LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự
hướng dẫn khoa học của TS.Hoàng Anh Huy.
Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đồ án này là trung thực và chưa công
bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ
cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn
khác nhau và có chú thích rõ nguồn gốc.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về
nội dung đồ án của mình.
Hà Nội, tháng 6 năm 2016
Sinh viên
Nguyễn Thị Huyền Trang
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đồ án tốt nghiệp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
thầy giáo TS.Hoàng Anh Huy đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất cho
em trong suốt quá trình viết đồ án.
Em chân thành cảm ơn các thầy, cô trong khoa Môi trường cũng như các thầy,
cô giáo các khoa, bộ môn khác của Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà
Nội đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em học tập. Vốn kiến thức
được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu đồ
án mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời một cách vững chắc và tự tin.
Em cũng xin chân thành cảm ơn các anh chị của công ty DVMT và QLĐT
Tuyên Quang đã tạo điều kiện tốt nhất cho em trong quá trình tìm kiếm tài liệu và
khảo sát thực tế phục vụ đồ án tốt nghiệp của mình.
Cuối cùng em kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự
nghiệp cao quý.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 6 năm 2016
Chất thải rắn y tế nguy hại
BVMT
Bảo vệ môi trường
UBND
Ủy ban nhân dân
DVMT
Dịch vụ môi trường
QLĐT
Quản lý đô thị
TP
Thành phố
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH
MỞ ĐẦU
6
tâm của các cấp chính quyền và cả cộng đồng.Tôi đã chọn đề tài “Đánh giá hiện
trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Huyện Sơn Dương, tỉnh
Tuyên Quang và đề xuất giải pháp quản lý phù hợp” với mục đích nâng cao
hiệu quả quản lý chất thải rắn nói chung và chất thải sinh hoạt nói riêng, đồng thời
tăng cường ý thức bảo vệ môi trường cho người dân.
2. Mục tiêu nghiên cứu
-
Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị Huyện Sơn
-
Dương.
Đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp chất thải rắn sinh hoạt nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả trong công tác quản lý chất thải rắn, giảm thiểu ô nhiễm môi trường do
-
chất thải rắn gây ra
Dự báo khối lượng chất thải rắn sinh hoạt tại Huyện Sơn Dương đến năm 2025
3. Nội dung nghiên cứu.
-
Điều tra tình hình chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn Huyện Sơn Dương
+ Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
•
•
Đề xuất phương án giảm thiểu phát thải trên địa bàn Huyện Sơn Dương.
Đề xuất phương án nâng cao hiệu quả thu gom chất thải rắn trên địa bàn Huyện Sơn
Dương.
+ Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng thể chế, chính sách vào thực tiễn:
•
•
Giải pháp về tổ chức, quản lý.
Các thể chế, chính sách hỗ trợ xã hội
+ Đề xuất các giải pháp hỗ trợ khác.
8
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt
1.1 Một số khái niệm
Chất thải rắn theo Nghị định 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu,
chất thải rắn được hiểu là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải
ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
Như vậy, chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn
nguy hại.
Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh
trong sinh hoạt thường ngày của con người.Nguồn tạo thành chủ yếu là các khu dân
cư, các cơ quan trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại.
Chất thải rắn nguy hại là chất thải rắn chứa các chất hoặc hợp chất có một
Khu công cộng
Đường phố, công viên, khu vui chơi giải trí, bãi tắm.
1.3 Thành phần và tính chất của chất thải rắn sinh hoạt
a) Thành phần
9
Thành phần CTR sinh hoạt phụ thuộc vào nguồn thải. Mỗi nguồn thải khác
nhau lại có thành phần chất thải khác nhau như: Khu dân cư và thương mại có thành
phần chất thải đặc trưng là chất thải thực phẩm, giấy, carton, nhựa, vải, cao su, rác
vườn, gỗ, nhôm...Chất thải từ dịch vụ như rửa đường và hẻm phố chưa bụi, rác, xác
động vật, xe máy hỏng..., chất thải thực phẩm như can sữa, nhựa hỗn hợp...
Bảng 1.2. Thành phần của chất thải rắn sinh hoạt
Thành phần
Định nghĩa
Các chất cháy được
Giấy
Các vật liệu làm từ giấy bột và giấy
Ví dụ
Các túi giấy, mảnh bìa, giấy
vệ sinh
Hàng dệt
Các nguồn gốc từ các sợi
Vải, len, nilon...
