Khảo sát tình trạng mù chữ và tái mù chữ ở thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên ( Luận văn ThS. Ngôn ngữ học ) - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HUYỀN
KHẢO SÁT TÌNH TRẠNG MÙ CHỮ VÀ TÁI
MÙ CHỮ Ở THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ,
TỈNH ĐIỆN BIÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học


MÙ CHỮ Ở THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ,
TỈNH ĐIỆN BIÊN

Luận văn Thạc sỹ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số : 60 22 02 40

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS.Trần Trí Dõi

Hà Nội-2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu khoa
học của riêng tôi, không có sự sao chép ở bất cứ nguồn tài liệu, đề tài luận
văn, luận án hay công trình nghiên cứu khoa học của tác giả nào khác.


Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Ngôn ngữ học
đã dạy bảo và giúp đỡ nhiệt tình cho em trong suốt thời gian học cao học tại
trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội.
Đồng thời, em cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ UBND phƣờng
Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên đã tạo điều kiện thuận
lợi cho em trong quá trình thu thập tƣ liệu tại địa phƣơng. Hà Nội, tháng 10 năm 2014 Học viên

Nguyễn Thị Huyền

BẢNG VIẾT TẮT
- PCGDTH-XM: Phổ cập giáo dục Tiểu học và Xóa mù
- GD&ĐT: Giáo dục và Đào tạo
- THCS: Trung học cơ sở
- MC: Mù chữ
- TM: Tái mù chữ

6. Bố cục của đề tài 7
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8
1.1. Khái quát về hiện tƣợng Mù chữ và Tái mù chữ 8
1.1.1.Những quan niệm về mù chữ và tái mù chữ trên thế giới 8
1.1.2. Quan niệm về mù chữ và tái mù chữ ở Việt Nam…………………………18
1.2. Khái quát về địa bàn khảo sát 22
1.2.1. Khái quát về tỉnh Điện Biên 22
1.2.2. Khái quát về thành phố Điện Biên Phủ 24
1.2.3. Khái quát về địa bàn phường Nam Thanh 26
Chƣơng 2: TÌNH TRẠNG MÙ CHỮ VÀ TÁI MÙ CHỮ Ở PHƢỜNG
NAM THANH, THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ 28
2.1.Tổng hợp kết quả khảo sát tại phường Nam Thanh 28
2.2. Tình trạng mù chữ và tái mù chữ ở phường Nam Thanh chia theo đơn vị
bản 32
2.3 .Tình trạng mù chữ và tái mù chữ chia theo giới tính 36
2.4. Tình trạng mù chữ và tái mù chữ ở phường Nam Thanh chia theo độ
tuổi 40
2.4.1. Kết quả của cuộc khảo sát. 40
2.4.2. Số liệu báo cáo xóa mù theo độ tuổi của địa phương. 46
2.5. Tình trạng mù chữ và tái mù chữ ở phường Nam Thanh chia theo thành
phần dân tộc 48
2.6. Tiểu kết 52

2
Chƣơng 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÌNH
TRẠNG MÙ CHỮ VÀ CHỐNG TÁI MÙ CHỮ VÙNG DÂN TỘC
MIỀN NÖI VIỆT NAM 55
3.1. Vấn đề cấp thiết của xóa mù và chống tái mù 55
3.2. Một số kiến nghị về giải pháp 56
3.2.1. Mù chữ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội nước nhà ở

ngày 19 tháng 12 năm 2007 tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cho
biết nƣớc ta không chỉ có hiện tƣợng mù chữ mà còn xuất hiện cả hiện tƣợng
tái mù chữ (Reilliteracy). Điều đáng chú ý là số ngƣời tái mù chữ lại có xu
hƣớng gia tăng trong những năm gần đây. Đây là một thực trạng rất đáng lo
ngại ở nƣớc ta cần đƣợc quan tâm.
Nếu hiện tƣợng mù chữ, tái mù chữ không bị đẩy lùi thì nó sẽ có ảnh
hƣởng không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của nƣớc ta, đặc biệt đối
với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay.
Theo Quyết định số 692/QĐ – TTg ngày 04 tháng 05 năm 2013 của
Thủ tƣớng Chính phủ thì Điện Biên là một trong số 14 tỉnh có điều kiện kinh

