PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề.
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không
gì thay thế được của các ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, là địa bàn
phân bổ dân cư, xây dựng cơ sở hạ tầng văn hóa, an ninh, quốc phòng…
Đất nông nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống của con
người, là môi trường sản xuất ra lương thực thực phẩm cung cấp cho nhu cầu
của con người.
Hiện nay, tất cả các nước trên thế giới dù ở trình độ phát triển khác nhau
nhưng đều hướng tới một mục tiêu chung, đó là: “xây dựng một nền nông
nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, mà nhiệm vụ quan
trọng là bảo vệ được tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tài
nguyên di truyền… Chiến lược sử dụng đất hợp lý, tất yếu phải là yếu tố cấu
thành của chiến lược nông nghiệp sinh thái và phát triển lâu bền của các nước
trên thế giới cũng như của nước ta hiện nay.
Tỉnh Hà Tây đã chỉ đạo, triển khai lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
trên phạm vi toàn tỉnh, trong đó Đan Phượng là một trong những huyện đã
thực hiện.
Đan Phượng là một huyện của tỉnh Hà Tây, nằm trong vùng đồng bằng
Châu thổ sông Hồng, có tổng diện tích đất tự nhiên là 76,57 km 2, với số dân là
139,462 người, mật độ dân số bình quân là 1,821 người /km 2, là một trong
những địa bàn đất chật người đông của tỉnh Hà Tây. Đan Phượng có hai con
sông chảy qua là sông Hồng và sông Đáy, có Quốc lộ 32 chạy qua trung tâm
huyện. Từ những đặc điểm về quy mô đất đai, dân cư, vị trí địa lý, kinh tế của
huyện đang đặt ra những yêu cầu bức thiết đối với việc quản lý đất đai, sử
dụng hợp lý và hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai trên địa bàn huyện, đặc biệt
là đất nông nghiệp, điều đó không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao mà còn
1
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Đất nông nghiệp và các vấn đề sử dụng đất nông nghiệp.
2.1.1 Sơ lược về tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt
Nam.
Nông nghiệp là một ngành sản xuất chính chiếm tỷ trọng không nhỏ
trong cơ cấu kinh tế của nhiều nước trên thế giới. Tại các nước đang phát
triển, nông nghiệp không những đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm
trong nước mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu thu ngoại tệ cho Quốc gia.
Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, hiện tại dân số thế giới trên 6 tỷ
người thì lượng lương thực có thể đáp ứng được, tuy nhiên có sự không đồng
đều giữa các vùng. Nông nghiệp sẽ phải gánh chịu sức ép của nhu cầu lương
thực, thực phẩm ngày càng tăng của con người.
Dẫn theo Nguyễn Đình Bồng [5], hiện nay trên thế giới có khoảng 3.3 tỷ
ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỷ ha, còn lại đa phần là
đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Quy mô đất nông nghiệp
được phân bố như sau: Châu Mỹ chiếm 35%, Châu Á chiếm 26%, Châu phi
chiếm 20%, Châu Âu chiếm 13%, Châu Đại Dương chiếm 6%. Bình quân đất
nông nghiệp trên đầu người toàn thế giới là 12000m 2, Mỹ 2000m2, Bungari
7000m2, Nhật 650m2.
Việt Nam là nước có diện tích không lớn đứng thứ 4 ở Đông Nam Á,
nhưng dân số đứng thứ 2, dẫn tới bình quân diện tích đất trên đầu người đứng
thứ 9 trong khu vực.
2.1.2. Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp.
Hiện tượng suy thoái đất có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và
môi trường. Để đáp ứng được lương thực thực phẩm cho con người trong hiện
3
của vùng. Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, người dân đã tập trung
chủ yếu vào trồng cây lương thực như vậy gây ra hiện tượng xói mòn, suy
thoái đất. Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người còn thấp dẫn tới
việc sử dụng phân bón hạn chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều
ảnh hưởng tới môi trường. Tadon H.L.S. [44] chỉ ra rằng “sự suy kiệt đất và
các chất dự trữ trong đất cũng là biểu hiện thoái hóa về môi trường,do vậy
việc cải tạo độ phì của đất là đóng góp cho cải thiện cơ sở tài nguyên thiên
nhiên và còn hơn nữa cho chính môi trường”.