Thực phẩm
Các chất thải từ đồ ăn thực phẩm
Cọng rau, vỏ quả, thân cây,
Tất cả các vật liệu khác không phân Đá cuội, cát, đất, tóc...
loại trong bảng này. Loại này có thể
chưa thành hai phần: kích thước lớn
hơn 5 mm và loại nhỏ hơn 5 mm
b) Tính chất của chất thải rắn sinh hoạt
• Tính chất vật lý
Trong những tính chất vật lý của chất thải rắn sinh hoạt thì khối lượng riêng,
độ ẩm,khả năng giữ ẩm thực tế thường được quan tâm nhất.
10
-
Khối lượng riêng
Khối lượng riêng được định nghĩa là khối lượng CTR trên một đơn vị thể tích,
tính bằng kg/m3. Khối lượng riêng của CTR sẽ rất khác nhau tùy theo phương pháp
lưu trữ: để tự nhiên không chứa trong thùng, chứa trong thùng và không nén, chứa
trong thùng và nén. Khối lượng riêng của chất thải đô thị dao động trong khoảng
180 – 400 kg/m3 , điển hình khoảng 300 kg/m3.
-
Độ ẩm
Độ ẩm của CTR thường được biểu diễn theo một trong hai cách: tính theo
thành phần phần trăm khối lượng ướt và thành phần phần trăm khối lượng khô.
Trong lĩnh vực quản lý CTR, phương pháp khối lượng ướt thông dụng hơn.
-
trình nhiệt phân CTR như sau: dòng khí sinh ra chứa H 2, CH4, CO2 và nhiều khí
khác tùy thuộc vào bản chất của chất thải đem nhiệt phân; hắc ín và/hoặc dầu dạng
lỏng ở điều kiện nhiệt độ phòng chứa các hóa chất như acetic acid, acetone và
methanol; than bao gồm carbon nguyên chất cùng với những chất trơ khác.
Khí hóa
Quá trình khí hóa bao gồm quá trình đốt cháy một phần nhiên liệu carbon để
tạo thành khí nhiên liệu cháy được giàu CO, H 2 và một số hydrocarbon no, chủ yếu
là CH4.Khí nhiên liệu cháy được sau đó được đốt cháy trong động cơ đốt trong hoặc
nồi hơi.
• Tính chất sinh học
Đặc tính sinh học quan trọng nhất của thành phần chất hữu cơ có trong
CTRSH là hầu hết các thành phần này đều có khả năng chuyển hóa sinh học tạo
thành khí, chất rắn hữu cơ trơ và các chất vô cơ.Trong quá trình phân hủy chất hữu
cơ, đặc biệt từ thực phẩm thì việc phát sinh mùi và ruồi nhặng cũng là vấn đề đáng
lưu tâm.
1.4 Tác động của chất thải rắn sinh hoạt
a) Tác động của CTRSH đến môi trường đất
Đối với rác thải không phân hủy như nhựa, cao su, sành sứ, thủy tinh..nếu
không có giải pháp thích hợp sẽ dẫn đến nguy cơ thoái hóa và giảm độ phì của đất.
Các chất thải rắn được tích luỹ trong đất theo thời gian dài gây ra nguy cơ
tiềm ẩn đối với môi trường. Các chất thải kim loại, đặc biệt là các kim loại nặng
như chì, kẽm, đồng, niken, cadimi…tích tụ trong đất và gây hiệu ứng thích lũy theo
thời gian, xâm nhập vào cơ thể con người qua các chuỗi thức ăn. Các chất thải gây ô
nhiễm đất ở mức độ lớn là các chất tẩy rửa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc
nhuộm, chất thải của các ngành công nghiệp như thuộc da, công nghiệp hóa chất...
12
ẩm và các vi sinh vật, CTR hữu cơ bị phân hủy và sản sinh ra các chất khí CH 4 53,8%, CO – 33,6% và một số khí khác gây mùi khó chịu. Khối lượng khí phát ra từ
13
các loại rác thải lộ thiên chịu ảnh hưởng đáng kể của nhiệt độ không khí và thay đổi
đáng kể theo mùa, khi nhiệt độ tăng lượng khí thải phát ra nhiều hơn do đó vào mùa
hè các loại rác thải phân hủy nhanh hơn và tạo mùi khó chịu hơn vào mùa đông.
Đối với các bãi chôn lấp thải lộ thiên khí phát sinh trong quá trình phân hủy rác có
thể thoát lên trên mặt đất mà không cần bất kỳ sự tác động nào.
