Khảo sát tình hình thực thi chính sách ngôn ngữ dân tộc tại vùng Tây Bắc trong những năm gần đây - Pdf 26

MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4. Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6. Cấu trúc của luận văn
NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chính sách ngôn ngữ dân tộc
1.1. Một số cơ sở lý luận về chính sách ngôn ngữ dân tộc
1.1.1. Khái niệm “chính sách”
1.1.2. Khái niệm chính sách ngôn ngữ dân tộc
1.2. Kinh nghiệm xây dựng chính sách ngôn ngữ dân tộc của
một số quốc gia trên thế giới
1.2.1. Xu thế chung
1.2.2. Những kinh nghiệm cụ thể trong chính sách ngôn ngữ
dân tộc của một số nước trên thế giới
1.3. Các văn bản trực tiếp và gián tiếp liên quan đến chính sách
ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước thời gian gần đây
1.4. Tiểu kết chương 1
Chương 2: Cảnh huống ngôn ngữ vùng Tây Bắc
2.1. Khái niệm cảnh huống ngôn ngữ
2.2. Cảnh huống ngôn ngữ vùng Tây Bắc
2.2.1. Khái quát về vùng Tây Bắc

3
4
4
4

3.2.2. Những tồ n tạ i, bất cập
3.3. Những thành tựu và tồ n tạ i, bất cập trong thự c thi chính sách
ngôn ngữ dân tộc tại vùng Tây Bắc trong nhữ ng năm gầ n đây
3.3.1. Nhữ ng thành tựu đã đạt được
3.3.2. Những tồ n tạ i, bất cập
3.4. Tiểu kết chương 3
KẾT LUẬN
Một số kiến nghị đối với Đảng và Nhà nước
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
55
62 63 63
73 75
80
92
94
98
101

3

MỞ ĐẦU

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn này là thông qua việc khảo sát tình hình thực thi
chính sách ngôn ngữ dân tộc tại vùng Tây Bắc trong những năm gần đây,
nhằ m gp phần tham mưu cho Đả ng và Nhà nướ c mà cụ thể là các nhà hoạch
định chính sách c được cái nhìn toàn diện về việc này và đưa ra những hiệ u
chỉnh về chính sách ngôn ngữ dân tộc phù hợp hơn trong thi gian tới.
Từ mục đích trên luận văn c nhiệm vụ như sau:
- Hệ thống ha những lí luận cơ sở về chính sách ngôn ngữ và chính
sách ngôn ngữ ở Việt Nam liên quan đến luận văn.
- Giới thiệu, phân tích cảnh huống ngôn ngữ ở vùng Tây Bắc.
- Khảo sát, đá nh giá tình hình thực hiện và chính sách ngôn ngữ dân tộc
tại vùng Tây Bắc trong những năm gần đây.
- Từ kế t luậ n về tì nh hình thự c thi chí nh sá ch ngôn ngữ dân tộ c tạ i Tây
Bắ c, đề xuất kiến nghị, giải pháp trong thi gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tiến hành khảo sát, nghiên cứu, đánh giá việc thực thi những
chính sách ngôn ngữ dân tộc của Đảng và Nhà nước tại vùng Tây Bắc trong
những năm gần đây, gồm địa bàn 12 tỉnh như Yên Bái, Lào Cai, Điện Biên,
Lai Châu, Sơn La, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Hoà Bình,
Lạng Sơn, Cao Bằng và các huyện phía Tây của 2 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An -
một trong những vùng c tình hình an ninh dân tộc tương đối phức tạp.
5

Tuy nhiên, do địa bàn rất rộng nên luận văn này chỉ khảo sát điểm, tức
là khảo sát trưng hợp ở một số địa bàn nhất định trong vùng.
4. Phƣơng pháp và thủ pháp nghiên cứu
Luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học xã
hội như điền dã, phỏng vấn, nghiên cứu trưng hợp…, phương pháp diễn
dịch, quy nạp và các thủ pháp xử lí tư liệu.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

chính sách ngôn ngữ của Đảng v à Nhà nước tại vùng này. Kết hợp với xu thế
thay đổi cảnh huống ngôn ngữ, luận văn đưa ra những kiến nghị, đề xuất, giải
pháp với Đảng và Nhà nước nhằm giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến
chính sách ngôn ngữ dân tộc , đả m bảo thự c hiệ n tố t công tác bảo tồn và phát
huy bản sắc văn ha dân tộc kết hợp với đảm bảo an ninh quốc gia, giữ gì n
trật tự an toà n xã hộ i tạ i vùng chiến lược Tây Bắc trong thi kỳ công nghiệp
ha, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
7

CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ DÂN TỘC
1.1. Một số cơ sở lý luận về chính sách ngôn ngữ dân tộc
1.1.1. Khái niệm “chính sách”
1) Để trang bị cơ sở lý luận thống nhất cho những vấn đề được đề cập trong
luận văn, trước tiên chúng ta cần làm rõ một số khái niệm.
Trước hết, muốn hiểu được thế nào là chính sách ngôn ngữ dân tộc,
khái niệm đầu tiên phải tìm hiểu là “chính sách”.
Xuất phát từ những gc độ khác nhau nên hiện nay c nhiều định nghĩa về
khái niệm “chính sách” khác nhau. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “Chính
sách (chính trị) là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đưng lối, nhiệm vụ;
được thực hiện trong một thi gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đ.
Bản chất, nội dung và định hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của
đưng lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn ha, xã hội… Muốn định ra chính
sách đúng, phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai
đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đưng
lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể”.
Định nghĩa này đã nêu được các yếu tố tạo thành khái niệm chính sách
như nội dung, lĩnh vực, thi điểm cơ sở để hoạch định chính sách, việc thực
thi chính sách… nhưng dưng như còn thiếu một yếu tố là “chủ thể đưa ra
chính sách” - cái được thể hiện trong các định nghĩa khác về chính sách.

hiện đưng lối ở một thi kỳ nhất định”. Theo đ, chủ thể đưa ra chính sách
là “nhà nước” hoc “chính đảng”.
Trong khi đ, Wikipedia thì cho rằng, chủ thể duy nhất là chính phủ và
giải thích như sau:
- Chính sách là quyết định của chính phủ (ni rộng ra là của nhà nước),
chứ không phải là quyết định của một đảng hoc một tổ chức chính trị hoc
một cá nhân nào đ.
- Chính sách là quyết định của chính phủ nhằm giải quyết một vấn đề
nào đ liên quan đến sự phát triển của con ngưi và xã hội thuộc phạm vi
quản lý nhà nước.
Chính sách là quyết định được thực thi chứ không phải là quyết định chỉ tồn
tại trên giấy t, tức là bao gồm cả chủ trương và hành động thực hiện chủ trương.
“Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện
nào đó của chính phủ; nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được
và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự
phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường”
[xem 20, trang 103].
2) Ở Việt Nam, liên quan đến khái niệm chính sách còn c hai khái
niệm là “đưng lối” và “chủ trương”.
Đường lối là phương hướng c tính chỉ đạo lâu dài trong hoạt động
(thưng của một quốc gia, một tổ chức chính trị lớn).
Chủ trương là những điều quyết định về phương hướng hoạt động.
Trong mối quan hệ với hai khái niệm này, chính sách là “chủ trương và
các biện pháp của một đảng phái, của một chính phủ trong một lĩnh vực chính
10

trị xã hội” (Đại từ điển tiếng Việt); chính sách là “sách lược và kế hoạch cụ
thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đưng lối chính trị và thực tế
đt ra”. (Sách lược là những hình thức tổ chức và đấu tranh để giành thắng lợi
trong một cuộc vận động chính trị - Từ điển tiếng Việt).

C thể khẳng định rằng, chính sách ngôn ngữ là chính sách thuộc phạm
vi/lĩnh vực ngôn ngữ, vì thế, khái niệm về chính sách ngôn ngữ phải đảm bảo
được các yếu tố cấu thành chính sách ni chung và những yếu tố cấu thành
chính sách ngôn ngữ ni riêng.
Từ khi thuật ngữ Chính sách ngôn ngữ (Language Policy) lần đầu tiên
xuất hiện trong tác phẩm “Ngôn ngữ học xã hội” (“Sociolinguistic”) bằng
tiếng Anh của tác giả J.A. Fishman đến nay, đã c nhiều định nghĩa về chính
sách ngôn ngữ. Chẳng hạn:
“Chính sách ngôn ngữ là hệ thống biện pháp nhằm tác động một cách c ý
thức để điều chỉnh mt chức năng của ngôn ngữ và thông qua đ tác động đến
cấu trúc ngôn ngữ ở một chừng mực nhất định”. (V.A. Avrorin, 1970).
Chính sách ngôn ngữ “là một bộ phận hữu cơ trong chính sách dân tộc
của một nhà nước, một giai cấp hay một đảng phái nào đ” và là “bình diện
ngôn ngữ trong chính sách (cương lĩnh) của đảng và nhà nước về vấn đề dân
tộc”. (Avrorin, Isaev).
“Về mt xã hội, chính sách ngôn ngữ là một bộ phận trong chính sách
đối nội của giai cấp thống trị nhà nước trong một quốc gia nhất định”. “Chính
sách ngôn ngữ c bình diện lý thuyết của n, phụ thuộc vào chính sách của xã
12

