tư tưởng hồ chí minh về phương pháp giáo dục và sự vận dụng sáng tạo của đảng ta trong giai đoạn hiện nay tiểu luận cao học - Pdf 36

A.LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của vấn đề
Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Tư
tưởng của Hồ Chí Minh về giáo dục đã đặt nền móng và xây dựng nền giáo dục dân
chủ mới cho nước ta. Với hệ thống những luận điểm khoa học rộng lớn, sâu sắc và
phong phú trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong lĩnh vực giáo dục – đào
tạo, tư tưởng của Người là một kho tàng những giá trị nhân văn cao cả, tư tưởng đó
không chỉ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt
Nam mà còn có ý nghĩa thiết thực trong sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho công
cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phục cho quá trình đổi mới và hội
nhập hiện nay.
Để giáo dục thực sự trở thành một trong ba khâu “đột phá” của quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng là chúng ta
phải nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo
dục, vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng đó vào công cuộc đổi mới ở nước ta nói
chung, đổi mới sự nghiệp giáo dục nói riêng. Có như vậy chúng ta mới có thể đưa
sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta tiến lên một bước mới, xứng đáng với vị trí là
“quốc sách hàng đầu”, góp phần quyết định đưa sự nghiệp cách mạng nước ta tới
thành công.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục bao gồm nhiều nội dung, từ các quan điểm
về giáo dục toàn diện, giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, giáo dục là nền tảng của
phát triển kinh tế - xã hội… Trong đó nội dung cơ bản nhất của nó nhằm giáo dục
đạo lý làm người, đó là xây dựng con người toàn diện vừa “hồng” vừa “chuyên”, có
đức, có tài, có tri thức, sức khỏe, văn hóa, trình độ khoa học – kỹ thuật, phục vụ cho
sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Để chuyển tải nội dung giáo dục có hiệu quả, theo
Hồ Chí Minh, cần thiết phải có phương pháp. Phương pháp giáo dục của Bác đa
dạng, phong phú làm cho nội dung giáo dục trở nên vừa sinh động, cụ thể, vừa sâu
sắc, dễ thực hiện và dễ đi vào lòng người. Tuy Bác không viết một tác phẩm, một
bài nào chuyên về phương pháp, nhưng qua những bài viết ngắn gọn, thiết thực,
sinh động và qua quá trình hoạt động cách mạng thực tiễn của người đã toát lên
những bài học lớn có ý nghĩa về phương pháp giáo dục. Trong lĩnh vực giáo dục

3.2. Phạm vi nghiên cứu
Tiểu luận được nghiên cứu và trình bày trong suốt quá trình học môn các chuyên
đề tư tưởng Hồ Chí Minh.
4. Phương pháp nghiên cứu
2


Phương pháp luận: Sử dụng phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng về
phương pháp giáo dục, chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Phương pháp chung: Diễn dịch, quy nạp, phương pháp phân tích tổng hợp, logiclịch sử.
Phương pháp cụ thể: lược thuật tài liệu
5. Kết cấu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo. Phần nội dung đề tài
gồm 3 chương:
Chương I: cơ sở lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
1.

Các tiền đề hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục

1.1. Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
1.2. Quá trình phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh
2.
Nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh
Chương II: phương pháp giáo dục trong tư tưởng Hồ Chí Minh
1.
Học đi đôi với hành
2.
Lý luận gắn liền với thực tiễn
3.
Học tập kết hợp với lao động sản xuất