2.1.3. Sử dụng đất nông nghiệp theo quan điểm sinh thái và phát triển bền
vững.
- Nông nghiệp bền vững là kiến tạo một hệ thống bền vững về mặt sinh
thái, có tiềm lực về kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của con
người mà không bóc lột đất đai, không làm ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi
trường và tạo dựng một môi trường trong lành.
- Nông nghiệp bền vững tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp sản xuất
lương thực thực phẩm cho con người, thức ăn cho chăn nuôi nhiều hơn là ở
các hệ thống tự nhiên. Nông nghiệp bền vững là một hệ thống trong đó con
người tồn tại, con người sử dụng những nguồn năng lượng không độc hại, tiết
kiệm và tái sinh năng lượng, con người sử dụng nguồn tài nguyên phong phú
của thiên nhiên mà không phá hoại nguồn tài nguyên đó. Ngoài ra nông
nghiệp bền cũng không chỉ bảo vệ những hệ sinh thái đã có mà còn tìm cách
khôi phục những hệ sinh thái đã bị suy thoái.
Từ những nhận thức về phát triển nông nghiệp bền vững, chúng ta đi
đến thảo luận các vấn đề cơ bản cho sự phát triển nông nghiệp bền vững. Hiện
nay có nhiều quan điểm khác nhau về nông nghiệp bền vững. Tổ chức Lương
thực và Nông nghiệp của liên hợp quốc (FAO) năm 1992 đã đưa ra khái niệm
về phát triển nông nghiệp bền vững như sau: “Phát triển nông nghiệp bền vững
5
6
không gây ô nhiễm môi trường. Đạo đức của nông nghiêp bền vững bao gồm
3 phạm trù: Chăm sóc trái đất, chăm sóc con người và dành thời gian, tài lực,
vật lực vào các mục tiêu đó. Nông nghiệp bền vững là một hệ thống nông
nghiệp thường trực tự xây dựng bền vững, thích hợp cho mọi tình trạng ở đô
thị và nông thôn với mục tiêu đạt được sản lượng cao, giá thành hạ, kết hợp
tối ưu giữa sản xuất cây trồng, cây rừng, vật nuôi, các cấu trúc và hoạt động
của con người.
Gần đây xuất hiện khuynh hướng “Nông học hữu cơ”, chủ trương dùng
máy cơ khí nhỏ và sức kéo gia súc, sử dụng rộng rãi phân hữu cơ, phân xanh,
phát triển cây họ đậu trong hệ thống luân canh cây trồng, hạn chế sử dụng các
loại hóa chất để phòng trừ sâu bệnh.
Anbert K. và Voisin A. đã hình thành trường phái nông nghiệp sinh học,
bác bỏ việc sản xuất và sử dụng nhiều loại phân hóa học vì như thế sẽ ảnh
hưởng đến chất lượng nông sản và sức khỏe người tiêu dùng [1].
Theo Đỗ Ánh [1] Phần Lan đã đưa ra thị trường những sản phẩm nông
nghiệp được sản xuất theo con đường “Green way”, hoàn toàn không dùng
phân hóa học.
Ở Việt Nam đã hình thành nền văn minh lúa nước từ hàng ngàn năm
nay, có thể coi là một mô hình nông nghiệp bền vững ở vùng đồng bằng, thích
hợp trong điều kiên thiên nhiên nước ta. Gần đây mô hình VAC, mô hình
nông – lâm kết hợp trên đất đồi thực chất là những kinh nghiệm truyền thống
được đúc rút ra trong quá trình đấu tranh lâu dài, bền vững với thiên nhiên
khắc nghiệt của con người để tồn tại và phát triển.
Thực chất của nông nghiệp bền vững là phải thực hiện được khâu cơ
bản là giữ độ phì nhiêu của đất được lâu bền. Độ phì nhiêu của đất là tổng hòa
của nhiều yếu tố vật lý, hóa học, sinh học để tạo ra môi trường sống thuận lợi
nhất cho cây trồng tồn tại và phát triển.
phạm vi toàn quốc với 9 vùng sinh thái và ở nhiều vùng chuyên canh theo các
dự án đầu tư.
