Khảo sát tình hình thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc tại vùng Tây Bắc trong những năm gần đây tt[141628][141628] - Pdf 26


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐÀO VĂN THÙY
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH THỰC THI
CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ DÂN TỘC
TẠI VÙNG TÂY BẮC
TRONG NHỮNG NĂM
GẦN ĐÂY

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Hà Nội - 2012
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6. Cấu trúc của luận văn
NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chính sách ngôn ngữ dân tộc
1.1. Một số cơ sở lý luận về chính sách ngôn ngữ dân tộc
1.1.1. Khái niệm “chính sách”
1.1.2. Khái niệm chính sách ngôn ngữ dân tộc
1.2. Kinh nghiệm xây dựng chính sách ngôn ngữ dân tộc của
một số quốc gia trên thế giới
1.2.1. Xu thế chung
1.2.2. Những kinh nghiệm cụ thể trong chính sách ngôn ngữ
dân tộc của một số nước trên thế giới
1.3. Các văn bản trực tiếp và gián tiếp liên quan đến chính sách
ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước thời gian gần đây
1.4. Tiểu kết chương 1
Chương 2: Cảnh huống ngôn ngữ vùng Tây Bắc
2.1. Khái niệm cảnh huống ngôn ngữ
2.2. Cảnh huống ngôn ngữ vùng Tây Bắc

Chương 3: Tình hình thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc của Đảng
và Nhà nước tại vùng Tây Bắc trong những năm gần đây
3.1. Đặt vấn đề
3.2. Những thành tựu và tồ n tạ i, bất cập trong thực thi chính sách
ngôn ngữ dân tộc tại tỉnh Sơn La trong nhữ ng năm gầ n đây
3.2.1. Những thành tựu đã đạt được
3.2.2. Những tồ n tạ i, bất cập
3.3. Những thành tựu và tồ n tạ i, bất cập trong thự c thi chính sách
ngôn ngữ dân tộc tại vùng Tây Bắc trong nhữ ng năm gầ n đây
3.3.1. Nhữ ng thành tựu đã đạt được
3.3.2. Những tồ n tạ i, bất cập
3.4. Tiểu kết chương 3
KẾT LUẬN
Một số kiến nghị đối với Đảng và Nhà nước
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
55
62 63 63
73 75
80
92
94

tộ c ở đây trong nhữ ng năm gầ n đây mặ c dù đã đạ t đượ c nhiề u thà nh tự u,
nhưng vẫ n cò n nhiề u tồ n tạ i, bấ t cậ p, dẫ n đế n nhiề u vấ n đề phứ c tạ p khá c
làm ảnh hưởng tới công tác đảm bảo an ninh, trậ t tự trên địa bà n. Đây chính
là lý do tôi chọn đề tài luận văn “Khảo sát tình hình thực thi chính sách
ngôn ngữ dân tộc tại vùng Tây Bắc trong những năm gần đây”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn này là thông qua việc khảo sát tình hình
thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc tại vùng Tây Bắc trong những năm
gần đây, nhằ m gp phần tham mưu cho Đả ng và Nhà nướ c mà cụ thể là
các nhà hoạch định chính sách c được cái nhìn toàn diện về việc này và
đưa ra những hiệ u chỉ nh về chính sách ngôn ngữ dân tộ c phù hợp hơn
trong thi gian tới.
Từ mục đích trên luận văn c nhiệm vụ như sau:
- Hệ thống ha những lí luận cơ sở về chính sách ngôn ngữ và
chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam liên quan đến luận văn.
- Giới thiệu, phân tích cảnh huống ngôn ngữ ở vùng Tây Bắc.
- Khảo sát, đá nh giá tình hình thực hiện và chính sách ngôn ngữ
dân tộc tại vùng Tây Bắc trong những năm gần đây.
- Từ kế t luậ n về tình hình thự c thi chính sá ch ngôn ngữ dân tộ c
tại Tây Bắc, đề xuất kiến nghị, giải pháp trong thi gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tiến hành khảo sát, nghiên cứu, đánh giá việc thực thi
những chính sách ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước tại vùng Tây
Bắc trong những năm gần đây, gồm địa bàn 12 tỉnh như Yên Bái, Lào
Cai, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang,
Bắc Kạn, Hoà Bình, Lạng Sơn, Cao Bằng và các huyện phía Tây của 2
tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An - một trong những vùng c tình hình an ninh
dân tộc tương đối phức tạp.
Tuy nhiên, do địa bàn rất rộng nên luận văn này chỉ khảo sát
điểm, tức là khảo sát trưng hợp ở một số địa bàn nhất định trong vùng.