biến sâu sắc trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Vào thế kỷ XIX, các nước đế quốc trên thế giới đã áp đặt sự thống trị trên khắp
các nước châu lục như: Á, Phi, Mỹ Latinh. Giai cấp công nhân ở các nước đế quốc,
đặc biệt là ở Anh và Pháp đang sôi động trong cuộc đấu tranh chống giai cấp và tư
sản. Để luận chứng cho vai trò, sứ mệnh của giai cấp vô sản trên toàn thế giới,
tuyên ngôn của Đảng Cộng sản do C.Mác và Ph.Ănghen soạn thảo đã ra đời. Đồng
thời, cuối thế kỷ XIX, đất nước ta bị rơi vào cảnh nô lệ lầm than dưới ách thuộc địa
của thực dân Pháp. Nhân dân Việt Nam đã liên tiếp nổi dậy chống lại ách thống trị
của thực dân Pháp dưới ngọn cờ của một số nhà yêu nước tiêu biểu nối tiếp nhau,
song đều lần lượt thất bại. Đám mây đen của chủ nghĩa thực dân vẫn bao phủ bầu
trời Việt Nam. Dân tộc Việt Nam đã bị rơi vào khủng hoảng đường lối cách mạng.
Giữa lúc đó, Hồ Chí Minh- người thanh niên trẻ tuổi yêu nước thương dân sâu
sắc đã quyết chí ra nước ngoài để học hỏi, tìm một giải pháp mới để cứu nước, giải
phóng dân tộc. Lúc này, phương Đông đã thức tỉnh. Chiến tranh thế giới thứ nhất
bùng nổ. Cách mạng tháng Mười Nga thành công, nước Nga xôviết ra đời. Quốc tế
cộng sản được thành lập. Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa
Mác- Lênin; lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc là con đường cách
mạng vô sản; đứng về phía quốc tế cộng sản. Từ đó, Hồ Chí Minh càng đi sâu vào
các học thuyết cách mạng trên thế giới, xây dựng lý luận về cách mạng thuộc địa,
trước hết là lý luận cách mạng để giải phóng dân tộc Việt Nam, tổ chức và lãnh đạo
4


cách mạng Việt Nam tiến lên giành những thắng lợi vĩ đại vì độc lập của dân tộc, tự
do của toàn dân…
1.1: Nguồn gốc hình thành tư tưởng hồ Chí Minh về giáo dục
a.

Chủ nghĩa Mác-Lênin là nhân tố ảnh hưởng và tác động quyết định đến quá


hội, nhưng truyền thống này vẫn bền vững. Hồ Chí Minh đã kế thừa, phát huy sức
mạnh của truyền thống nhân nghĩa, đoàn kết, tương thân tương ái thể hiện tập trung
trong bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh).
Thứ ba, dân tộc Việt Nam là một dân tộc có truyền thống lạc quan, yêu đời. Tinh
thần lạc quan đó có cơ sở từ niềm tin vào sức mạnh của bản thân mình, tin vào sự
tất thắng của chân lý, chính nghĩa. Hồ Chí Minh là hiện thân của truyền thống lạc
quan đó.
Thứ tư, dân tộc Việt Nam là dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo, ham
học hỏi và mở rộng cửa đón nhận tinh hoa văn hóa của nhân loại. Người việt Nam
từ xưa đã rất xa lạ với đầu óc hẹp hòi, thủ cựu, thói bài ngoại cực đoan. Trên cơ sở
giữ vững bản sắc của dân tộc, nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thu, cải biến những
cái hay, cái tốt, cái đẹp của người thành những giá trị riêng của mình. Hồ Chí Minh
là hình ảnh sinh động và trọn vẹn của truyền thống đó.
Đây là tài sản có giá trị nhất trong hành trang của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là cơ sở
xuất phát, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, là
động lực giúp Người vượt qua mọi gian nan thử thách, hiểm nguy. Đây là nguồn
gốc, là một cơ sở quan trọng để hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.
c. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
Hồ Chí Minh đã tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tích cực của văn hoá phương
Đông và văn hóa phương Tây
Về tư tưởng và văn hóa phương Đông, Hồ Chí Minh đã tiếp thu những mặt tích cực
trong Phật giáo, như lòng vị tha, tư tưởng từ bi bác ái, tình yêu thương con người;
triết lý hành đạo giúp đời, tu thân dưỡng tính, truyền thống hiếu học…
Về Nho giáo, triết lý về hành động, nhân nghĩa, ước vọng về một xã hội bình trị,
hòa mục, về một triết lý nhân sinh, tu thân tề gia; đề cao văn hóa trung hiếu “dân vi
quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”
Tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, dân chủ và phong cách dân chủ, nhân quyền của
văn hoá phương Tây. Không những thế, Người còn nghiên cứu tiếp thu tư tưởng
văn háo dân chủ và cách mạng của cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ. Đặc biết,
6


Quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục

Tư tương Hồ Chí Minh không phải được hình thành ngay một lúc mà phải trải qua
một quá trình tìm tòi, xác lập, phát triển và hoàn thiện gắn với quá trình hoạt động
cách mạng phong phú của Người, gồm 5 giai đoạn sau:
7


a, Giai đoạn hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cách mạng( từ năm
1890 – 1911)
Đây là thời kỳ Hồ Chí Minh lớn lên và sống trong nỗi đau của người dân mất nước,
được sự giáo dục của gia đình, quê hương, dân tộc về lòng yêu nước thương dân;
sớm tham gia phong trào đấu tranh chống Pháp; băn khoan trước những thất bại của
các sĩ phu yêu nước; Người quyết định ra đi tìm đường cứu nước để giúp đồng bào
thoát khỏi vòng nô lệ.
Vì vậy HCM đã sớm hình thành tư tưởng yêu nước thương dân, thiết tha bảo vệ
những giá trị của truyền thống dân tộc và được biểu hiện:
- Tham gia phong trào chống thuế ở Huế.
- Dạy học ở trường Dục Thanh Phan Thiết trong phong trào Duy Tân ở Trung kỳ.
- Hình thành tư duy phê phán con đường cứu nước của vị tiền bối Phan Bội Châu,
Phan Châu Trinh... HCM đã sớm nhận ra hạn chế của những người đi trước Người
cho rằng không thể dựa vào người nước ngoài để giải phóng tổ quốc nên Người đã
tự định ra con đường mới: phải tìm hiểu bản chất của những chữ " Tự do, bình
đẳng, bác ái" của những nước đi xâm lược nước khác.
b, Thời kỳ xác định con đường cứu nước giải phóng dân tộc ( 1911- 1920)
Tháng 7/1920 Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên được đọc sơ thảo lần thứ nhất luận
cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin và Người đã tìm thấy con
đường cứu nước đúng đắn bước đầu bước chuyển về mặt tư tưởng Người tin theo
Lênin. Người đã khảo sát tìm hiểu cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ, tham gia

mạng giải phóng dân tộc thuộc địa có thể bùng nổ và giành thắng lợi trước cách
mạng chính quốc.
+ Cách mạng thuộc địa trước hết là một cuộc dân tộc cách mệnh nhắm đánh đuổi
bọn ngoại xâm giành thắng lợi cho dân tộc.
+ Ở một nước nông nghiệp lạc hậu như Việt Nam nông dân là một lực lương đông
đảo nhất trong xã hội bị đế quốc và phong kiến bóc lột nặng nề vì vậy cách mạng
giải phóng dân tộc muốn giành thắng lợi cần lôi cuốn nông dân đi theo và xây dựng
khối liên minh công nông làm động lực cách mạng đồng thời phải thu hút và tập
hợp rộng rãi các giai cấp và tầng lớp xã hội khác vào trận tuyến đấu tranh chung của
dân tộc.
+ Cách mạng muốn thành công trước hết phải có đảng lãnh đạo, Đảng phải theo chủ
nghĩa Mac- Lênin và phải có một đội ngũ cán bộ sẵn sàng chiến đấu vì lý tưởng của
đảng, vì lợi ích và sự tồn vong của dân tộc, vì lý tưởng giải phóng giai cấp công
nhân và nhân loại.
9


+ Cách mạng theo Hồ Chí Minh là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải là của
một vài nguời vì vậy cần phải tập hợp, giác ngộ và từng bước tổ chức quần chúng
đấu tranh từ thấp đễn cao.
d, Thời kỳ vượt qua thử thách, kiên trì con đường đã xác định, tiến tới giành
thắng lợi đầu tiên cho cach mạng Việt Nam ( 1930- 1945)
Thắng lợi đầu tiên của cách mạng Việt Nam là cuộc cách mạng giải phong dân
tộc và 2/9/1945 Nguyễn Ái Quốc đã trịnh trọng đọc bản tuyên ngôn độc lập, công
bố trước đồng bào và toàn thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa- Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
Đầu tiên Nguyễn Ái Quốc đặt tên Đảng là Đảng cộng sản Việt Nam nhưng bị coi
là Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và bị thủ tiêu chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt,
điều lệ vắn tắt và chương trình tóm tắt không vì thế mà Người từ bỏ quan điểm của
mình. Hồ Chí Minh khẳng định: “tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng.