8
Nhiều công trình nghiên cứu về đánh giá đất đai của các tác giả như:
- Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng: Kết quả bước đầu đánh giá tài
nguyên đất đai Việt Nam (1994)
- Nguyễn Công Pho: Đánh giá đất vùng đồng bằng sông Hồng (1995).
- Nguyễn Khang, Nguyễn Văn Tân: Đánh giá đất vùng dự án đa mục
tiêu IA SOUP (1995).
- Phạm Quang Khánh: Kết quả nghiên cứu hệ thống sử dụng đất trong
nông nghiệp (1994).
Ngoài ra còn phải kể đến kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học khác
như: Bùi Quang Toản (1985), Vũ Cao Thái (1989), Võ Văn Anh (1990), Trần
An Phong (1991, 1993, 1994, 1995), Nguyễn Văn Nhân (1991 – 1994),
Nguyễn Xuân Nhiệm (1992) và nhiều tác giả khác.
Trong nghiên cứu hệ thống sử dụng đất và các yếu tố sinh thái nông
nghiệp phục vụ quy hoạch sử đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền
vững đã có nhiều công trình nghiên cứu trên các vùng sinh thái của cả nước.
Những công trình nghiên cứu về sử dụng đất chung trên phạm vi cả nước trên
quan điểm này gồm: “Khả năng phát triển nông nghiệp nước ta trong giai
đoạn tới” (Tôn Thất Chiểu 1992), “Hệ sinh thái nông nghiệp” (Đào Thế Tuấn
1984), “Chiến lược sử dụng, bảo vệ, bồi dưỡng đất đai và môi trường”
(Nguyễn Vy 1992), “Ứng dụng nội dung phương pháp đánh giá đất đai và
phân tích hệ thống canh tác của FAO vào điều kiện thực tế của Việt Nam” (Lê
Duy Thước 1992).
Tháng 1 năm 1995, Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp đã tổ chức
Hội thảo quốc gia về đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất trên quan
Hồng.
-
Vùng Tây Nguyên có các công trình nghiên cứu của Nguyễn Khang,
Phạm Dương Ưng, Nguyễn Văn Tân, Đỗ Đình Đài, Nguyễn Văn Tuyên
(1995).
-
Vùng Đông Nam Bộ có các công trình của Trần An Phong, Phạm
Quang Khánh, Vũ Cao Thái, Trương Công Tín (1990) nghiên cứu về môi
trường tự nhiên, kinh tế xã hội, đặc điểm các đơn vị đất đai, hiện trạng sản
xuất, loại hình sử dụng đất, phân tích tài chính, đánh giá hiệu quả kinh tế và
tác động môi trường, đánh giá đất thích hợp và lựa chọn các loại hình sử dụng
đất bền vững trong nông nghiệp của vùng. Trên bản đồ đơn vị đất đai và hiện
10
trạng sử dụng đất tỷ lệ 1/250.000 đã thể hiện 54 đơn vị đất đai với 602
khoanh, có 7 loại hình sử dụng đất chính , 49 loại hình sử dụng đất chi tiết với
94 hệ thống sử dụng đất trong nông nghiệp, trong đó có 50 hệ thống sử dụng
đất được chọn.
-
Vùng đồng bằng sông Cửu Long có các công trình nghiên cứu của
Trần An Phong, Nguyễn Văn Nhân (1991, 1995). Kết quả nghiên cứu đã
khẳng định: Trong việc sử dụng đất ở đồng bằng sông Cửu Long, tài nguyên
định như một tập hợp các đối tượng hoặc các thuộc tính được liên kết bằng
nhiều mối tương tác.
Quan điểm hệ thống không phải đơn thuần là phép cộng mà là xem xét
các phần tử trong hệ thống, mối tương tác của từng thành phần, các cấu trúc
thứ bậc trong hệ thống, tính toàn cục và tính trồi của nó.
Để hệ thống phát triển bền vững cần nghiên cứu bản chất và đặc điểm
của các mối tương tác giữa các yếu tố trong hệ thống đó, điều tiết các mối
tương tác chính là điều khiển hệ thống một cách có quy luật.
Hệ thống nông nghiệp
Dẫn theo Shaner [37] hệ thống nông nghiệp là một phức hợp của đất đai,
nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, lao động và các nguồn lợi và đặc trưng khác
trong một ngoại cảnh mà nông hộ quản lý tùy theo sở thích, khả năng và kỹ
thuật có thể.