4
tế - xã hội khó khăn và có tỷ lệ ngƣời mù chữ cao nên đƣợc hỗ trợ Đề án
“Xóa mù chữ đến năm 2020”. Điều này cho thấy hiện tƣợng mù chữ và tái
mù chữ đang là một vấn đề xã hội mang tính cấp bách ở tỉnh Điện Biên.
Thêm vào đó, theo số liệu thống kê của Phòng Giáo dục và Đào tạo
thành phố Điện Biên Phủ năm 2012, ở thành phố Điện Biên Phủ tỷ lệ ngƣời
mù chữ trong độ tuổi từ 15 đến 25 là 0.01%; tỷ lệ ngƣời mù chữ trong độ
tuổi từ 26 đến 35 là 0.24%; tỷ lệ ngƣời mù chữ trong độ tuổi từ 36 trở lên là
1.01%. Nhƣ vậy, chúng ta có thể thấy mặc dù thành phố Điện Biên Phủ là
trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh Điện Biên; là nơi có điều
kiện và cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục tốt nhất của tỉnh; là nơi có nhiều
trƣờng tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia,
ngoài ra còn có các trƣờng trung cấp, cao đẳng và các Trung tâm học tập
cộng đồng nhƣng tình trạng mù chữ vẫn còn tồn tại.
Xuất phát từ thực tiễn cấp bách nói trên, chúng tôi chọn đề tài
nghiên cứu “Khảo sát tình trạng mù chữ và tái mù chữ ở thành phố Điện
Biên Phủ, tỉnh Điện Biên”: Trường hợp chọn thí điểm địa bàn phường
Nam Thanh để tiến hành khảo sát với mong muốn nhằm tìm hiểu vấn đề

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng khảo sát đƣợc tiến hành ở đây là tất cả những ngƣời thuộc độ
tuổi đến trƣờng học chữ trở lên (tức 6 tuổi trở lên) trong một đơn vị cƣ trú để
nhận diện tình trạng mù chữ và tái mù chữ ở cộng đồng cƣ dân vùng dân tộc
miền núi.
Thành phố Điện Biên Phủ là một thành phố vùng cao Tây Bắc trực
thuộc tỉnh Điện Biên. Vì thế, phạm vi khảo sát đƣợc chúng tôi tiến hành là
những đối tƣợng từ 6 tuổi trở lên, hiện đang sinh sống tại các bản : Co Cáng,

6
Pom Loi, Khá, Noong Chứn, Noong En, Hoong En, phường Nam Thanh,
thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
Sau khi tiến hành khảo sát ở những địa điểm trên, chúng tôi thu đƣợc
601 phiếu (trong đó có 1 phiếu không hợp lệ đó là đối tƣợng đƣợc điều tra
dƣới 6 tuổi). Đây là kết quả khảo sát điền dã trên địa bàn thành phố Điện
Biên Phủ vào tháng 1/2013 của đoàn sinh viên khoa Ngôn ngữ học để thực
hiện Đề tài Nhóm A, Mã số: QGTĐ.12.09 do GS. TS Trần Trí Dõi chủ trì.
Nhƣ vậy, số liệu này là một phần kết quả của đợt nghiên cứu điều tra điền dã
nói trên thuộc địa bàn một thành phố của tỉnh Điện Biên.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để luận văn đƣợc hoàn thành, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phƣơng
pháp nghiên cứu trong ngôn ngữ học nhƣ sau:
Trƣớc hết, đó là phƣơng pháp nghiên cứu điều tra điền dã để thu thập
tài liệu và số liệu từ thực tiễn. Ở từng địa bàn khảo sát, mỗi ngƣời dân có
một phiếu phỏng vấn với những thông tin về cá nhân (nhƣ tên, tuổi, giới
tính, đã đi học chƣa…) cùng một bài đọc tiếng Việt và bài toán ở trình độ
tiểu học nhằm kiểm tra khả năng đọc – hiểu, viết cũng nhƣ tính toán của
họ.Từ đó, trên cơ sở những tiêu chí về mù chữ, chúng tôi phân loại, xử lý và
phân tích số liệu để tìm ra những khác biệt của tình hình mù chữ và tái mù
chữ theo từng đặc trƣng về giới tính, độ tuổi, thành phần dân tộc và địa bàn.