nghĩa xã hội và ngược lại. Xây dựng chủ nghĩa xã hội thực chất là giải phóng giai
cấp, giải phóng xã hội, con người. Đó cũng chính là sản phẩm tất yếu của cách
mạng Việt Nam trong thời đại mới, là ngọn cờ thắng lợi của dân tộc Việt Nam trong
cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do, vì giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Chương II. Phương pháp giáo dục trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Thực tiễn hiện nay, nền giáo dục Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng
ghi nhận như: Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống giáo dục đầy đủ các cấp
học ở mọi vùng miền, giáo dục đại học cao đẳng cũng ngày càng được mở rộng về
quy mô đào tạo, cơ sở vật chất ngày càng được nâng cấp, chương trình đào tạo dần
dần được đổi mới. Bên cạnh những thành tựu to lớn, giáo dục nước ta vẫn đang tồn
tại nhiều vấn đề đáng quan tâm: nền giáo dục nước ta chưa dựa trên nền tảng lý luận
vững chắc, chưa quán triệt thực hiện tốt các phương pháp giáo dục theo tư tưởng
của Người. Hồ Chí Minh đã cho chúng ta thấy được vai trò quan trọng của phương
pháp giáo dục. Người lấy nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn làm
nguyên tắc cơ bản cho việc xây dựng các phương pháp về giáo dục. Nó được coi
như là “kim chỉ nam” để lồng dẫn nhận thức, hành động và bồi dưỡng tinh thần yêu
nước cho tất cả mọi người. Người nhấn mạnh” học phải suy nghĩ, học phải liên hệ
với thực tế, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau”.
Xuất phát từ truyền thống giáo dục và sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa MácLênin về giáo dục vào Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh,cần có phương pháp giáo dục
phù hợp với điều kiện giáo dục và đối tượng giáo dục. Giáo dục phải căn cứ vào
11


"trình độ văn hoá, thói quen sinh hoạt, trình độ giác ngộ, kinh nghiệm tranh đấu,
lòng ham, ý muốn, tình hình thiết thực của quần chúng". Cần có phương pháp tổ
chức giáo dục sao cho bảo đảm được sự phù hợp giữa điều kiện, hoàn cảnh giáo dục
với đối tượng giáo dục. Vì vậy Hồ Chí Minh đã đưa ra hệ thống các phương pháp
giáo dục nhằm đạt hiệu quả cao. Trong phương pháp giáo dục cũng có rất nhiều nội
dung phong phú, tuy nhiên có thể khái quát thành một số nội dung cơ bản sau:
1, phương pháp giáo dục học đi đôi với hành.

học sư phạm Hà Nội, Bác nói: “Các cháu học sinh không nên học gạo, không nên
học vẹt… học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và
thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau”. Học đi đôi với hành là một nguyên
tắc vàng ngọc của phép sư phạm. Thực hiện nguyên tắc này thì cùng một lúc sẽ
hình thành cả tri thức lẫn kỹ năng. Và như vậy, hành sẽ trở thành một hình thức
chính của học, quá trình học sẽ diễn ra trong quá trình hành.
2., phương pháp giáo dục lý luận gắn liền với thực tiễn.
Về nội hàm của khái niệm lý luận và thực tiễn, Hồ Chí Minh khẳng đinh: “lý
luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về
tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” và thực tiễn là sự tồn tại khách
quan của thế giới vật chất, của hoạt động con người, thậm chí là cả sự vận dụng lý
luận.
Một trong những phương pháp luận có tính nguyên tắc trong tư tưởng giáo dục
Hồ Chí Minh, đó là nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Đây cũng chính
là một trong những yếu tố góp phần làm cho tư tưởng của Người có sức sống
trương tồn và sức mạnh cải tạo vĩ đại. Nhưng đặc biệt hơn, nguyên tắc có ý nghĩa
phương pháp luận đó trở thành triết lý sống hết sức bình dị và vô cúng sâu sắc của
Người. Đó là, Người nói: “Thống nhất giữ lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc
căn bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thực
hành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”.
Người chỉ rõ, nếu kém lý luận, coi khinh lý luận hoặc lý luận suông, không liên hệ
với thực tiễn sẽ dẫn đến căn bệnh chủ quan duy ý chí, “Lý luận như cái kim chỉ
nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận
thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Học là để vận dụng vào thực tiễn, học để hành.
Nếu học mà không hành, không áp dụng vào thực tế “thì khác nào một cái hòm
đựng sách, xem sách nhiều để mà lòe, để làm ra vẻ ta đây”. Người ví, “lý luận cũng
như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không
bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên”. Với Hồ Chí Minh, sự thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn không chỉ là một nguyên lý, một quy luật nhận thức mà
còn là quy luật hình thành nhân cách con người.