Nhìn chung hệ thống nông nghiệp là một hệ thống hữu hạn trong đó con
người đóng vai trò trung tâm, con ngươi quản lý và điều khiển các hệ thống
theo những quy định nhất định, nhằm mang lại hiệu quả cao cho hệ thống
nông nghiệp.
Hệ thống nông nghiệp có 3 đặc điểm đáng quan tâm:
-
Tiếp cận “dưới lên” và xem xét hệ thống mắc ở điểm nào tìm cách
can thiệp để giải quyết cản trở.
-
Coi trọng mối quan hệ xã hội như những nhân tố của hệ thống.
12
13
trung gian là giai đoạn tập duyệt với kỹ thuật mới là giai đoạn tạo nguồn tích
lũy vốn cho tái sản xuất.
2.3.1. Sơ lược lịch sử phát triển hệ thống cây trồng.
Lịch sử phát triển hệ thống cây trồng gắn liền với quá trình phát triển
nông nghiệp, đặc biệt là sự chuyển đổi hệ thống cây trồng thường gắn liền với
sự ra đời của các công cụ sản xuất mới, các kỹ thuật canh tác tiên tiến, các
giống cây trồng mới, cũng như các công tác chinh phục thiên nhiên, trị thủy
các dòng sông. Hệ thống cây trồng luôn tiến triển và ngày càng hoàn thiện
hơn.
Việt Nam là đất nước có lịch sử phát triển lâu đời, điều kiện tự nhiên
thuận lợi, do vậy nông nghiệp nước ta đã hình thành và phát triển với nhiều
loại cây trồng đa dạng từ các loại cây trồng nhiệt đới đến á nhiệt đới. Nằm sát
bờ biển Đông, Việt Nam được coi là trung tâm xuất hiện sớm nhất nền nông
nghiệp nhiệt đới mà đặc trưng là canh tác lúa nước.
Theo Nguyễn Duy Tính [36], hệ thống cây trồng thời Văn Lang đã khá
phong phú, cây lúa trồng O.Sativa là cây quan trọng nhất. Ruộng lúa nước là
cơ sở văn minh của nông nghiệp sông Hồng. Nghề trồng lúa nước đã chuyển
biến theo hướng chung là giống lúa, cơ cấu mùa cụ, tăng vụ, thâm canh…
Lịch sử phát triển của hệ thống cây trồng đã trải qua quá trình lâu dài,
chuyển biến phát triển từ thấp đến cao và gắn liền với sự tiện bộ của khoa học
kỹ thuật. Lịch sử đã chứng kiến những bước ngoặt đó là cuộc cánh mạng cơ
cấu cây trồng ở Châu Âu, cuộc cách mạng xanh về giống ở Châu Á. Cùng với
sự tiến bộ của xã hội loài người, hệ thống cây trồng ngày cành hoàn thiện.
2.3.2. Một số đặc trưng của hệ thống cây trồng.
Hệ thống cây trồng mang tính khách quan và được hình thành do trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Các Mác
trồng dần được hoàn thiện hơn, hiệu quả cao hơn. Mặt khác hệ thống cây
trồng không thể luôn luôn thay đổi theo ý muốn chủ quan của con người, mà
15
phải tương đối ổn định phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất. Sự ổn định tương đối phản ánh tính khách quan khoa học
trong quá trình hình thành hệ thống cây trồng và đảm bảo tính hiệu quả cao
trong kinh doanh và trong đời sống xã hội của đất nước.
Chuyển đổi hệ thống cây trồng là một quá trình, không có sẵn một cơ
cấu kinh tế hoàn thiện và cũng không có một cơ cấu cây trồng chứa đựng
trong nó tất cả những sai lầm, lạc hậu.
Hệ thống cây trồng mới được bắt nguồn, chuyển dịch từ hệ thống trước
nó, từ sự tích lũy về lượng đủ mức dẫn tới sự biến đổi về chất. Sự chuyển dịch
đòi hỏi phải có thời gian, là một trình tất yếu khách quan như bản thân nội
dung của hệ thống cây trồng. Quá trình chuyển đổi hệ thống cây trồng đòi hỏi
sự tác động bằng hệ thống chính sách và biện pháp đồng bộ tác động hợp quy
luật, thúc đẩy quá trình hình thành.