của Đảng và Nhà nước ta tại vùng chiến lược Tây Bắc trong những năm
gần đây: khảo sát tình hình thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc tại tỉnh
Sơn La, kết hợp với những số liệu về thực thi chính sách ngôn ngữ dân
tộc vùng Tây Bắc để đưa ra đánh giá, kết luận về nhữ ng thà nh tự u đã đạ t
đượ c, tồ n tạ i, bấ t cậ p cũ ng như phân tích nguyên nhân củ a nhữ ng tồ n
tại, bấ t cậ p đó trong thự c thi cá c chí nh sá ch ngôn ngữ củ a Đả ng và Nhà
nướ c tạ i vù ng nà y . Kết hợp với xu thế thay đổi cảnh huống ngôn ngữ ,
luận văn đưa ra những kiến nghị , đề xuất, giải pháp với Đảng và Nhà
nước nhằm giả i quyế t tố t cá c vấ n đề liên quan đế n chí nh sá ch ngôn ngữ
dân tộ c, đả m bảo thự c hiệ n tố t công tác bảo tồn và phát huy bản sắ c văn
ha dân tộc kết hợp với đảm bảo an ninh quốc gia , giữ gì n trậ t tự an
toàn xã hội tại vùng chiến lược Tây Bắc trong thi kỳ công nghiệp ha ,
hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chính sá ch ngôn ngữ dân tộ c
1.1 Một số cơ sở lý luận về chính sách ngôn ngữ dân tộc
1.1.1 Khái niệm “chính sách”
Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện
nào đ của chính phủ; bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và
cách làm để thực hiện các mục tiêu đ. Những mục tiêu này bao gồm sự phát
triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn ha - xã hội - môi trưng.
1.1.2. Khái niệm chính sách ngôn ngữ
CSNN là chủ trương chính trị và các biện pháp thực hiện chủ
trương đ về ngôn ngữ của nhà nước hoặc các tổ chức chính trị trong
phạm vi quốc gia hoặc xuyên quốc gia.
1.1.3. Khái niệm chính sách ngôn ngữ dân tộ c
CSNNDT là chủ trương chính trị và các biện pháp thực hiện chủ
trương đ về ngôn ngữ cá c dân tộc của nhà nước hoặc các tổ chức chính
trị trong phạm vi q.gia hoặc xuyên q.gia.
1.2 Kinh nghiệm xây dựng chính sách ngôn ngữ dân tộc của

tiền đề tốt cho phát triển kinh tế, văn ha, xã hội vì sự thịnh vượng
chung của đất nước và cộng đồng quốc tế.
Chương 2: Cảnh huống ngôn ngữ vùng Tây Bắc
2.1. Khái niệm cảnh huống ngôn ngữ
Cảnh huống ngôn ngữ được hiểu là toàn bộ các ngôn ngữ hoặc
toàn bộ các hình thức tồn tại của một ngôn ngữ có các quan hệ tương
hỗ về mặt lãnh thổ và xã hội, có sự tác động qua lại với nhau về mặt
chức năng trong phạm vi một vùng địa lí hoặc một thể thống nhất về
chính trị - hành chính nhất định.
2.2. Giới thiệu cảnh huống ngôn ngữ vùng Tây Bắc
Theo quan điểm hiện nay của Đảng và Nhà nước, vùng Tây Bắc
gồm 12 tỉnh miền núi, trung du phía Bắc: Yên Bái, Lào Cai, Điện Biên,
Lai Châu, Sơn La, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hoà
Bình, Lạng Sơn, Cao Bằng và các huyện phía Tây của 2 tỉnh Thanh
Hoá, Nghệ An. Tây Bắc c hai tuyến biên giới: Việt - Trung dài
1.460km, Việt - Lào dài 1.221km. Địa hình c nhiều khối núi và dãy núi
cao chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới
180km, rộng 30km, với một số đỉnh núi cao trên từ 2.800m đến 3.000m.
Dãy núi Sông Mã dài 500km, c những đỉnh cao trên 1.800m. Giữa hai
dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà (còn gọi là địa máng
sông Đà). Ngoài sông Đà là sông lớn, vùng Tây Bắc chỉ c sông nhỏ và
suối gồm cả thượng lưu sông Mã . Trong địa máng sông Đà c một dãy
cao nguyên đá vôi chạy từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Thanh Ha , và
chia nhỏ thành các cao nguyên Tà Phình , Mộc Châu, Nà Sản. Tây Bắ c
c các lòng chảo như Điện Biên, Nghĩa Lộ, Mưng Thanh.
Tây Bắc c khoảng hơn 30 dân tộc anh em cùng chung sống ,
tương đương vớ i khoảng trên 30 ngôn ngữ khác nhau. Trong đ, phổ biến
nhất vẫn là ngôn ngữ của dân tộc Kinh - tiếng Việt với 37% dân số. Số
còn lại, tuy chiếm 63% là ngưi dân tộc thiểu số, nhưng tiếng Việt là
ngôn ngữ mang tính quốc gia nên ngưi dân ở vùng này giao tiếp với