Các chất khí phát sinh mùi khi chất thải rắn phân hủy bao gồm: Amoni có mùi
khai, phân có mùi hôi, Hydrosunfur có mùi trứng thối, sunfur hữu cơ mùi bắp cải
thối, mecaptan hôi nồng, admin mùi cá ươn, diamin mùi thịt thôi, Cl 2 hôi nồng,
phenol có mùi đặc trưng.
d) Tác động đến sức khỏe cộng đồng
Theo tổng kết từ tổ chức Y tế thế giới, chất thải rắn sinh hoạt gây ra 22 loại
bệnh cho con người. Trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn lỵ, trực khuẩn lao tồn tại
được từ 2 đến 42 ngày trong rác. Riêng trực khuẩn phó thương hàn tồn tại lâu hơn
từ 24 đến 107 ngày. Rác sinh hoạt với thành phần hữu cơ chiếm từ 30 ÷ 70%, trong
điều kiện ẩm ướt của các vùng nhiệt đới là môi trường tốt cho các vi sinh vật phát
triển. Các loại vi trùng gây bệnh thực sự phát huy tác dụng khi có các vật chủ trung
gian gây bệnh tồn tại trong các bãi chôn lấp như những ổ chứa chuột, ruồi, muỗi...
và nhiều loại ký sinh trùng gây bệnh cho người và gia súc, một số bệnh điển hình do
các trung gian truyền bệnh như: chuột truyền bệnh dịch hạch, bệnh sốt vàng da do
xoắn trùng, ruồi, gián truyền bệnh đường tiêu hoá; muỗi truyền bệnh sốt rét, sốt
xuất huyết...
Trong thành phần rác thải sinh hoạt, thông thường hàm lượng hữu cơ chiếm tỉ
lệ lớn.Loại rác này rất dễ bị phân huỷ, lên men, bốc mùi hôi thối. Rác thải không
được thu gom, tồn đọng trong không khí, lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ con
tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn
đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2050;
• Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2009 của chính phủ
về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn;
• Thông tư số 39/2008/TT-BTC ngày 19 tháng 5 năm 2008 của bộ Tài chính
hướng dẫn việc thi thành Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm
2008 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn.
2. Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt các nước trên thế giới và Việt Nam
2.1. Tình hình quản lý CTRSH các nước trên thế giới
a) Tình hình phát sinh
15
Theo Ngân hàng Thế giới, các khu vực đô thị của châu Á mỗi ngày phát sinh
khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị. Đến năm 2025, con số này sẽ tăng tới 1,8
triệu tấn/ngày (World Bank, 1999). Tỷ lệ chất thải gia đình trong dòng chất thải rắn
đô thị rất khác nhau giữa các nước. Theo ước tính, tỷ lệ này chiếm tới 60-70% ở
Trung Quốc, 78% ở Hồng Kông (kể cả chất thải thương mại), 48% ở Philipin và
37% ở Nhật Bản. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 1999), các
nước có thu nhập cao chỉ có khoảng 25-35 % chất thải gia đình trong toàn bộ dòng
chất thải rắn đô thị.
Theo kết quả nghiên cứu của Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA,
1997), tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị ở Philipin theo các nhóm người có thu
nhập khác nhau là: thu nhập cao: 0,37-0,55 kg/người/ngày, thu nhập trung bình:
0,37-0,60 kg/người/ngày và thu nhập thấp: 0,62-0,90 kg/người/ngày. Tương tự, các
kết quả phân tích tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị theo GDP tính trên đầu người
của các nước thuộc OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế), Hoa Kỳ và
Ôxtrâylia được xếp vào nhóm các nước có tỷ lệ phát sinh cao; nhiều nước thuộc
Liên minh châu Âu được xếp vào nhóm có tỷ lệ phát sinh trung bình và Thuỵ Điển,
giảm bớt sự thiếu hụt một vật liệu nào đó. Tuy nhiên cần phải tham khảo và thương
lượng, nhất trí với các tổ chức, nghiệp đoàn trước khi áp đặt các yêu cầu này ( Trần
Hiếu Nhuệ, 2001) .
Ở Singapo: Đây là nước đô thị hoá 100% và là đô thị sạch nhất trên thế giới.
