sông Hiến là một,
với một cột địa tầng duy nhất, do đó đã vẽ hệ tầng Sông Hiến xuống tận vùng Bình
Liêu - Tiên Yên, cũng như ở các vùng Nà Sầm, Đèo Khách.
Năm 1980, Vũ Khúc đã xác lập điệp Bắc Thủy (T
1
obt) với mặt cắt chuẩn
được mô tả ở sát ga Bắc Thủy, chứa phong phú các hóa thạch Ammonoidea Olenec
và nằm chỉnh hợp trên điệp Lạng Sơn. Một công trình tổng hợp lớn - Địa chất Việt
Nam, T.1 - Địa tầng (1989) đã sử dụng ở Đông Bắc Bộ và Bắc Bắc Bộ trong Trias
hạ các phân vị địa tầng: điệp Lạng Sơn (T
1
ls), điệp Sông Hiến (T
1-2
sh) (bảng I.2). Ở
đây, một phần các trầm tích hệ tầng Sông Hiến ở Cháng Lẻ (Yên Minh, Hà Giang),
các trầm tích Olenec của hệ tầng Bắc Thủy, cũng như hệ tầng Hồng Ngài (T
1
hn)
đều bị gộp vào "điệp Lạng Sơn" (T

gồm cát kết, bột kết, đá phiến sét, phần trên có kẹp ít lớp mỏng hoặc thấu kính đá
vôi, chứa hai phức hệ hoá thạch Mollusca: phức hệ tuổi Olenec gồm Claraia (?) sp.,
Eumorphotis veretiana, E. spinicosta, Entolium discites microtis; phức hệ tuổi
Olenec - Anisi gồm: Gervillia exporrecta, Anodontophora fassaensis, Neoschizodus
ovatus. Hệ tầng phủ không ch
ỉnh hợp lên các đá vôi Paleozoi thượng và chuyển tiếp
lên các trầm tích carbonat của hệ tầng Đồng Giao (T
2
lđg). Các tài liệu nghiên cứu
về sau đã chứng tỏ, các hệ tầng Nậm Sập, Tây Chang, Sông Đà không tồn tại và
khối lượng của chúng được xếp vào những phân vị có tuổi khác nhau. Hệ tầng Cò
Nòi vẫn có hiệu lực nhưng được bổ sung nhiều tài liệu mới làm sáng tỏ thêm về
khối lượng, ranh giới và tuổi của nó. Phần dưới của hệ Trias không phân chia ở đới
Thanh Hoá được x
ếp vào phần dưới của hệ tầng Cò Nòi hoặc hệ tầng Bái Đằng.
Sau năm 1963, hàng loạt các tờ bản đồ tỷ lệ 1/200.000 và 1/50.000 được tiến
hành đo vẽ ở nhiều vùng của Tây Bắc Bộ đã thu được một khối lượng lớn các tài
liệu mới về địa tầng và cổ sinh về các trầm tích Trias hạ. Nhiều phân vị địa tầng
Trias hạ được xác lập mớ
i.
Năm 1964, Nguyễn Trí Vát đã xác lập ở vùng Rịa và Vụ Bản điệp Làng Bai
(T
2
alb). Theo ông, điệp gồm sét vôi, ít cát bột kết, cát bột chứa tuf, chứa phức hệ
hoá thạch gồm: Velopecten albertii, Neoschizodus cf. laevigatus, Hoernesia cf.
socialis, Gervillia mytiloides và nằm chỉnh hợp trên điệp Cò Nòi tuổi Olenec (?).
Các hoá thạch trên thực chất có tuổi Olenec và điệp Làng Bai chỉ là phần trên của
hệ tầng Cò Nòi tuổi Trias sớm.
Khi đo vẽ tờ Vạn Yên tỷ lệ 1/200.000, Nguyễn Xuân Bao (1969) đã xác lập
điệp Chiềng Đ