hội (nhà nước) và bình diện thực tiễn, tức là toàn bộ các biện pháp ngôn ngữ
cụ thể được thi hành để thực hiện các quan điểm lý thuyết. Như vậy tôi hiểu
chính sách ngôn ngữ là toàn bộ các biện pháp, được định ra để tác động, điều
chỉnh c định hướng các quá trình ngôn ngữ, được thực hiện bởi xã hội (nhà
nước)”. (Nikolskij, 1982).
“Ni đến chính sách ngôn ngữ là ni đến sự can thiệp c ý thức, c tổ
chức, c cơ sở khoa học của xã hội và sự hoạt động, phát triển của ngôn ngữ.
Ni cách khác, chính sách ngôn ngữ là sự lãnh đạo những yêu cầu ngôn ngữ học
của xã hội dựa trên sự hiểu biết khoa học về những quy luật của ngôn ngữ, đưa
ngôn ngữ vào quỹ đạo phát triển chung của xã hội, làm cho ngôn ngữ phục vụ ăn

ngôn ngữ của thiểu số - tùy thuộc vào đc thù thể chế chính trị của quốc gia,
vùng lãnh thổ đ. Xung đột giữa các cộng đồng ngôn ngữ khác nhau để tranh
giành vị trí ngôn ngữ chủ đạo vẫn thưng xảy ra. Điều này sẽ dẫn đến bất ổn về
chính trị, an ninh, trật tự kéo theo là kinh tế, văn ha, xã hội,…
Vì vậy, bên cạnh chính sách phát triển ngôn ngữ chủ đạo, ngưi ta cũng
phải c chính sách đối với những ngôn ngữ thứ yếu còn lại (thưng là ngôn
ngữ của các dân tộc thiểu số).
Việt Nam c tất cả 54 dân tộc anh em cùng chung sống hòa bình, và
mỗi dân tộc c ngôn ngữ riêng của mình. Mc dù Đảng và Nhà nước ta chưa
c văn bản nào chính thức quy định tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia, nhưng
trên thực tế c thể ni tiếng Việt đang hành chức là ngôn ngữ quốc gia thực
thụ, các ngôn ngữ còn lại giữ vai trò thứ yếu. Vì vậy, bên cạnh chính sách
14

phát triển đối với tiếng Việt, Đảng và Nhà nước ta cũng c những chính sách
cụ thể quan tâm đến duy trì và phát triển ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số.
Kết hợp định nghĩa về chính sách ngôn ngữ với những phân tích trên,
c thể đưa ra khái niệm về chính sách ngôn ngữ dân tộc như sau:
Chính sách ngôn ngữ dân tộc là chủ trương chính trị và các biện pháp
thực hiện chủ trương đó về ngôn ngữ dân tộc của nhà nước hoặc các tổ chức
chính trị trong phạm vi quốc gia hoặc xuyên quốc gia.
1.2. Kinh nghiệm xây dựng chính sách ngôn ngữ dân tộc của một số
quốc gia trên thế giới
1.2.1. Xu thế chung
Chính sách đối với các ngôn ngữ dân tộc thiểu số là một trong hai nội
dung quan trọng, không thể thiếu trong chính sách ngôn ngữ của bất kỳ quốc
gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ nào. Các vấn đề đt ra đối với chính sách này
thưng xoay quanh việc bảo tồn và phát huy các ngôn ngữ dân tộc thiểu số,
gồm các nội dung như: việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc thiểu số với tư cách là
tiếng mẹ đẻ; chữ viết các ngôn ngữ dân tộc thiểu số; giáo dục song, đa ngữ;

chỉnh về chính sách ngôn ngữ nhằm đẩy mạnh quá trình thống nhất về kinh tế,
đồng thi tôn trọng và phát triển văn ha, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số. Điều
đ c nghĩa là, ở các quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ, chính sách ngôn ngữ
dân tộc cần xây dựng trên cơ sở dung hòa quyền lợi quốc gia và quyền lợi của
mỗi dân tộc, tạo nên sự thống nhất - đa dạng về ngôn ngữ. Xuất phát từ thực
tiễn đ, trong những năm gần đây, nhiều nước đã c những sự điều chỉnh
trong chính sách ngôn ngữ dân tộc.
16