Để có được như vậy, singapo đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lí rác
thải đồng thời xây dựng một hệ thống pháp luật nghiêm khắc làm tiền đề cho quá
trình xử lí rác thải tôt hơn. Rác thải singapo được thu gom và phân loại bằng túi
nilon. Các chất thải có thể tái chế được đưa vào nhà máy tái chế lại còn các loại chất
thải khác được đưa về nhà máy khác để thiêu huỷ. Ở singapo có hai thành phần
tham gia chính cho thu gom và xử lí rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và các
công ty, hơn 300 công ty tư nhân chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương
mại . Tất cả các công ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát,
kiểm tra trực tiếp của Sở Khoa học công nghệ và Môi trường. Ngoài ra, các hộ dân
và các công ty ở singapo được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác thải cho
các hộ dân thu gom rác trực tiếp tại nhà phải trả phí 17 đôla singapo/tháng, thu gom
gián tiếp tại các khu dân cư chỉ phải trả phí 7đôla Singapo/tháng.
Đối với các nước Châu Á, chôn lấp chất thải vẫn là phương pháp phổ biến vì
chi phí rẻ. Trung Quốc và Ấn Độ có tỷ lệ chôn lấp tới 90%.. Tuy vậy, các nước
đang phát triển đã có nỗ lực cải thiện chất lượng các bãi chôn lấp, như Thổ Nhĩ Kỳ
17
đã cấm các bãi đổ hở năm 1991 và Ấn Độ đã hạn chế chôn lấp các loại chất thải khó
phân huỷ sinh học, chất thải trơ và các loại chất thải có thể tái chế.
Hàn Quốc và Nhật Bản là những nước phát triển, công tác quản lý môi trường
đã đi vào nề nếp, hàng năm Chính phủ, chính quyền địa phương vẫn rất quan tâm
tới định hướng chiến lược phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường. Nhà
nước định hướng và quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp môi trường (quy
hoạch định hướng phát triển các nhà máy tái chế, tái sử dụng với sự bảo hộ về phân
theo đầu người
(kg/người/ngày)
Đô thị ( toàn quốc )
- Tp. Hồ Chí Minh
- Hà Nội
- Đà Nẵng
Nông thôn ( toàn quốc )
0,7
1,3
1,0
0,9
0,3
so với
tổng lượng
chất thải
50
9
6
2
50
%
thành phần
hữu cơ
55
60 – 65
18,6
1.077,75 1314,57
188,63
11,96
4.146,37 5.447,12
1.137,17
15,0
1.268,66 459,5
8.981,35 7.567,46
165,24
1.583,15
2,48
14,70
3.625,82 2163,12
352,03
7,49
Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011
Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt trung bình ở các đô thị có chiều hướng
tăng rõ rệt, nhưng vẫn ở mức thấp, tỷ lệ tăng còn chậm. Tỷ lệ thu gom chất thải sinh
hoạt trung bình cho cả nước chỉ tăng từ 65% đến 71% trong giai đoạn 2000 đến
2004 (Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2004 - CHẤT THẢI RẮN). Theo
kết quả thống kê năm 2006 - 2007, tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở các đô thị đạt bình
quân tại các đô thị thuộc khu vực Nam Trung Bộ là 78%, các đô thị thuộc khu vực
Tây Nguyên - 67%, thấp nhất là các đô thị khu vực Đồng bằng sông Cửu Long chỉ
đạt 65,2%.
Bảng 1.5. Hiện trạng thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các vùng năm 2011
STT
Vùng
Lượng
20
Lượng thu
Tỷ lệ
phát sinh
1
2
Đồng bằng sông Hồng
Trung du và miền núi phía Bắc
Bắc Trung bộ và Duyên hải miền
65
8981,35
7590,91
81
3625,82
2362,13
69
Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011
.
Hình 1.2. Tỉ lệ thu gom CTRSH tại các vùng năm 2011
Biểu đồ hình 1.2 và bảng 1.5 cho thấy: Đông Nam bộ là khu vực có tỷ lệ thu
gom CTRSH cao nhất trong cả nước (81%), Tây Nguyên thấp nhất với 65% lượng
CTRSH được thu gom.
c) Năng lực thu gom, vận chuyển
Việc thu gom, vận chuyển CTR (trừ CTRNH) tại đô thị phần lớn do các Công
ty Môi trường đô thị trực thuộc UBND tỉnh, thành phố hoặc huyện, thị xã thực hiện.
Các công ty Môi trường đô thị hoạt động dưới hình thức các đơn vị sự nghiệp có
thu. Việc thu chi kinh phí áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu và được Hội đồng
nhân dân các tỉnh, thành phố quyết định.