23
Năm 1980, với quan niệm khu vực Thanh Hoá thuộc đơn vị cấu trúc Bắc
Trung Bộ, Vũ Khúc đã xác lập điệp Bái Đằng (T
1
bđ) trên cơ sở mặt cắt ở Chòm
Móng - Bái Đằng (Thanh Hoá), điệp gồm các đá phiến sét, bột kết và vật liệu núi
lửa, chứa phức hệ Claraia - Lytophiceras.
Trong những năm 1973-1977, Phan Cự Tiến đã nghiên cứu khoảng địa tầng
Permi thượng - Trias hạ ở Tây Bắc Bắc Bộ. Tổng hợp các kết quả nghiên cứu của
ông có thể thấy được trong phần Chú giải
địa tầng cho loạt bản đồ địa chất Tây Bắc
(1977) và Trầm tích Permi muộn - Trias sớm ở tây Bắc Việt Nam (1977). Trong đó
ông đã trình bày sơ đồ địa tầng Permi thượng - Trias hạ với nhiều sửa đổi mới cho
vùng này (bảng I.3).
Công trình của tác giả Phan Cự Tiến và đồng nghiệp đã đạt được thành quả
quan trọng trong nghiên cứu địa tầng, tuy nhiên vẫn còn những vấn đề cần ti
ếp tục
nghiên cứu: "điệp" Tân Lạc (T
1
tl) được Phan Cự Tiến và đồng nghiệp xác lập để chỉ
các trầm tích cuội tuf, cát bột - đá phiến sét, đá phiến vôi, đá vôi phân bố ở vùng
Hoà Bình - Kim Bôi kéo dài lên Nậm Muội, Tam Đường, chứa phức hệ hoá thạch
Pelecypoda tuổi Trias sớm (Olenec): Costatoria - Neoschizodus - Hoernesia -
Eumorphotis. Điệp có quan hệ chuyển tiếp và diện lộ gắn chặt với các đá phun trào
bazơ của hệ tầng Viên Nam nằm dưới. Trong nhiều mặt c
ắt, điệp Tân Lạc thường
được bắt đầu bằng các lớp cuội sạn kết tuf, có nơi cuội là đá phun trào bazơ được
mài tròn khá tốt. Có tác giả coi các lớp cuội này là cuội cơ sở của là hệ tầng Tân
Lạc phủ không chỉnh hợp trên tầng Viên Nam; có tác giả lại coi là cuội gian tầng và
quan hệ giữa hai hệ tầng là liên tục. Vũ Khúc (1988, 1995) đã xác định hệ tầng Tân

(1988) và Ngô Quang Toàn (1989) đã đưa ra một trật tự địa tầ
ng khác với trật tự đã
được Phan Cự Tiến và đồng nghiệp (1977) xác lập: hệ tầng Yên Duyệt (P
2
yd) - hệ
tầng Viên Nam (T
1
ivn) - hệ tầng Cò Nòi (T
1
cn).
Từ các trường hợp nêu trên, nảy sinh hai vấn đề cần được xem xét: sự khác
biệt giữa hệ tầng Cẩm Thuỷ và hệ tầng Viên Nam và tính hiệu lực của hệ tầng Tân
Lạc.
Trần Đăng Tuyết và đồng nghiệp (1994) khi lập Bản đồ địa chất tờ Mường
Tè đã xác lập hệ tầng Bô Lếch (P
2
-T
1
bl) với tập dưới chứa hoá thạch Permi muộn,
còn tập trên chứa hoá thạch Trias. Tuy nhiên, các mặt cắt không được mô tả rõ ràng
và thuyết phục. Theo những thông tin mới đây của Lê Hùng và đồng nghiệp trong
quá trình đo vẽ nhóm tờ Mường Tè tỷ lệ 1/50.000 (1998-2001), hệ tầng Bô Lếch
trong phạm vi nhóm tờ bị xoá bỏ và các trầm tích này được xếp vào Trias thượng.
Năm 1994, trên cơ sở phân tích chi tiết hoá silicat và hóa vi lượng, Lê Văn
Đệ, Nguyễn Đình H
ợp đã tách phần dưới mặt cắt hệ tầng Viên Nam ra để lập hệ
tầng Nậm Muội (P
2
-T
1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status