Ở Pháp, nếu như từ năm 1794 đến 1951 c luật cấm sử dụng các ngôn
ngữ dân tộc thiểu số và các phương ngữ tiếng Pháp thì đến năm 1971 đã bỏ
luật cấm sử dụng các ngôn ngữ Boston, Basco, Katalan, Oxtan…
Ở Na Uy, suốt 50 năm, tiếng Saam bị cấm đoán, không được giảng dạy
cho ngưi Saam thì ngày nay đã c trưng học riêng dạy ngôn ngữ này và c
trung tâm văn ha Saam.
Ấn Độ công khai đảm bảo các quyền ngôn ngữ dân tộc thiểu số cho các
tiểu bang: sự đảm bảo này được thể hiện bằng một thoả thuận của các bộ trưởng
chính yếu của các bang (1961), theo đ, nếu trong một lĩnh vực bất kỳ c 15% dân
số thuộc các nhm thiểu số, thì các tài liệu chính thức phải được xuất bản bằng các
ngôn ngữ thiểu số. Nhưng thực tế, các ngôn ngữ dân tộc thiểu số thưng bị lãng
quên trong giao tiếp chính thức cũng như trong các tài liệu chính thức.
Ở Mỹ, tuy không tuyên bố ngôn ngữ nào là ngôn ngữ quốc gia, nhưng
tiếng Anh (Anh Mỹ) là một ngôn ngữ nổi trội trong đi sống nước Mỹ. Tiếng
Anh là ngôn ngữ cơ bản được dùng trong giao tiếp của nhà nước, trong đối
ngoại, trong nền hành chính nội bang, liên bang và địa phương, trong các
trưng học, trên các phương tiện thông tin đại chúng, thể dục thể thao, giải
trí,… Ngay cả đơn từ như xin việc làm, đăng ký thất nghiệp, nhập học, xin
cấp bằng lái xe,… cũng phải bằng tiếng Anh. Cho nên những ngưi sống trên
đất Mỹ không thể ngoảnh mt với tiếng Anh mà ngược lại, coi tiếng Anh là
một ngôn ngữ bắt buộc. Ngay cả vùng New Mexico coi tiếng Tây Ban Nha là

nhất hai ngôn ngữ là tiếng mẹ đẻ và tiếng nước ngoài (nếu như tiếng mẹ đẻ
là tiếng Anh) hoc tiếng mẹ đẻ và tiếng Anh (nếu tiếng mẹ đẻ không phải
là tiếng Anh).
18

1.2.2. Những kinh nghiệm cụ thể trong chính sách ngôn ngữ dân tộc
của một số nước trên thế giới
Chính sách ngôn ngữ dân tộc là một vấn đề mà bất kỳ quốc gia c chủ
quyền nào cũng rất quan tâm. Vì vậy trong thực tế, c rất nhiều chính sách
ngôn ngữ khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta không thể tham khảo tất cả các cách
giải quyết đã c trên thế giới mà phải c một sự lựa chọn nhất định. Việc lựa
chọn chính sách của một quốc gia nào đ để tham khảo, trước hết phụ thuộc
vào khả năng c hay chưa c tư liệu của nước ấy, sau đ là phụ thuộc vào
nước đ c cảnh huống ngôn ngữ giống ta hay không và cuối cùng là những
nước đ c láng giềng gần gũi với chúng ta không.
Đương nhiên, trong từng giai đoạn nhất định chúng ta sẽ phải tạo điều
kiện để từng bước bổ sung đầy đủ những kinh nghiệm của nhiều nước khác
nhau và đ chính là nhu cầu hoàn thiện chính sách của chúng ta về vấn đề
này. Dưới đây là kinh nghiệm của một số nước c cảnh huống ngôn ngữ
tương đối giống với Việt Nam:
1) Kinh nghiệm của Australia
Tính đến ngày 29/12/2011, dân số Australia c 22.804.610 ngưi, hàng
ngày sử dụng nhiều ngôn ngữ. Sự đa dạng ngôn ngữ không phải là hiện tượng
mới c hiện nay của quốc gia này mà là sự đa dạng c từ trước khi ngưi
Châu Âu chinh phục. Nơi đây, theo các nhà nghiên cứu, đã từng là xã hội đa
ngôn ngữ với khoảng 200 đến 250 ngôn ngữ khác nhau của ngưi bản xứ.
Vào cuối thế kỷ XVII, tiếng Anh được đưa vào quốc gia này cùng với nhiều
ngôn ngữ khác nhau do dòng ngưi nhập cư từ những vùng khác nhau trên thế
giới. Từ giữa thế kỷ 19 đến nay, tiếng Anh là ngôn ngữ c quyền lực lớn nhất
và là ngôn ngữ để cho các tập thể không ni tiếng Anh dùng chung trong giao