Một số đô thị đã kết hợp cả 2 mô hình là: Mô hình do Nhà nước quản lý Công ty Môi trường đô thị thực hiện và mô hình do Doanh nghiệp tư nhân - Hợp tác
xã đảm nhiệm. Tại một số tỉnh, thành phố hiện nay, công tác thu gom, vận chuyển
và xử lý CTR được thực hiện bởi các tổ chức tư nhân dưới hình thức hợp tác xã và
tổ, nhóm thu gom rác. Hợp tác xã, tổ thu gom rác được hình thành với hình thức tự
nguyện, mỗi tổ có một cá nhân đứng lên làm nhóm trưởng để quản lý và trả công
cho các thành viên.
Mô hình hợp tác xã và tổ thu gom rác hiện nay đang được phát huy và được
các cấp chính quyền ủng hộ. Tuy nhiên, hình thức này vẫn còn mang tính tự phát và
có quy mô nhỏ lẻ. Theo số liệu tổng hợp, hiện chỉ có 25% đô thị triển khai xã hội
•
Vị trí địa lý
Sơn Dương là huyện nằm ở phía Nam tỉnh Tuyên Quang, từ thị xã Tuyên
Quang đi dọc theo quốc lộ 37 khoảng 30km sẽ đến huyện Sơn Dương.
-
Phía Đông Sơn Dương giáp với tỉnh Thái Nguyên;
22
-
Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ;
-
Phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Phúc;
-
Phía Bắc giáp huyện Yên Sơn- tỉnh Tuyên Quang
Tổng diện tích tự nhiên của huyện theo số liệu điều chỉnh kết quả thống đất
đai năm 2001 là 78.783,51 ha, chiếm 13,43% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh,
bao gồm 33 đơn vị hành chính cấp xã(01 thị trấn và 32 xã). Trên địa bàn huyện có
tuyến Quốc lộ 37, Quốc lộ 2C chạy qua (tuyến giao thông chính nối huyện Sơn
Dương với các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc) tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội của huyện trong những năm tới.
Sông Lô có khả năng vận tải tốt nhất cho các phương tiện vận tải hàng chục tấn.
Đây là đường thủy quan trọng nhất nối huyện với các tỉnh lân cận.
- Sông Phó Đáy bắt nguồn từ vùng núi Tam Tạo (Chợ Đồn – Bắc Kạn) với
diện tích lưu vực khoảng 640 Km 2. Sông Phó Đáy có lòng sông hẹp, nông, khả năng
vận tải thủy rất hạn chế.
Ngoài 2 sông lớn trên, huyện Sơn Dương còn có nhiều con suối nhỏ.Hệ thống
sông ngòi huyện Sơn Dương là nguồn cung cấp nước chính phục vụ cho sản xuất và
sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn huyện, đồng thời chứa đựng tiềm năng phát
triển thủy điện vừa và nhỏ. Song do dộ dốc lớn, lòng sông hẹp, nên cũng thường
gây nguy hiểm và gây lũ lụt ở nhiều vùng thấp vào mùa mưa
24
•
Tài nguyên đất
- Nhóm đất phù sa: Diện tích 3.752 ha, chiếm 7,76% diện tích đất tự nhiên
gồm 3 loại đất: đất phù sa được bồi hằng năm, đất phù sa không đươc bồi hằng
năm, đất phù sa ngòi suối.
- Nhóm đất dốc tụ: Diện tích 3.136 ha, chiếm 3,98% diện tích đất tự nhiên,
phân bố trên địa bàn xã trong huyện. Đa số diện tích đất trồng lúa của huyện phân
bố trên loại đất này.
- Nhóm đất bạc màu: Diện tích 2.240 ha, chiếm 2,84% diện tích đất tự nhiên.
Phân bố chủ yếu ở các xã ven chân núi Tam Đảo như: Hợp Hòa, Thiện Kế, Sơn
Nam… Đất bị bạc màu do độ dốc của địa hình lớn và quá trình canh tác lâu dài
không hợp lý nên bị xói mòi, rửa trôi mạnh.
- Nhóm đất đỏ vàng: Diện tích 44.162ha, chiếm 56,05% diện tích đất tự
nhiên, gồm 3 loại đất: Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa, đất nâu đỏ trên đá vôi, đất
đỏ vàng trên đá sét và biến chất.
- Đất vàng đỏ: Diện tích 18.236 ha, chiếm 23,15% bao gồm các loại đất: đất