2.3.3. Chuyển đổi hệ thống cây trồng.
Việc xác định hệ thống cây trồng cho một vùng, một khu vực đảm bảo
hiệu quả kinh tế, ngoài việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa hệ thống cây trồng
với các điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai, quần thể sinh vật, tập quán canh tác
còn có mối quan hệ chặt chẽ với phương hướng sản xuất ở vùng, khu vực đó.
Phương hướng sản xuất quyết định cơ cấu cây trồng, ngược lại cơ cấu cây
trồng là cơ sở để xác định phương hướng sản xuất. Nghiên cứu chuyển đổi hệ
thống cây trồng có cơ sở khoa học sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng giúp cho
các nhà quản lý xác định phương hướng sản xuất một cách đúng đắn.
Chuyển đổi hệ thống cây trồng cần phải theo hướng tăng nhanh các sản
phẩm có tính hàng hóa, song song với việc nâng cao chất lượng nông sản.
chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh. Những điều đó đã kích
thích các hộ gia đình khai thác hết mọi tiềm năng về đất đai, vốn và con người
của mình để tạo ra được hiệu quả cao, nâng cao được tỷ suất hàng hóa thông
qua việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật và đa dạng hóa cây trồng. Hộ nông dân là
17
đơn vị kinh tế tự chủ do đó vấn đề áp đặt một hệ thống cây trồng là không
hợp lý, mà chỉ khuyến khích vận động để họ chủ động nắm bắt và nhanh
chóng áp dụng những mô hình canh tác tiến bộ. Các chủ hộ nông dân căn cứ
vào khả năng của gia đình để quyết định lựa chọn hệ thống cây trồng thích
hợp (theo Nguyễn Duy Tính) [36].
- Chuyển đổi hệ thống cây trồng đi đôi với việc bảo vệ môi trường sinh
thái, xây dựng một hệ thống nông nghiệp bền vững và an toàn lương thực.
Khái niệm về hệ sinh thái do Tansley A. Đề xuất năm 1935 là một đơn vị bao
gồm các vật sống và ngoại cảnh không sống của chúng.
Hệ sinh thái gồm 2 thành phần chủ yếu:
+ Các quần thể sống (thực vật, động vật, vi sinh vật) với các mối quan
hệ dinh dưỡng và vị trí của chúng.
+ Các nhân tố ngoại cảnh: khí hậu, đất, nước…
Theo chức năng, hoạt động của hệ sinh thái được phân theo dòng năng
lượng, chuỗi thức ăn, sự phân bố theo không gian và thời gian tuần hoàn vật
chất, phát triển, tiến hóa và điều khiển. Trong sinh quyển có ba loại hệ sinh
thái chủ yếu:
+ Các hệ sinh thái tự nhiên: rừng, đồng cỏ, sông, hồ, biển.
+ Các hệ sinh thái nông nghiệp.
+ Các hệ sinh thái đô thị: các thành phố lớn, các khu công nghiệp.
Hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái nhân tạo do lao động của con
người tạo ra. Cây trồng, vật nuôi và các thành phần sống của hệ sinh thái
chuyên sâu về vấn đề ô nhiễm môi trường đất Việt Nam [12]. Nghiên cứu về
ô nhiễm kim loại nặng đối với đất và nước ở vùng sản xuất nông nghiệp ngoại
thành Hà Nội (Nguyễn Đình Mạnh 1996 – 1998) …đã phản ánh được nhiều
vấn đề về môi trường nhằm đưa ra các giải pháp chiến lược cũng như các giải
pháp khắc phục cho sử dụng đất trên quan điểm sinh thái lâu bền. Vùng đồng
bằng sông Hồng là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn thứ 2 ở Việt Nam, với
19
nhiều loại hình sử dụng đất đa dạng (2 - 3 vụ/năm), đây cũng là nơi tập trung
nhiều chủng loại cây trồng nông nghiệp thu hút được rất nhiều công trình
nghiên cứu khoa học về đánh giá phân tích các hệ thống sử dụng và duy trì
khả năng sử dụng đất bền vững. Những công trình nghiên cứu hệ thống nông
nghiệp đã làm cơ sở khoa học cho việc xác định các hệ thống sử dụng đất của
vùng đồng bằng sông Hồng (Đào Thế Tuấn) [34]. Tạ Minh Sơn với nghiên
cứu điều tra và đánh giá một cách toàn diện các hệ thống cây trồng trên các
nhóm đất đã góp phần định hướng các hệ thống sản xuất cây trồng thích hợp
cho phát triển sản xuất nông nghiệp lâu bền trên các nhóm đất chính [23].