tiến hành theo nhu cầu hơn là sự lựa chọn, các lợi ích về văn ha và tri thức
vẫn là nguyên nhân chính khiến cho ngưi Australia đảm bảo việc dạy ngôn
ngữ thứ hai được tiếp tục và đẩy mạnh”.
C thể thấy một điều là những ngưi xây dựng chính sách giáo dục
song ngữ bản địa ở nước này nhấn mạnh đến tính nhu cầu của ngưi thụ
hưởng giáo dục. Như vậy, việc tiếng mẹ đẻ của một vùng cư dân bản địa nào
đ được đưa vào giảng dạy là xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của cư dân là chủ
thể của ngôn ngữ ấy, mà không phải là sự áp đt chủ quan của những ngưi
xây dựng chính sách. Cách đt vấn đề như vậy là phù hợp với thực tiễn vì
việc học tiếng mẹ đẻ như một ngôn ngữ thứ hai không phải là một vấn đề đơn
giản. N vừa mất thi gian vật chất của ngưi thụ hưởng giáo dục, n vừa tốn
kém về chi phí để c thể thực hiện điều đ. Vì thế, nếu không xuất phát từ
nhu cầu nội tại của ngưi thụ hưởng thì những khó khăn ấy sẽ nhân lên gấp
bội, do đ kh c thể thực hiện được.
Cùng với việc nhấn mạnh tính nhu cầu trong giáo dục song ngữ, ngưi
ta còn thấy ở đây họ nhấn mạnh đến lợi ích về văn ha tri thức của ngưi thụ
hưởng giáo dục song ngữ, coi đây là nguyên nhân chính thúc đẩy, quy định
tính nhu cầu của ngưi thụ hưởng sự giáo dục ấy. Rõ ràng, khi thực hiện giáo
dục tiếng mẹ đẻ cùng với ngôn ngữ quốc gia cho một bộ phận cư dân nào đ,
ngưi ta không thể không tính đến lợi ích về văn ha của họ. Lợi ích này càng
cao thì tính cấp thiết của nhu cầu này càng lớn và điều này cũng chỉ là hệ quả
của một vấn đề khác. Đ là tình trạng ngôn ngữ của một cư dân c một nền
văn ha đa dạng và phong phú sẽ gánh trách nhiệm là công cụ phản ánh lợi
ích văn ha ấy nng hơn ngôn ngữ của một cư dân khác chưa c một sự đa
dạng và phong phú văn ha như vậy. C lẽ cùng một cách nhìn như vậy mà
Josph Lo Bianco viết rằng: “Trong quan hệ với các nhm văn ha truyền
thống đã c chữ viết, các kiến thức sâu sắc nhất chỉ c thể được lĩnh hội qua
21


