Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com blog giáo dục, công nghệ
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU PHÉP THẾ VÀ
PHÉP THẾ LÂM THỜI TRONG VĂN BẢN NGHỆ THUẬT
(DỰA TRÊN CỨ LIỆU CỦA NAM CAO VÀ NGUYỄN HUY THIỆP)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Hà Nội - 2012
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------------------------------NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU PHÉP THẾ VÀ
PHÉP THẾ LÂM THỜI TRONG VĂN BẢN NGHỆ THUẬT
(DỰA TRÊN CỨ LIỆU CỦA NAM CAO VÀ NGUYỄN HUY THIỆP)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ học
Mã số: 60 22 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Văn Tình
Hà Nội – 2012
11
Phần nội dung
13
Chương I: Những cơ sở lí luận về phép thế
13
1.1. Quan điểm của các học giả nước ngoài về phép thế
13
1.2. Quan điểm, kết quả nghiên cứu về phép thế trong giới Việt ngữ học
14
1.3. Phép thế như một phương pháp liên kết văn bản nghệ thuật
17
1.4. Tiểu kết
25
3
2.3.1 . Ở tác phẩm của Nam Cao
48
2.3.2. Ở tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp
49
2.4. Một vài nhận xét về thống kê định lượng
50
2.4.1. Nhận xét về số liệu thống kê độ dài thế tố
50
2.4.2. Nhận xét về số liệu thống kê thế tố là một từ
51
2.4.3. Nhận xét về số liệu thống kê thế tố là một ngữ
53
2.4.4. Nhận xét về số liệu thống kê thế tố là một câu
53
2.5. Tiểu kết
60
2.1. Một vài nhận xét về xu hướng và cách thức sử dụng
62
2.2. Khả năng kết hợp của phép thế lâm thời với các phép liên kết khác trong
63
tác phẩm văn học
2.3. Giá trị văn học trong một số thế tố điển hình
64
3. Tiểu kết
80
Kết luận
82
Tài liệu tham khảo
84
Phụ lục
thống ngôn ngữ
mà câu được xem là đơn vị nhỏ nhất của ngữ pháp văn bản. Câu trong văn bản
không thể xuất hiện một cách rời rạc mà chúng phải liên kết lại với nhau theo
những quy tắc nhất định. Như vậy tính liên kết là đặc trưng quan trọng nhất của
văn bản. “Mất tính liên kết văn bản chỉ còn là tập hợp hỗn độn các câu” Trần
Ngọc Thêm [44, 1999].
Theo Halliday và Hasan trong Liên kết tiếng Anh (1976; 6), các phương
thức liên kết ngữ pháp được chia thành 4 kiểu: quy chiếu, tỉnh lược, thế và nối.
Sự liên kết trong văn bản tồn tại dưới hai mức độ: liên kết nội dung và liên kết
hình thức. Liên kết về mặt nội dung bao gồm liên kết chủ đề là liên kết logic.
Liên kết về mặt hình thức là dùng các phương tiện ngôn ngữ như ngữ pháp, từ
vựng… để biểu đạt liên kết nội dung. Chính nhờ các phương tiện ngôn ngữ ấy,
các các câu rời rạc liên kết lại với nhau tạo nên một văn bản hoàn chỉnh. Hệ
thống các phương tiện ngôn ngữ đó được gọi là hệ thống các phương tiện liên
kết câu.
Việc đi sâu vào tìm hiểu sự hoạt động của một số phương tiện liên kết
trong văn bản tiếng Việt là một việc làm cần thiết cho nghiên cứu ngữ pháp văn
bản. Ngôn ngữ học văn bản nghiên cứu cách thức bảo trì sự liên kết, tính mạch
lạc của văn bản, những cách chuyển đổi sự quy chiếu của người hay vật tức là
những từ ngữ hoặc giống nhau hoặc khác nhau cùng chỉ về một người hay một
sự vật xác định trong đó có sử dụng phương pháp thay thế (gọi tắt là phép thế).
Theo Trần Ngọc Thêm, hệ thống các phương tiện liên kết câu bao gồm liên
kết từ vựng - ngữ nghĩa và liên kết ngữ pháp. Nhóm từ vựng - ngữ nghĩa lại bao
gồm các phép liên kết: phép lặp từ vựng, phép đối, phép thế và phép liên tưởng.