8
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1. Khái quát về hiện tƣợng Mù chữ và Tái mù chữ
1.1.1.Những quan niệm về mù chữ và tái mù chữ trên thế giới
1.1.1.1. Quan niệm của UNESCO
UNESCO là cơ quan phụ trách khoa học, giáo dục và văn hóa của Liên
hợp quốc (LHQ). Vì thế, quan niệm của cơ quan này là sự thể hiện nhận
thức chung của cộng đồng thế giới về hiện tƣợng giáo dục này. Theo tinh
thần định nghĩa mà UNESCO thể hiện, có thể hiểu mù chữ là không có khả
năng đọc và viết. Tuy nhiên, nội hàm của khái niệm này cũng đƣợc phát
triển theo thời gian phù hợp với sự phát triển của xã hội và thế giới.
Năm 1958, UNESCO đã đƣa ra định nghĩa ban đầu về mù chữ. Theo
đó, “Một ngƣời không biết chữ nếu họ không có hai khả năng đọc và viết
một tuyên bố ngắn và đơn giản liên quan đến cuộc sống hằng ngày của họ”.
Với nội hàm nhƣ thế, tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp
quốc ủng hộ một ý tƣởng “giáo dục cơ bản” nên tập trung chủ yếu vào hai
kỹ năng là đọc và viết. Nhƣ vậy, có thể thấy vào thời gian này đối với
UNESCO, mù chữ là một thuật ngữ khá “chung chung” là đọc và viết. các
Bộ Giáo dục của các nƣớc thành viên LHQ, giáo dục về xóa mù chữ đã đƣợc
làm nổi bật khi nhấn mạnh mối liên hệ giữa xóa mù chữ với phát triển xã
hội; và lần đầu tiên UNESCO đề xuất chức năng biết đọc, biết viết là
phƣơng tiện để con ngƣời phát triển kinh tế - xã hội trong một quốc gia. Với
quan niệm nhƣ thế, vấn đề xóa mù chữ đƣợc hiểu là nó đã vƣợt ra ngoài giới
hạn của nội hàm biết chữ thô sơ trƣớc đây là chỉ đơn giản là dạy học, dạy

để thực hiện học tập, giao lƣu, quản lý công việc.

10
Trong ba loại “mù chữ” ấy, hai loại mù chữ sau đƣợc coi là kiểu mù
chữ thiên về “chức năng” hay tính năng”. Những ngƣời này, tuy đã đƣợc
giáo dục cơ bản về ngôn ngữ, nhƣng ở phƣơng diện thƣởng thức khoa học –
kỹ thuật hiện đại, họ cũng thiếu năng lực nhƣ giống những ngƣời mù chữ
“không biết đọc” nhƣ trƣớc đây. Vì thế, ở một mức độ nào đó, họ cũng là
những ngƣời vẫn đƣợc coi còn “mù chữ”. Theo những gì đƣợc trình bày ở
trên thì UNESCO nhấn mạnh đến việc áp dụng ngôn ngữ phù hợp với những
chức năng cơ bản là nghe, nói, đọc, viết. Tƣơng ứng, bốn kỹ năng này có lẽ
ứng với các kỹ năng chủ yếu trong cuộc sống là có thể hiểu, có thể diễn đạt
lại và có thể sáng tạo hay tái tạo lại.
Khi nhìn nhận sự biết đọc và biết viết bao hàm cả sự sáng tạo, định
nghĩa của UNESCO đã cố gắng bao quát các hoạt động nhận thức và truyền
đạt của ngƣời biết chữ. Có lẽ vì thế mà định nghĩa này mang tính cụ thể và
gần gũi với cuộc sống hiện nay hơn. Từ nội dung khái niệm về “biết chữ”,
chúng ta có thể nhận biết khái niệm “mù chữ” gồm hai yếu tố cơ bản là: a,
“không biết chữ” (không biết đọc, không biết viết, không hiểu nội dung, khả
năng truyền đạt lại nội dung của một “văn bản” nào đó); b, “không biết tính
toán”, tức là chƣa có thể thực hiện đƣợc những phép đơn giản.
1.1.1.2.Quan niệm về mù chữ ở một số quốc gia
Trên thế giới, những quan niệm về biết chữ của các quốc gia thƣờng có
xu hƣớng lấy những điều mà UNESCO quy định làm định hƣớng xử lý. Tuy
nhiên, ở những quốc gia khác nhau vẫn có một số chi tiết khác biệt nhất định
do điều kiện của quốc gia đó. Do vậy, UNESCO đã thực hiện một cuộc khảo
sát ở 105 quốc gia từ năm 1993 đến năm 2004 nhằm xác định và nhận biết
sự khác nhau trong các định nghĩa quan niệm về biết chữ giữa các nƣớc khác
nhau. Theo kết quả công bố rộng rãi trên phƣơng tiện thông tin đại chúng, có
khoảng 80% các nƣớc xác định nội dung “biết chữ” chỉ là “khả năng đọc