chân tri văn ha và suy nghĩ của ngưi dân Australia”.
Như vậy, ở một đất nước có sự đa dạng về ngôn ngữ, trong đ tiếng Anh
là một ngôn ngữ có vai trò ngôn ngữ quốc gia, ngưi ta vẫn nhận thấy tính thiết
yếu của việc giáo dục song ngữ. Đồng thi ngưi ta cũng nhận thấy tính bổ
sung việc làm phong phú cho nhau chứ không gây cản trở trong việc tiếp nhận
ngôn ngữ này hay ngôn ngữ khác của ngưi dân trong thụ hưởng giáo dục. Với
một đất nước phát triển tựa như Australia, những điều mà họ tổng kết sẽ là một
ví dụ hữu ích để chúng ta tham khảo khi xây dựng cho mình một chính sách
ngôn ngữ vân ha ở vùng dân tộc miền núi [xem 15, trang 102].
2) Kinh nghiệm của Malaysia
Cũng giống như Australia, Malaysia là một quốc gia sử dụng nhiều
ngôn ngữ. Với số dân 28.334.135 ngưi (số liệu tính đến ngày 6/7/2010),
quốc gia này c bốn cộng đồng chính gồm:
+ Cộng đồng ngưi bản xứ chiếm 56% dân số cả nước, trong đ ngưi
Melayu c 47%, còn lại 9% là các dân tộc bản địa khác như Jakem, Xê noi,
Xê mang, Ketabit, Katasan, Klêmantan
+ Cộng đồng ngưi Trung Quốc chiếm khoảng 35% dân số cả nước
sống chủ yếu ở phía Tây và phía Nam bán đảo Malắcca.
+ Cộng đồng ngưi Ấn Độ chiếm khoảng 8% dân số, sống ở cả thành
thị và nông thôn.
+ Cộng đồng các ngôn ngữ nhập cư khác chiếm gần 1% dân số như ngưi
Thái, ngưi A rập, ngưi Aphran, ngưi Bồ Đào Nha v.v Điều này cho thấy
đất nước Malaysia là một quốc gia đa ngôn ngữ và trong một chừng mực nào đ
nước này c bối cảnh ngôn ngữ giống như bối cảnh ngôn ngữ ở nước ta.
23

Quốc gia Malaysia là một quốc gia láng giềng với nước ta, cùng trong
cộng đồng các nước ASEAN. Do đ, chúng ta c rất nhiều mối quan hệ khác
nhau với đất nước này. Hơn nữa, nhiều dân tộc thiểu số ở Malaysia c quan
hệ ngữ hệ với một số dân tộc thiểu số ở nước ta. Những hiểu biết của chúng ta

là phương tiện giao tiếp giữa các dân tộc ni những thứ tiếng khác nhau trên lãnh
thổ Malaysia, được dùng giảng dạy trong các trưng phổ thông. Trong khi đ,
tiếng Anh lại được dùng phổ biến hơn trong các văn bản hành chính nhà nước, là
ngôn ngữ giảng dạy trong các trưng phổ thông trung học và là ngôn ngữ chiếm
ưu thế ở bậc đại học. Tiếng Anh cũng là một phương tiện giao tiếp bên trong
một cộng đồng dân tộc, giữa các tộc ngưi với nhau và đc biệt trong giới quý
tộc và trí thức Malaysia. Như vậy, mc dù công nhận tiếng Melayu c vai trò là
ngôn ngữ quốc gia trong khi ngôn ngữ này bị cạnh tranh quyết liệt về mt chức
năng, nhưng nhà nước Malaysia vẫn không loại bỏ chủ trương giáo dục song
ngữ để giành vị thế độc tôn cho tiếng Melayu.
Sự cạnh tranh quyết liệt vai trò là ngôn ngữ quốc gia của tiếng Melayu
ở Malaysia c lý do của n. Trước hết, đ là tình trạng sự phát triển tự thân
của tiếng Melayu chưa đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của xã hội (chẳng hạn
các thuật ngữ khoa học, tính ổn định của các quy tắc chính tả của tiếng
Melayu ). Thứ đến là sự tác động của yếu tố xã hội của việc sử dụng ngôn
ngữ ở đất nước này. Bởi vì khi tiếng Melayu được tuyên bố là ngôn ngữ Quốc
gia, c nhiều cộng đồng sử dụng các ngôn ngữ khác chưa chấp thuận, trước
hết là cộng đồng ni tiếng Hoa và cộng đồng ni tiếng Ta min. Những bộ
phận này cũng muốn ngôn ngữ của họ c vị thế ngang bằng với tiếng Melayu.
Đứng trước một tình hình như vậy, chính phủ Malaysia một mt vẫn
kiên trì đảm bảo vai trò ngôn ngữ Quốc gia của tiếng Melayu, theo hướng
25

từng bước hoàn thiện ngôn ngữ này để n đảm trách là công cụ giao tiếp và
phương tiện tư duy của mọi công dân, mt khác, vẫn chấp nhận giáo dục song
ngữ (ở phổ thông trung học, đại học) và đa ngữ ở cấp phổ thông cơ sở. Chính
phủ nước này không vì những kh khăn c ảnh hưởng tới vai trò ngôn ngữ
quốc gia mà xử lý cực đoan là giữ vai trò độc tôn của tiếng Melayu hay “thả
nổi” tiếng Melayu trong sự cạnh tranh với ngôn ngữ khác. Tình trạng như thế
rõ ràng là khác với nước ta khi tiếng Việt vừa được thừa nhận là vai trò ngôn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status