Ngoài ra, một số nhà khoa học nước ngoài như: Eric Lequere, Jean – Marc
Babier [9] cũng đã tiến hành nghiên cứu về hệ thống nông nghiệp ở lưu vực
sông Hồng và tập trung vào cây lúa hoặc một số phương thức canh tác khác
nhau của khu vực…
Có thể nhận thấy rằng các nghiên cứu sâu về đất và sử dụng đất trên đây
là những cơ sở cần thiết và có ý nghĩa quan trọng cho các định hướng sử dụng
và bảo vệ đất, cũng như xác định các chỉ tiêu cho đánh giá sử dụng đất, quản
lý đất đai bền vững trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
20
+ Hiện trạng cơ sở hạ tầng.
3.3.2. Phương pháp điều tra dã ngoại, phỏng vấn nông dân tại các xã.
Nhằm khoanh định hiện trạng sử dụng đất một cách chính xác, cụ thể
đến từng loại đất cũng như cơ cấu cây trồng vật nuôi, phỏng vấn các hộ gia
đình để tìm hiểu tình hình sử dụng đất, hiệu quả kinh tế của các loại hình sử
dụng đất.
3.3.3. Phương pháp thống kê.
Từ những số liệu thu thập được thống kê theo hệ thống biểu mẫu chuyên
ngành, phân tích tương quan giữa các yếu tố.
3.3.4. Phương pháp minh họa trên bản đồ.
Mọi thông tin cần được biểu diễn trên bản đồ có tỷ lệ thích hợp.
22
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội.
4.1.1. Điều kiện tự nhiên.
4.1.1.1. Vị trí địa lý.
Đan Phượng là một huyện đồng bằng châu thổ sông Hồng, ở phía bắc
của tỉnh Hà Tây. Tọa độ địa lý nằm trong khoảng 20 058’20’’ đến 21004’12’’ độ
vĩ bắc, từ 105030’15’’ đến 105042’05’’ độ kinh đông.
Có vị trí địa lý như sau:
+ Phía Bắc giáp huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc.
+ Phía Nam giáp huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây.
+ Phía Đông giáp huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội.
+ Phía Tây giáp huyện Phúc Thọ tỉnh Hà Tây.
Đan Phượng có vị trí tương đối thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh
- Mùa khô – lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình từ
16 – 210 C, lượng mưa/tháng biến động từ 20 – 56 mm. Bình quân
mỗi năm có 3 đợt rét nhiệt độ dưới 130C kéo dài trên 3 ngày.
- Mùa mưa – nóng từ tháng 4 đến tháng 10 với lượng mưa trung bình
tháng trên 100 mm – 315 mm. Các tháng mùa mưa có lượng mưa
chiếm 80% lượng mưa cả năm. Nhiệt độ bình quân tháng từ 23,9 –
29,6 0C.
Độ ẩm không khí trung bình trong năm của huyện vào khoảng 82%,
thấp nhất là tháng 12 (76%), cao nhất là tháng 3, tháng 4 (85 – 87%).
24
Bảng 1: Tổng hợp các yếu tố khí hậu trung bình nhiều năm.
Tháng
1
2
3
4
5
6
7
28,8
28,6
27,7
24,6
21,0
18,4
23,4
( C)
Lượng
32,1
35,0
45,6
51,1
212,1
243,3
348,3
193,1
217,6
201,9
204,1
145,9
1832,9
(giờ)
Độẩm
80,0
82,0
87,0
89,0
85,0
84,0
85,0
85,0
cấp đủ nước cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động kinh tế - xã hội khác.
4.1.1.5. Tài nguyên đất, đặc tính đất đai.
Huyện Đan Phượng với tổng diện tích đất tự nhiên là 7735,49 ha, hiện
nay Đan Phượng đang sử dụng với mục đích như sau:
+ Đất nông nghiệp: 3791,99 ha
25