ngôn ngữ thuộc các tộc ngưi c số ngưi ni quá ít ỏi (Tày, Lào, Hoa,
Kháng). Ngoài tiếng Thái về cơ bản là ngôn ngữ được hầu hết các dân
tộc chấp nhận như một ngôn ngữ phổ thông vùng ra, ở những địa bàn
hẹp hơn như Bắc Yên, tiếng Mông c vai trò là ngôn ngữ vùng rõ hơn.
Như vậy, qua những gì đã trình bày ở trên, c thể thấy rằng,
cảnh huống ngôn ngữ của tỉnh Sơn La là tương đối điển hình tại vùng
Tây Bắc. Hay ni cách khác, cảnh huống ngôn ngữ của tỉnh Sơn La là
cảnh huống ngôn ngữ của vùng Tây Bắc thu nhỏ với những nét điển
hình là: địa bàn đa ngữ, các dân tộc sống đan xen trên một địa bàn rộng
lớn với mật độ dân số thấp nên khá phân tán. Bên cạnh một số ngôn ngữ
c đông ngưi sử dụng như tiếng Mông, tiếng Tày, tiếng Thái, còn
nhiều ngôn ngữ c lượng ngưi ni rất ít, đang đứng trước nguy cơ biến
mất như tiếng Kháng, Ơ Đu, Tại nhiều vùng dân tộc thiểu số, ngưi
dân ni tiếng phổ thông còn rất yếu, đặc biệt là vùng sâu vùng xa, biên
giới. Do đ, trình độ dân trí nơi đây còn hạn chế, việc thực thi chính
sách ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước ở nơi đây gặp nhiều kh
khăn, bất cập.
Như vậy, c thể thấy rằng, cảnh huống ngôn ngữ của tỉnh Sơn
La là điển hình tại vùng Tây Bắc. Hay ni cách khác, cảnh huống ngôn
ngữ của tỉnh Sơn La là cảnh huống ngôn ngữ của vùng Tây Bắc thu nhỏ.
Xuất phát từ yêu cầu của luận văn thạc sỹ và phạm vi mà đề tài
đã xác định, ngưi viết không thể khảo sát được mọi vấn đề liên quan
đến thực thi chính sách dân tộc của toàn vùng Tây Bắc. Để đánh giá
được những thành tựu đã đạt được cũng như những tồ n tạ i, bất cập trong
thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc tại một vùng rộng lớn, trong
nghiên cứu khoa học, ngưi ta thưng tập trung khảo sát một số lĩnh
vực/vùng cụ thể điển hình, kết hợp với dữ liệu cảnh huống chung của
toàn vùng mà đưa ra những nhận xét, đánh giá mang tính khái quát, từ
đ, đưa ra những kiến nghị chung cho cả vùng.