dục xã hội.
Đây là một định hướng lớn trong phương pháp giáo dục. Bởi Người quan niệm,
giáo dục đào tạo là “công việc chung của gia đình, nhà trường và xã hội”. Ngay từ
rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương gắn nhà trường với xã hội. Nhân ngày
khai trường đầu tiên của nước Việt Nam mới, Người khuyên học sinh: “Ngoài giờ
14


học ở trường tham gia vào các hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời
sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước”.
Đặc biệt, đối với giáo dục thanh niên, Bác cũng huấn thị: “Giáo dục thanh niên
không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội…
phải liên hệ vào dư luận xã hội”. Trong hoạt động giáo dục, giáo dục trong nhà
trường giữ vai trò quan trọng đặc biệt, song theo Hồ Chí Minh “giáo dục trong nhà
trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để
giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù
tốt mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không
hoàn toàn”. Bởi vì, ở môi trường xã hội, đời sống gia đình là một trong những nhân
tố cơ bản quyết định đến việc hình thành bản chất, nhân cách con người.
Trong thư gửi Đại hội giáo dục toàn quốc tháng 7-1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh
viết: “ Đại hội nên chú ý làm thế nào cho việc giáo dục lien kết với đời sống nhân
dân, với công cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc. Làm thế nào để phối hợp
việc giáo dục của trường học với việc tuyên truyền và giáo dục chính trị chung của
nhân dân”Đối với mỗi người, Người quy thành trách nhiệm trong việc hỗ trợ giáo
dục, Người nói: Mỗi chúng ta đều phải nhận trách nhiệm góp phần vào việc giáo
dục. Do đó cần phải liên hệ chặt chẽ việc giáo dục giữa nhà trường với gia đình và
xã hội, giữa nhà trường với các đoàn thể, trước hết là đoàn thể thanh niên.
5. phương pháp giáo dục kế hoạch giáo dục phải gắn liền với kế hoạch kinh tế,
Đây là nguyên tắc để xây dựng và phát triển ngành giáo dục. Giáo dục và kinh tế
tạo cơ sở hạ tầng của chủ nghĩa xã hội song bản thân giáo dục chỉ có hiệu quả khi

về vấn đề tự học, tự đào tạo. Năm 1947, trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ
Chí Minh chỉ rõ: “Lấy tự học làm cốt, do thảo luận và chỉ đạo giúp vào”. Để làm
được như vậy phải “Sắp xếp thời gian và bài học… phải cho khéo, phải có mạch lạc
với nhau mà không xung đột với nhau”.
Sau này, khi nói về Công tác huấn luyện và học tập (1950), Hồ Chí Minh lại nhấn
mạnh “Phải nâng cao và hướng dẫn việc tự học”.Tự học chính là sự nỗ lực của
chính bản thân người học song phải học có kế hoạch, có môi trường, có sự quản lý
chỉ đạo về nội dung. Trong điều kiện như vậy quá trình học tập sẽ là một quá trình
tự học.
Cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương lớn về quá trình tự học – tự đào
tạo. Người đến với chủ nghĩa cộng sản bằng một quá trình tự học. Tới dự đại hội
VII Quốc tế cộng sản (1935) với bí danh là Lin, khi khai lý lịch trả lời câu hỏi:
16


Trình độ học vấn (tiểu học, trung học, đại học), Người ghi: Anh, Pháp, Trung Quốc,
Ý, Đức, Nga. Năm 1959, nói chuyện với sinh viên đại học tại Băng Đung
(Inđônêxia) về tự học, Người kể: “Tôi sẽ nói vài lời với các bạn. Khi còn trẻ tôi
không có dịp đến trường học. Tôi đã đi du lịch và để làm việc đó là trường đại học
của tôi. Trường học ấy đã dạy cho tôi khoa học xã hội… khoa học quân sự… lịch
sử… chính trị…”.
Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở mọi người là phải thường xuyên tự học tập “học
hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn công tác lý luận với thực
tiễn. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, đã biết hết rồi. Thế giới ngày càng
đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta tiếp tục học và hành để
tiến bộ kịp nhân dân”.
Ngày nay trong công cuộc đổi mới, các quan điểm của Hồ Chí Minh về giáo dục
nói chung, phương châm phương pháp giáo dục nói riêng vẫn giữ nguyên giá trị, là
“khuôn vàng, thước ngọc”, là kim chỉ nam cho nền giáo dục Việt Nam trên con
đường đổi mới sự nghiệp giáo dục của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.