Còn nhóm phương tiện liên kết ngữ pháp bao gồm: phép nối, phép tỉnh lược, phép
lặp ngữ pháp và phép liên kết tuyến tính. Trần Ngọc Thêm [44, 1999]
Phép thế xuất hiện trong hầu hết các thể loại văn bản. Các tác phẩm văn học
là loại văn bản nghệ thuật. Trong văn bản loại này đã có sự gia công, sắp xếp, trau
một dạng lặp (tác giả nói theo chủ quan của mình) và thay thế là một sự lặp lại
không hoàn toàn. Đây là một thủ pháp nghệ thuật được thực hiện qua văn bản để
làm rõ ý đồ của tác giả. Trần Ngọc Thêm [44, 1999].
Các tác phẩm văn học Việt Nam rất phong phú và đa dạng và có rất nhiều
điều thú vị. Luận văn này của chúng tôi không thể nghiên cứu được hết mọi vấn
đề. Vì vậy, chúng tôi chỉ đặt vấn đề tìm hiểu phép thế như một phương tiện liên
kết trong văn bản và xem xét một số cách biểu hiện của chúng.
Xuất phát từ lí do đó mà chúng tôi chọn văn bản văn học để làm đối tượng
khảo sát cho luận văn của mình với tên gọi Buớc đầu tìm hiểu phép thế và
phép thế lâm thời trong văn bản nghệ thuật (qua khảo sát các tác phẩm của
Nam Cao và Nguyễn Huy Thiệp).
Có thể nói rằng trong các thể loại văn bản thì thể loại văn học là nơi xuất
hiện nhiều hiện tượng thuần túy ngôn ngữ nhất do vậy cũng là nơi hiện tượng
thay thế xuất hiện nhiều nhất. Trong các thể loại văn bản văn học thường xuyên
được sử dụng phép thế để giúp người đọc làm quen nhận biết các cấu trúc ngôn
ngữ. Hướng nghiên cứu này hoàn toàn khác với những nghiên cứu trước đây.
Các nghiên cứu trước đây chưa bao giờ nghiên cứu về hiện tượng thế lâm thời
và đặc biệt là chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu về hai nhà văn Nam Cao
và nguyễn Huy Thiệp. Cũng từ lí do đó mà chúng tôi chọn văn bản văn học để
làm đối tượng khảo sát cho luận văn của mình.
2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là nghiên cứu về phép thế lâm thời.
Chúng tôi không nghiên cứu về phép thế đại từ. Phép thế lâm thời phản ánh
dụng ý của nhà văn nhằm làm nổi bật lên tính cách, phẩm chất của nhân vật.
Tránh lặp lại những từ không cần thiết dẫn đến sự nhàm chán của người đọc.
Trong các tác phẩm văn học của Việt Nam có rất nhiều các tác giả đã sử
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1.Ứng dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, nhưng phương pháp chủ yếu của
chúng tôi trong luận văn này là phương pháp phân tích liên kết văn bản và
phương pháp phân tích diễn ngôn. Ngoài ra luận văn còn sử dụng các thủ pháp
so sánh, đối chiếu văn bản. Chúng tôi lần lượt khảo sát từng tác phẩm của từng
tác giả, ghi ra phiếu các trường hợp của phép thế lâm thời xuất hiện ở các câu
trong văn bản. Sau đó thống kê, phân loại và phân tích chúng. Rồi so sánh cách
sử dụng phép thế này của các tác giả. Và cuối cùng đưa ra một bảng số liệu
thống kê các trường hợp thu được.
4.2.Chúng tôi đã xử lí các phiếu tư liệu rồi sau đó phân chia theo các loại biểu hiện
của phép thế lâm thời. Đầu tiên là phương pháp thống kê. Từ một tác phẩm văn
học chúng tôi thống kê những phát ngôn có sử dụng phép thế lâm thời. Sau đó
xem xét và phân loại chúng theo từng tiểu loại khác nhau và xếp các tiểu loại
giống nhau vào thành nhóm. Sau đó xem xét mối tương quan giữa các nhóm và
đưa ra một bảng phân loại. Bước tiếp theo là chúng tôi tiếp tục làm việc và đưa
ra sự so sánh cách sử dụng phương thức liên kết mà ở đây là phép thế lâm thời
của 2 tác giả này và xem xét xem giữa các tác giả này có sự tương đồng hay
khác biệt.
5. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
- Về mặt lí luận:
+ Luận án góp phần làm sáng tỏ thêm khái niệm về tính liên kết trong văn
bản mà cụ thể ở đây là phép thế lâm thời.
+ Khẳng định vai trò quan trọng của việc nghiên cứu phương thức thế cũng
như các phương tiện liên kết trong văn bản.
+ Kết quả nghiên cứu phép thế và đặc biệt là phép thế lâm thời đóng góp
Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com blog giáo dục, công nghệ
thêm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu các vấn đề thuộc về văn bản, đặc biệt
tác phẩm văn học
+ Giá trị văn học của một số thế tố điển hình
Bên cạnh đó chúng tôi cũng đính kèm toàn bộ phần phụ lục có chứa các
phépthế lâm thời để người đọc tiện theo dõi.
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ PHÉP THẾ
1.1. Quan điểm của các học giả nước ngoài về phép thế
J. R. Frith (1951) là người đầu tiên đưa ra vấn đề nghiên cứu giao tiếp ở cấp
độ trên câu. Z. Harris (1952) là người kế tiếp ủng hộ quan điểm này và khẳng định
phải quan tâm nghiên cứu đến đối tượng diễn ngôn (văn bản). Tuy nhiên, với sự
ảnh hưởng của các nhà ngữ học nổi tiếng đương thời như Bloomfield và N.
Chomsky nên vấn đề này đã bị gác tạm sang một bên trong khoảng thời gian 14
năm. Đến 1966. H Weinrich đã xới lại vấn đề khi phát biểu: “Bình thường chúng
ta nói không phải bằng các từ rời rạc mà bằng các câu và văn bản, và lời nói của
chúng ta xây dựng trên tình huống”. Ông cho rằng cấu trúc luận ngôn ngữ học đã
hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, và bây giờ đã đến giai đoạn phải chuyển
sang một hướng nghiên cứu khác mới mẻ hơn.
R. Quirk cùng nhóm tác giả (1972) đã bắt đầu nghiên cứu về ngữ pháp văn
bản và có những nhận xét về phép thế như một phương tiện hữu hiệu của việc liên
kết: “Phép thế là một phương tiện để viết ngắn lại và để tránh lặp lại. Ở phạm vi
trên câu, phép thế dường như không bắt buộc và phục vụ cho mục đích tu từ.
Trong phạm vi câu, việc sử dụng phép thế đôi khi mang tính bắt buộc. Hầu hết các
từ thay thế sử dụng ở phạm vi câu đều có thể sử dụng liên câu.
Halliday và Hasan (1976) cũng đưa ra những nhận xét tương đồng về phép
thế trong văn bản: Phép thế là một quan hệ ở cấp độ văn bản trên bình diện từ
vựng - ngữ pháp. Một từ thay thế có thể xem như là một phương tiện thế chỗ
nhằm tránh lặp lại một yếu tố nào đó.
O.I. Moskalskaja (1981) cũng công bố chuyên luận mang tên Ngữ pháp văn
kết nội dung (với nhiều tiểu loại liên kết khác nhau) thì Diệp Quang Ban cho rằng
còn có một khái niệm bao trùm lên liên kết là “mạch lạc”. Chính mạch lạc với các
cấp độ và tiểu loại khác nhau của nó đã làm nên sự liên kết chặt chẽ và nhất quán
trong một văn bản.
Cùng với đó, không thể không nói đến sự tương đồng trong quan điểm
nghiên cứu của Trần Ngọc Thêm và Diệp Quang Ban khi cùng thống nhất về vai
trò, giá trị của một số phép liên kết quan trọng, đóng vai trò không thể thay thế
trong việc liên kết, kết nối văn bản ở các cấp độ khác nhau, góp phần vào sự thành
công của văn bản, góp phần làm nên giá trị của văn bản đó. Những phép liên kết
điển hình được hai tác giả thống nhất từ khái niệm cho đến nội hàm hoặc một phần
nội hàm bao gồm: phép thế, phép tỉnh lược, phép nối và phép lặp.