của đài truyền hình trung ương đến vùng dân tộc thiểu số ngày càng
rộng rãi);
6) Phong trào học chữ, tiếng các dân tộc thiểu số được đẩy
mạnh (không chỉ ngưi dân tộc thiểu số mà của cả cán bộ viên chức,
giáo viên ngưi Kinh công tác tại các vùng dân tộc thiểu số - chủ yếu là
tiếng, chữ dân tộc Thái và Mông). Do đ ảnh hưởng tích cực đến công
tác bảo tồn và phát huy văn ha dân tộc tại các vùng dân tộc thiểu số.
Những thành tựu trên gp phần quan trọng vào phát triển kinh
tế, văn ha, xã hội, đảm bảo an ninh, trật tự trên địa bàn Tây Bắc trong
thi gian qua.
3.2. Những tồn tại, bất cập (7 tồn tại, bất cập chính)
1) Tỷ lệ ngưi dân tộc thiểu số không ni được tiếng Việt hoặc
khả năng dùng tiếng Việt yếu còn cao (ngưi Mưng ni được tiếng
Việt là 85%, ngưi Thái là 71%);
2) Tỷ lệ mù chữ và tái mù chữ quốc ngữ của đồng bào dân tộc
thiểu số còn lớn;
3) Nhiều ngôn ngữ dân tộc thiểu số chưa c chữ viết riêng; một
số ngôn ngữ ít ngưi sử dụng đang đứng trước nguy cơ mai một hoặc
biến mất (Kháng, Xinh Mun, Ơ Đu…);
4) Giới trẻ của các dân tộc thiểu số c xu hướng lơ là việc học
tiếng mẹ đẻ do tác động của cơ chế thị trưng (nguyên nhân chính: việc
tổ chức dạy tiếng và chữ viết dân tộc thiểu số ở các địa phương chưa
thực sự bắt nguồn từ nhu cầu, nguyện vọng thực tế của ngưi dân mà
chỉ xuất phát từ một số trí thức dân tộc);
5) Khoảng cách về trình độ học vấn, mức hưởng thụ giá trị văn
hoá tinh thần giữa miền núi với đồng bằng, giữa ngưi Kinh với các dân
tộc thiểu số ngày càng chênh lệch;
6) Công tác dạy và học tiếng dân tộc gặp nhiều kh khăn (thiếu
tư liệu; giáo trình chưa hợp lý; một số ngôn ngữ chưa thống nhất được
chữ viết; chế độ đãi ngộ với ngưi dạy chữ dân tộc chưa đảm bảo; chưa

bất cập, chưa theo sát được sự phát triển của tình hình thực tế, dẫn tới
công tác thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc chưa gắn kết tốt với thực
thi chính sách đoàn kết dân tộc gp phần đảm bảo an ninh quốc gia, đặc
biệt là tại các vùng dân tộc miền núi biên giới phía Bắc.
KẾT LUẬN
Từ những vấn đề đã trình bày từ đầu luận văn, chúng ta c thể
đi đến 5 kết luận về công tác thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc của
Đảng và Nhà nước ở vùng Tây Bắc trong những năm gần.
1) Về lý luận, ngôn ngữ c vai trò là phương tiện giao tiếp vừa
công cụ của tư duy c vị trí quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế
xã hội vùng dân tộc thiểu số của Việt Nam. Quả đúng như thế, qua khảo
sát về nhu cầu và mục đích của ngưi dân tộc khi họ sử dụng ngôn ngữ
trên lãnh thổ miền núi dân tộc Tây Bắc cho thấy, ngưi dân tộc sử dụng
thành thạo tiếng phổ thông (tức ngôn ngữ quốc gia) sẽ là nguồn nhân lực
c trình độ lao động cao hơn, c thu nhập xã hội cao hơn. Cũng vậy,
ngưi đồng thi sử dụng thành thạo tiếng phổ thông và tiếng mẹ đẻ sẽ
c đi sống văn ha phong phú và đa dạng hơn. Chính vì thế, ở Việt
Nam, ngưi dân tộc thiểu số c nhu cầu cao trong việc sử dụng cả tiếng
phổ thông và tiếng mẹ đẻ của mình. Và đồng thi ngưi ta cũng nhận ra
vai trò nghiêng về chức năng “phát triển” kinh tế - xã hội đối với tiếng
phổ thông và ưu tiên về chức năng “nâng cao giá trị văn ha” cho việc
sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình đối với ngưi dân tộc.
C thể ni, chính sách ngôn ngữ dân tộ c cho vùng dân tộc thiểu
số Tây Bắc củ a Đả ng và Nhà nướ c, mặc dù c những bất cập, nhưng rất
đúng đắn, phùy hợp với xu thế chung, đã gp phần quan trọng phát triển
xã hội vùng dân tộc thiểu số ở đây trong suốt thi gian qua. Tuy nhiên,
đã đến lúc, những gì mà chúng ta hiểu về chính sách ngôn ngữ cho vùng
dân tộc thiểu số đã c dưng như không còn đáp ứng với đòi hỏi của
thực tế khách quan.
Xét ở khía cạnh “sử dụng và thụ hưởng giáo dục tiếng phổ