có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Đồng thời, phải khắc phục mọi
biểu hiện của tư tưởng tự mãn, chủ quan, dừng lại, hoặc chỉ dựa vào những truyền
thống đã có để khuếch trương chủ thành tích.
Trong giáo dục, phương pháp làm gương đòi hỏi các nhà giáo phải có đạo đức,
trình độ khoa học phải phù hợp, phải yêu nghề, yêu trò như con,… tất cả những
phẩm chất đó trở thành cơ sở, động lực cho việc tiếp thu của người học. cho nên
nhà giáo phải ra sức học tập, nghiên cứu, tìm tòi, phấn đấu vươn lên không ngừng,
đó chính là tấm gương cho người học. Với ý nghĩa đó, làm gương không chỉ là
phương pháp giáo dục mà còn thể hiện nhiệm vụ, trách nhiệm của một nhà giáo đối
với học trò.
8. phương pháp giáo dục phê bình và tự phê bình
Tự phê bình và phê bình là vũ khí sắc bén, là động lực bên trong giúp cho mỗi
chúng ta phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, không ngừng vươn lên hoàn
thiện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Trong di chúc để lại cho Đảng, cho
nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi
đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần,
kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Phải giữ gìn Đảmg ta thật trong sạch, phải xứng
đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân". Vậy làm
thế nào để Đảng ta có được điều đó? Bác đã chỉ ra : "Trong Đảng thực hành dân
chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình". Ở Hồ Chí
Minh, tự phê bình và phê bình đã trở thành một nguyên tắc không thể thiếu trong
phong cách lãnh đạo của Người. Dù ở cương vị lãnh đạo cao nhất, Người vẫn thực
hành tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, nêu tấm gương sáng về đức tính
trung thực, thẳng thắn, về thái độ và phương pháp phê bình cho cán bộ, đảng viên
noi theo.
18


Trong tình hình mới, khi lợi ích cá nhân ngày càng được tôn trọng và bảo đảm, nhất
là khi đảng viên được phép làm kinh tế tư nhân, và quyền lợi vật chất luôn gắn liền



xuống, nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố cũng
như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong".
“Làm theo” trong thực hiện nêu gương khi tiến hành tự phê bình và phê bình cũng
phải có phương pháp để bảo đảm tính khách quan, khoa học, phù hợp và hiệu quả.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp đó là: Tự phê bình và phê bình phải từ
trên xuống; các cấp ủy, cấp lãnh đạo, quản lý phải thường xuyên nêu gương tự phê
bình và phê bình cho cấp dưới và quần chúng noi theo; phải trân trọng lắng nghe và
tiếp thu những ý kiến đóng góp của cấp dưới, kể cả những ý kiến trái ngược nhau, ý
kiến của những người ngoài Đảng, của các tổ chức chính trị - xã hội và quần chúng
nhân dân.
Tự phê bình và phê bình là biện pháp quan trọng nâng cao trí tuệ, phát hiện và giải
quyết những mâu thuẫn trong Đảng và nhân dân, là quy luật sinh tồn và phát triển
trong mỗi chúng ta. Tự phê bình và phê bình đòi hỏi phải có tính cương trực và tính
nguyên tắc cao, phải đảm bảo tăng cường sự đoàn kết thống nhất giữa con người
với con người, tăng cường được mối quan hệ chặt chẽ giữa đảng và quần chúng.
Chủ tich Hồ Chí Minh đã tiếp thu, nghiên cứu, vận dụng và bổ sung sáng tạo quan
điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về vấn đề tự phê bình và phê bình một cách hết sức
cụ thể và độc đáo. Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng sâu sắc vào
lãnh đạo cách mạng nước ta đi đến thành công, xứng đáng và làm tròn vai trò lãnh
tụ chính trị của giai cấp và của dân tộc.

20


C: KẾT LUẬN
Suốt mấy chục năm qua, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục - đào
tạo nói chung và phương pháp giáo dục nói riêng luôn soi sáng sự nghiệp
trồng người ở nước ta. Nhận thức sâu sắc về vai trò của giáo dục, Hồ Chí Minh

22


MỤC LỤC

23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status