Như vậy, phép thế là phép liên kết cùng được hai tác giả quan tâm và dành
cho nó một vị trí thích đáng trong công trình nghiên cứu của mình. Tuy nhiên,
phép thế trong quan niệm của Diệp Quang Ban chỉ đơn thuần là phép thế đại từ.
Ông viết: “phép thế là việc sử dụng ở câu này các đại từ thay thế như đó, đây, kia,
…thế cho danh từ (cụm danh từ), vậy, thế, đó…thế cho động từ (cụm động từ),
tính từ (cụm tính từ), mệnh đề (cấu trúc chủ vị, hay cú) tương ứng có mặt trong
câu khác; trên cơ sở đó hai câu đang xét liên kết được với nhau. Tất nhiên, các đại
từ thay thế là những từ có nghĩa không cụ thể, và nghĩa cụ thể của chúng có thể
tìm được ở những từ, tổ hợp từ mà chúng thay thế”.
Ví dụ: Đoàn du lịch sẽ đến Hội An vào trưa mai. Đoàn sẽ ỏ lại đấy một ngày
đêm.
- Nước ta là một nước văn hiến. Ai cũng bảo thế
Trong khi đó, Trần Ngọc Thêm lại phân biệt rất rõ hai loại thế là thế đại từ và
thế đồng nghĩa. Thế đại từ được Trần Ngọc Thêm định nghĩa: “là việc sử dụng
trong câu kết yếu tố đại từ tính (đại từ, tổ hợp tử có tính chất đại từ) thay thế cho
yếu tố tương ứng với nó ở câu chủ, để tạo liên kết. Có thể coi đây là cách quy
chiếu bằng yếu tố đại từ tính (khác với quy chiếu của phép thế đồng nghĩa ở từ
hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất.
- Thế đồng nghĩa lâm thời: Một số phường săn đến thăm dò để giăng bẫy bắt con
cọp xám. Nhưng con ác thú tinh lắm, đặt mồi to và ngon đến đâu cũng không lừa
nổi nó.
Diệp Quang Ban là người công bố công trình nghiên cứu sau thực ra cũng có
ý thức rất rõ về sự khác biệt này khi ông viết những dòng chú thích trong tác phẩm
Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản [NXB Giáo dục, HÀ Nội, 2009, tr.
378]: “Cách hạn chế phương thức thế trong khuôn khổ các đại từ thay thế, không
tính đến các yếu tố từ vựng đồng nghĩa , gần nghĩa tương ứng là nét khác biệt của
hệ thống liên kết này so với hệ thống liên kết của Trần Ngọc Thêm (1985 và
1999). Các từ ngữ đồng nghĩa, gần nghĩa có tác dụng liên kết được xếp vào
phương thức liên kết từ vựng, do bản tính từ vựng của chúng, không cần tính đến
vị trí cú pháp”.
Như vậy, phép thế đồng nghĩa trong quan điểm của Trần Ngọc Thêm chính là
phép liên kết từ vựng theo quan điểm của Diệp Quang Ban. Nói cách khác, Diệp
Quang Ban không cho rằng tồn tại phép thế đồng nghĩa bởi ông là người theo
quan điểm ngữ pháp cực đoan. Với Diệp Quang Ban, phép thế chỉ có thể hiểu là
thế đại từ mà thôi.
1.3. Phép thế như một phương thức liên kết của văn bản nghệ thuật
Ngữ pháp học truyền thống coi câu là đơn vị cơ bản, có ý nghĩa hoàn chỉnh,
có cấu tạo ngữ pháp, có tính chất độc lập, có chức năng thông báo và tạo lập văn
bản. Nói cách khác, giới ngữ pháp tập trung vào nghiên cứu câu như một đơn vị
mang đặc tính tột cùng trong các thang bậc đơn vị của ngành học. Tuy nhiên, dần
dần người ta đã nhận thấy, việc nghiên cứu ngữ pháp học theo cách chỉ tập trung
vào đơn vị câu sẽ không thể giải quyết được nhiều vấn đề nảy sinh mà ngôn ngữ
học hiện đại đã chỉ rõ.