12
Và sau đó là mù chữ tính năng (chức năng) mà giới hạn của nó là thƣờng để
chỉ một ngƣời có thể đọc hoặc viết ở một mức độ nào đó nhƣng ở dƣới một
mức tối thiểu cần thiết để vận dụng trong một tình huống xã hội hay yêu cầu
trong một công việc ổn định. Gần đây, ý nghĩa của từ biết chữ và mù chữ đã
đƣợc mở rộng hơn ý nghĩa ban đầu với việc có thể đọc, viết và bất kỳ lĩnh
vực nào của kiến thức. Ví dụ, “mù chữ địa lý” là không thể xác đinh quốc
gia trên bản đồ thế giới.
Ở Trung Quốc, nội dung khái niệm này còn đƣợc quy định rất cụ thể.
Théo đó, ngƣời đƣợc coi là biết chữ nếu anh ta biết ít nhất là 2000 ký tự
(những ngƣời sinh sống tại các khu vực đô thị) và 1500 ký tự (đối với những
ngƣời sống ở khu vực nông thôn). Việc quy định này, nhƣ vậy, là phụ thuộc
vào đặc điểm xã hội – giáo dục của đất nƣớc Trung Quốc.
Với những ví dụ minh họa ở trên, chúng ta có thể nói , không có một
định nghĩa thống nhất, đúng cho mọi quốc gia cho dù đó là định nghĩa của
UNESCO. Vì thế, dựa trên quan niệm chung là UNESCO đƣa ra về khái
niệm mù chữ, mỗi quốc gia sẽ xây dựng cho mình một định nghĩa riêng, phù
hợp với trình độ, đặc điểm ngôn ngữ và điều quan trọng là phải phù hợp với
xã hội của quốc gia đó trong giai đoạn lịch sử hiện tại.
1.1.2.Quan niệm về hiện tượng mù chữ và tái mù chữ ở Việt Nam
Với logic nhƣ vậy, chúng ta sẽ thấy rằng, Việt Nam cũng có quan niệm
về “mù chữ” theo cái cách của quốc gia mình”. Trong tiếng Việt, từ “mù”
dùng để chỉ hiện tƣợng mắt của một ngƣời nào đó không có khả năng nhìn
thấy” (người mù, mù mắt). Do đó, từ mù chữ là một cách nói hình ảnh ẩn dụ,
chỉ khả năng một ai đó không đọc đƣợc, không hiểu đƣợc con chữ hay văn
bản. Theo GS.TS. Trần Trí Dõi: “Có thể hiểu ai đó tuy nhìn bằng mắt nhƣng
khi nhìn vào “chữ” không khác gì không nhìn thấy vì không hiểu đƣợc giá
trị của “âm” và “nghĩa” của chữ có trƣớc mắt mình. Còn tái mù chữ là hiện