Từ thực tế như vậy, nếu chúng ta cho rằng ở địa bàn ngưi dân
tộc thiểu số, ngưi Kinh sinh sống và nhất là làm việc ở đây c “nghĩa
vụ và quyền lợi” khi sử dụng tiếng dân tộc cũng là điều bình thưng. C
như vậy, về mặt bản chất, chúng ta mới thực sự bảo đảm cho ngưi dân
tộc thiểu số “quyền” được sử dụng tiếng mẹ đẻ. Bởi lẽ, nếu ngưi dân
tộc chỉ khi giáo tiếp với nhau mới được “quyền” sử dụng tiếng mẹ đẻ
của dân tộc mình thì điều đ cũng c nghĩa tiếng mẹ đẻ của họ chỉ được
giới hạn trong nội bộ dân tộc.
Đây chính là tính biện chứng giữa hai nội dung làm nên sự
thống nhất của chính sách ngôn ngữ như trên ở vùng dân tộc thiểu số.
Những gì mà trong nhiều năm qua chúng ta thực hiện chính sách còn bất
cập là do ngưi thực thi n bỏ qua sự biện chứng đ. Và, trong một điều
kiện xã hội mới, ngưi thực thi chính sách nếu không thay đổi quan
niệm như cũ, tính bất cập sẽ càng trầm trọng hơn.
2) Chính sự thay đổi về định hướng phát triển nền kinh tế đất
nước theo hướng thị trưng là điều kiện xã hội làm ảnh hưởng rất nhiều
đến chính sách ngôn ngữ cho nên chính sách về ngôn ngữ cho vùng dân
tộc thiểu số ni chung, ở Tây Bắc ni riêng hiện nay đang thể hiện tính
bất cập trong tình hình thực tiễn mới.
Đ là khi chúng ta chấp nhận nền kinh tế đất nước nói chung
theo hướng thị trưng thì chúng ta phải chấp nhận cả ở vùng dân tộc
cũng phải là nền kinh tế sản xuất hàng ha. Vậy là những cách thức sản
xuất truyền thống của ngưi dân tộc thiểu số vốn chưa phù hợp với sản
xuất hàng ha, không cách này thì cách khác, cũng phải thay đổi. Sự
thay đổi này muốn c hiệu quả thì ưu tiên đầu tiên sẽ là ngôn ngữ, một
công cụ giao tiếp và tư duy. Nền kinh tế sản xuất hàng ha, ngoài vấn đề
sản xuất sản phẩm manh tính hàng ha còn phải biết trao đổi sản phẩm
theo cách trao đổi hàng ha. Lúc này, phương tiện ngôn ngữ lại càng
giữa vị thế quan trong hơn.
3) Khi xuất hiện mối quan hệ giữa tiếng phổ thông (ngôn ngữ quốc

ngôn ngữ dân tộc cũng phải hướng đến mục tiêu cuối cùng là gp phần
đảm bảo an ninh quốc gia tại các vùng dân tộc thiểu số. Nếu an ninh
quốc gia không được đảm bảo, c thể ni rằng, mọi cố gắng của chúng
ta trong mọi mặt đi sống xã hội sẽ gần như bằng không. Đây chính là
cốt lõi của vấn đề.
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
Đối với công tác bảo tồn và truyền bá ngôn ngữ dân tộc
Một là, cần tiến hành các cuộc khảo sát về nhu cầu sử dụng
ngôn ngữ thực sự của ngưi dân tộc thiểu số theo địa bàn, theo lịch sử
khi cụ thể ha các chính sách về ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà
nước. Đặc biệt là trong công tác bảo tồn và phát triển chữ viết của các
ngôn ngữ dân tộc. Tránh làm theo kiểu phong trào, thấy dân tộc này làm
được thì dân tộc khác cũng làm với những cách làm giống nhau.
Hai là, sớm xây dựng đề án triển khai thực hiện Nghị định số 82
của Chính phủ về dạy tiếng ni, chữ viết trong trưng phổ thông và
trung tâm giáo dục thưng xuyên; tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị số 38
của Chính phủ về đẩy mạnh dạy tiếng ni chữ viết cho cán bộ công chức
đang công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Ba là, tiếp tục nghiên cứu và chỉnh sửa bộ tài liệu dạy tiếng, chữ
dân tộc đã c hiện nay cho phù hợp với từng lứa tuổi, từng đối tượng; bổ
sung thêm một số chuyên đề phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội đất
nước.
Bố n là, đề nghị các Sở Giáo dục và Đào tạo ở Tây Bắc tham
mưu cho Bộ Giáo dục và Đào tạo sớm soạn thảo sách giáo khoa học
tiếng, chữ một số dân tộc phổ biến ở Việt Nam cho các bậc học. Tiến
hành dạy song ngữ từ lớp 1 đến lớp 3 ở các vùng dân tộc thiểu số và tại
các trung tâm giáo dục thưng xuyên đối với cán bộ công chức, giáo
viên và ngưi dân c nhu cầu.
Năm là, đề nghị các Sở Giáo dục và Đào tạo ở Tây Bắc c kế
hoạch đào tạo giáo viên dạy tiếng, chữ dân tộc thiểu số. Trước mắt nên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status