Trong một công trình nghiên cứu của J. R. Firth năm 1951,cho rằng nhiệm vụ
trọng tâm của ngôn ngữ học miêu tả là phải nêu bật được ý nghĩa lời nói và nhà
hình thức và liên kết nội dung. Liên kết hình thức được hiểu là những dấu hiệu tạo
liên kết trên bề mặt của văn bản, có thể được tổng kết và khái quát lại thành những
thủ pháp. Còn liên kết nội dung chính là thứ liên kết vĩ mô, xuyên suốt toàn bộ
văn bản và làm nên chủ đề của văn bản, quyết định việc hình thành văn bản. Theo
đó, liên kết hình thức được Trần Ngọc Thêm tổng kết lại thành 10 phép, bao gồm:
1.
Phép lặp
Kho tài liệu miễn phí của Ket-noi.com blog giáo dục, công nghệ
2.
Phép đối
3.
Phép thế đồng nghĩa
4.
Phép liên tưởng
5.
Phép tuyến tính
6.
Phép thế đại từ
Liên kết ngữ pháp
Phép lặp
Phép tỉnh
lược
từ vựng
Phép thế
Phép Đối
Phép nối
Song hành cú pháp
Liên kết
tuyến tính
Liên k
ết đẳng
lập
Khác với Trần Ngọc Thêm, Diệp Quang Ban phân biệt hai thuật ngữ “liên
kết” và “mạch lạc”. Với Diệp Quang Ban, mạch lạc có hai cấp độ. Cấp độ 1 được
hiểu là: “cái tầm rộng mà ở đó các lời nói được tiếp nhận là có mắc vào nhau, chứ
loại của Trần Ngọc Thêm: thế đại từ và thế đồng nghĩa. Tuy nhiên, chúng tôi
cho rằng nên gộp 02 hai tiểu loại trong thế đồng nghĩa thành 01 loại, cụ thể là gộp
đồng nghĩa miêu tả và đồng nghĩa lâm thời thành 01 loại duy nhất là đồng
nghĩa lâm thời. gọi tắt là thế lâm thời. Thực vậy, bản thân sự đồng nghĩa trong
miêu tả đã chỉ ra tính chất lâm thời của nó. Hãy cùng quan sát một số ví dụ trong
các tác phẩm của Nam Cao và Nguyễn Huy Thiệp:
Ví dụ 1: Thị cởi áo ra ngồi dựa vào gốc chuối, dáng ngồi không kín đáo,
nhưng không bao giờ thị biết thế nào là lả lơi cả. Con người vô tâm, không hay
nghĩ xa xôi mà.
(Chí Phèo, Nam Cao)
Ví dụ 2: Anh Đĩ chuột rít 2 hàm răng lại. Hai chân giận dữ đạp cái ghế đổ
văng xuống đất. Cái tròng rút mạnh lại. Cái bộ xương bọc da giãy giụa như một
con gà bị bẫy sau cùng, nó chỉ còn gật từng cái chậm dưới sợi dây thừng lủng
lẳng.
(Nghèo, Nam Cao)
Ví dụ 3: Sân nhà Pùa không có những tiếng khèn bè. Không ai đi lấy cô gái
liệt cả hai chân làm vợ.
(Trái tim hổ, Nguyễn Huy Thiệp)
Ví dụ 4: Cũng có một lần tôi theo trọn vẹn buổi đánh cá đêm. Lần ấy tôi ngồi
thuyền của trùm Thịnh. Lão già chột mắt này rất nổi tiếng vì những câu chuyện
rùng rợn trong cuộc đời mình.
(Chảy đi sông ơi, Nguyễn Huy Thiệp)
Trong những ví dụ trên, việc dùng “con người vô tâm” thay thế cho “thị‟,
“cái bộ xương bọc da” thay thế cho “anh đĩ Chuột”, “cô gái liệt hai chân” thay thế
cho “Pùa”, “lão già chột mắt” thay thế cho “trùm Thinh” đều thể hiện rõ tính chất
“miêu tả” và “lâm thời”, khi dùng các đặc điểm nội tâm (“con người vô tâm”)
hoặc ngoại hình (“bộ xương bọc da”, “liệt cả hai chân”, “chột mắt”) để thay thế