13

thấy rằng từ “mù chữ” trong “Từ điển tiếng Việt” đã đƣợc định nghĩa thông
qua cách phủ định khái niệm ngƣợc lại với nó, đó là “biết chữ”. Cách giải
thích nhƣ vậy chỉ mới xét thuần về mặt “chữ nghĩa”. Nó đáp ứng đƣợc yêu
cầu của môt cuốn từ điển tƣờng giải ở mức độ phổ thông, song lại chƣa phản
ánh hết đƣợc nội dung của hiện tƣợng mù chữ. Do đó, nếu muốn tìm hiểu
sâu về hiện tƣợng này thì không thể lấy đây làm căn cứ đánh giá một cách rõ
ràng đƣợc.
Tác giả Phạm Tất Thắng trong đề tài nghiên cứu cấp Bộ thực hiện tại
Viện ngôn ngữ học về “Tình hình mù chữ, tái mù chữ và vấn đề xóa mù chữ
ở Việt Nam trong thời kỳ hiện đại hóa, công nghiệp hóa và hội nhập quốc
tế”, [43; tr.7-8] đã đề nghị rằng khái niệm “mù chữ” trong từ vựng tiếng Việt
cần phải đƣợc phân biệt trong hai trƣờng hợp sử dụng khác nhau. Trƣờng
hợp thứ nhất, “mù chữ” chỉ một hiện tƣợng xã hội thuộc địa hạt giáo dục, đó
là “tình trạng không biết chữ”. Trƣờng hợp thứ hai, “mù chữ” chỉ một trạng
thái thuần túy bệnh lý hay bệnh học. Đối với trƣờng hợp thứ nhất, ngƣời ta
có thể khắc phục đƣợc bằng việc “đi học chữ”, tức đến trƣờng học chữ; còn
đối với trƣờng hợp thứ hai, do là một chứng bệnh lý nên cần điều trị theo y
khoa.
Những tác giả thực hiện “đề tài cấp Bộ” cũng giải thích thêm rằng hai
trƣờng hợp trên thực chất là hai tên gọi (hay hai từ) đồng âm, tức là những
từ có âm đọc giống nhau nhƣng ý nghĩa lại khác nhau. Theo đó, một tên gọi
là ẩn dụ từ vựng, một tên gọi khác là tên gọi có quy chiếu biểu vật. Nếu xét
trong quan hệ với tiếng Anh, tên gọi thứ nhất có từ tiếng Anh tƣơng ứng là
“illiteracy”, tên gọi thứ hai là “word-blindness” (hay dyslexia, alexia). Các
từ tiếng Anh này đƣợc giải thích: “illiteracy” đƣợc định nghĩa là trái với
“literacy”, còn “literacy” đƣợc định nghĩa là “cái năng lực đọc và viết”.

15
“Dyslexia” đƣợc định nghĩa “(thuộc lâm sàng) một chứng bệnh ảnh hƣởng
đến khả năng đọc. Sự giải thích trên giúp ngƣời ta có thể phân biệt hai từ

chính thức của cơ quan quản lý nhà nƣớc là bộ Giáo dục. Về khái niệm mù
chữ và tái mù, theo Quyết định năm 1956 của Bộ Giáo dục về “Quy định
tiêu chuẩn công nhận thoát nạn mù chữ”, nội dung của nó là:
“Điều 1: Được coi là đã thoát nạn mù chữ những người có trình độ
đọc và viết chữ quốc ngữ như sau:
- Đọc: đọc chữ viết, chữ in không phải đánh vần từng tiếng và đọc
được đúng các con số có hàng nghìn.
- Viết: viết chính tả một bài dài độ 80 tiếng trong 45 phút, không mất
nhiều lỗi và biết viết các con số có hàng nghìn.
Điều 2: Các dân tộc miền núi đã có văn tự riêng mà đọc, viết chữ
dân tộc đến trình độ quy định ở trên thì được công nhận là đã thoát nạn mù
chữ”.
Nhƣ vậy, theo nội dung của quy định đầu tiên này, một ngƣời đƣợc
xem là biết chữ (tức là đã “xóa mù chữ”/ “thoát nạn mù chữ”) khi ngƣời đó
có trình độ tƣơng đƣơng với trình độ đi học lớp 1 đến lớp 3 của cấp Tiểu
học. Cũng trong quy định này, Nhà nƣớc Việt Nam ghi nhận công tác xóa
mù chữ có thể thực hiện bằng chữ viết của ngôn ngữ các dân tộc thiểu số. Có
nghĩa là thay vào trình độ biết chữ phổ thông, nếu một ngƣời dân tộc thiểu
số biết đọc, viết chữ dân tộc mình cũng sẽ đƣợc coi nhƣ đã thoát nạn mù
chữ. Những nội dung nói trên đƣợc quy định cách đây gần 60 năm và về
nguyên tắc, vẫn đƣợc lƣu giữ cho đến hiện nay.
Cụ thể, Thông tƣ số 14 - GDĐT ngày 5 tháng 8 năm 1997 hƣớng dẫn
về “Tiêu chuẩn và thể thức kiểm tra, đánh giá kết quả chống mù chữ và

17
phổ cập giáo dục Tiểu học” ở Việt Nam đã quy định chuẩn công nhận biết
chữ đối với cá nhân và cơ sở xã, phƣờng là nhƣ sau:
“1. Đối với cá nhân:
- Người được công nhận biết chữ phải được kiểm tra công nhận hết
mức 3 chương trình chống mù chữ (hoặc hết lớp 3 tiểu học).

Giai đoạn II: Giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ (Lớp 4, 5) Giai đoạn
này (gồm 4 môn học: Tiếng Việt, Toán, Lịch sử và Địa lý, Khoa học) dành
cho những người mới được công nhận biết chữ hoặc những người bỏ học
giữa chừng ở lớp 4, lớp 5”.
“Học viên học hết chương trình lớp 3 và được xếp loại học lực đạt yêu
cầu thì được Thủ trưởng các cơ sở giáo dục tổ chức lớp học xóa mù chữ xác
nhận vào học bạ: Xác nhận biết chữ”.
Về khái niệm tái mù chữ, Quyết định số 13/2007/QĐ-BGDĐT ngày 03
tháng 05 năm 2007 có đề cập đến nói về việc ngƣời thuộc diện tái mù chữ
bằng khái niệm “ những người mù chữ trở lại”. Theo đó, họ phải học lại
chƣơng trình xóa mù tƣơng đƣơng những ngƣời chƣa từng đi học giai đoạn
I. Nhƣ vậy, nội dung của khái niệm này khi áp dụng cho cá nhân có thể đƣợc
hiểu nhƣ: ngƣời đã từng đi học và đƣợc xác nhận biết chữ nhƣng nay khi
kiểm tra lại thì không còn đạt đƣợc trình độ đó nữa.
Tóm lại, theo các quy định của Bộ GD & ĐT đã công bố, tiêu chí để
xác định một cá nhân mù chữ hay tái mù chữ đƣợc xác định là:
a, Những ngƣời đã học từ lớp 1-3 tiểu học đạt yêu cầu đƣợc coi là “xóa
mù” Còn ở tuổi này mà bỏ học giữa chừng thì phải đƣợc xem là ngƣời “mù
chữ”. Tiêu chuẩn này là để phân biệt số học sinh ở tuổi tiểu học vẫn đang đi
học (đƣợc coi là “không mù chữ - xóa mù)” và số ngƣời ở độ tuổi đến trƣờng
từ lớp 1-3 tiểu học trở lên nhƣng không đến trƣờng thì phải coi là “mù chữ”.

19
b, Những ngƣời tự học (chƣa bao giờ đến trƣờng) mà không đạt trình
độ tƣơng đƣơng với lớp 3 tiểu học thì cũng đƣợc coi là ngƣời mù chữ.
c, Những ngƣời có thể đã học đến lớp 5 nhƣng khi kiểm tra lại không
đạt trình độ lớp 3 tiểu học thì đƣợc xem là ngƣời tái mù chữ. Điều này có
phần khác với quan niệm cho rằng, tái mù chữ là ngƣời không còn giữ
nguyên trình độ nhƣ lúc đầu đã đƣợc đào tạo ở bất kỳ cấp học nào.
Rõ ràng, nhƣ vậy tiêu chuẩn đánh giá ngƣời biết chữ từ sau năm 1956

chƣơng trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ hoặc hoàn
thành lớp 3 chƣơng trình giáo dục tiểu học.
2 – Ngƣời đạt chuẩn biết chữ mức độ 2: Hoàn thành giai đoạn 2
chƣơng trình xóa mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ hoặc hoàn
thành chƣơng trình giáo dục tiểu học”.
Nhƣ vậy, so với tiêu chuẩn “xóa mù chữ” trƣớc đây, Nghị định năm
2014 của Chính phủ quy định có “hai mức độ xóa mù chữ” tƣơng đƣơng
với hai “chuẩn biết chữ”. Trong đó, “chuẩn biết chữ mức độ 1” là “hoàn
thành lớp 3 chƣơng trình giáo dục tiểu học”; còn “chuẩn biết chữ mức độ 2”
là “hoàn thành chƣơng trình giáo dục tiểu học”. Trong luận văn này, chúng tôi đã sử dụng các tiêu chí của GS.TS. Trần
Trí Dõi, ngƣời chủ trì đề tài nhóm A, mã số QGTĐ.12.09 :“Nghiên cứu tình
hình mù chữ và tái mù chữ vùng dân tộc thiểu số: trường hợp tỉnh Điện
Biên”để nhận diện các đối tƣợng thuộc diện “mù chữ” và “tái mù chữ” ở địa
bàn phƣờng Nam Thanh, thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên. Nội
dung của các tiêu chí này nhƣ sau:
a, Người được nhận diện là mù chữ khi:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status