Nâng cao công tác quản lý chất lượng và dịch vụ vận chuyển hành khách của công ty cổ phần hoàng hà tại thành phố thái bình - Pdf 36

LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại toàn cầu hóa và kinh tế tri thức như hiện nay, ngành dịch vụ có
vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế thế giới và các nền kinh tế quốc gia.
Bốn mươi hai năm trước, Victor R. Fuchs (1968) đã nói về sự xuất hiện của nền kinh
tế dịch vụ ở Mỹ. Ngày nay, cả thế giới đang bước sang một nền kinh tế mới: nền
kinh tế dịch vụ. Năm 1995 Hiệp định về thương mại dịch vụ (GATS) đã được ký kết
và trở thành một trong những hiệp định quan trọng nhất của Tổ chức thương mại thế
giới (WTO). Phát triển và tự do hóa ngành dịch vụ nói chung, phát triển và tự do hóa
thương mại dịch vụ nói riêng đang trở thành chính sách ưu tiên của các Quốc gia.
Ngành dịch vụ hiện đóng góp 60% GDP của thế giới (Lovelock và Wirtz,
2007). Ở các nước OECD, tỷ trọng này lên đến 70% (OECD, 2008). GDP của lĩnh
vực dịch vụ chiếm tới 90% GDP của Hồng Kông, 80% GDP của Mỹ, 74% GDP của
Nhật Bản, 73% GDP của Pháp, 73% GDP của Anh và 71% GDP của Canada. Dịch
vụ đóng góp trên 50% GDP của các nền kinh tế Mỹ La Tinh như Braxin và
Áchentina, trên 60% GDP của các nước công nghiệp hóa mới ở châu Á như
Xingapo, Đài Loan và Malaixia. Dịch vụ cũng chiếm tới 48% GDP của Ấn Độ và
40% GDP của Trung Quốc (Lovelock và Wirtz, 2007, trích từ World FactBook,
2007 và EIU Country Data). Trong giai đoạn 1988 – 2003, đóng góp của ngành dịch
vụ cho giá trị gia tăng của toàn nền kinh tế OECD tăng từ 60% lên 68%, còn đóng
góp của ngành công nghiệp lại giảm từ 34% xuống còn 29%. Sự thay đổi này thể
hiện việc giá cả của các sản phẩm công nghiệp giảm tương đối so với giá cả của các
sản phẩm dịch vụ và người tiêu dùng ngày càng chi tiêu thêm cho dịch vụ nhiều hơn
cho hàng hóa (FORFAS, 2006:29).
Dịch vụ cũng trở thành ngành kinh tế thu hút chủ yếu lực lượng lao động hiện
nay. Lao động trong ngành dịch vụ ở bảy nước công nghiệp phát triển (G7) năm
2000 tăng 60% so với năm 1960 và tăng 6% trong giai đoạn 2000-2004 (FORFAS,
2006: 31). Trong giai đoạn 1970 – 2001, lao động trong ngành dịch vụ của Mỹ tăng
từ mức 67% lên 79% trong khi lao động trong ngành công nghiệp giảm từ mức 29%
xuống còn 19%, còn mức thay đổi này của các nước Tây Âu (EU 15 hiện nay)
tương ứng là từ 47% lên 70% và từ 40% xuống còn 26% (D’Agostino, Serafini và
Ward-Warmedinger, 2006:27).

Trong lĩnh vực vận tải hành khách, hành khách vừa là đối tượng chuyên chở
vừa là khách hàng tiêu dùng sản phẩm. Bởi vậy, chất lượng vận tải hành khách chính
là sự đánh giá của khách hàng về những yếu tố ảnh hưởng đến trực tiếp đến bản thân
hành khách trong suốt quá trình chuyên chở. Việc quản lí chất lượng tổng hợp - TQM
trở thành công cụ hỗ trợ đắc lực để đảm bảo và nâng cao chất lượng vận tải hướng tới
tiêu chuẩn hoá chất lượng vận tải hành khách ngành đường bộ trong môi trường sản
xuất, kinh doanh biến động và đầy cạnh tranh. Để thực hiện TQM trong quản lý chất
lượng vận tải hành khách, chuyên đề tập trung nghiên cứu hệ thống các chỉ tiêu đánh
giá chất lượng theo quan điểm phục vụ khách hàng từ đó xây dựng chỉ tiêu chất lượng
công tác phục vụ cho từng nhóm công việc, gắn liền với trách nhiệm của nhân viên
thực hiện; cải tiến hệ thống tổ chức và xây dựng quy chế, chế độ công tác hợp lý
nhằm xác định trách nhiệm với sự cam kết đảm bảo chất lượng và quyền lợi của các
thành viên toàn ngành; đổi mới cơ chế giám sát và kiểm tra chất lượng từ khâu đầu
tiên và khâu cuối cùng của quá trình vận tải bằng các giải pháp đầu tư hợp lý hệ thống
thông tin, hệ thống giám sát, đo lường và đánh giá chất lượng vận tải; tổ chức công tác
đào tạo nhằm làm rõ nhận thức về chất lượng vận tải và lợi ích của TQM trong quản
lý chất lượng, từ đó tạo niềm tin và động lực cho mọi thành viên trong ngành hướng
tới mục tiêu thoả mãn mọi nhu cầu, yêu cầu của khách hàng; liên tục cải tiến chất
lượng nhằm đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải.
1.1.2. Các hình thức kinh doanh dịch vụ vận chuyển hành khách
 Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe ô tô theo tuyến cố định
1. Kinh doanh vận tải hành khách theo tuyến cố định có xác định bến đi, bến
đến và ngược lại với lịch trình, hành trình phù hợp do doanh nghiệp, hợp tác xã đăng
ký và được cơ quan quản lý tuyến chấp thuận.
2. Tuyến vận tải hành khách cố định bằng xe ô tô bao gồm: tuyến liên tỉnh và
tuyến nội tỉnh. Tuyến liên tỉnh có cự ly từ 300 km trở lên phải xuất phát và kết thúc
3


tại bến xe đầu mối của huyện trở lên.

4


tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, hợp tác xã trên tuyến;
b) Xây dựng quy hoạch mạng lưới tuyến;
c) Công bố tuyến: số hiệu tuyến, điểm đầu, điểm cuối, điểm dừng đỗ, lộ trình
tuyến, tần suất chạy xe;
d) Điều chỉnh lộ trình, ngừng hoạt động tuyến;
e) Quyết định các tuyến xe buýt theo hình thức đặt hàng, đấu thầu .
f) Xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng (kể cả đáp ứng nhu cầu giao thông tiếp
cận) phục vụ xe buýt;
g) Ban hành các chính sách ưu đãi của nhà nước về khuyến khích phát triển vận
tải hành khách bằng xe buýt trên địa bàn;
h) Quyết định và quản lý giá cước.
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quy hoạch mạng lưới tuyến, xây dựng và
quản lý kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động xe buýt, công bố tuyến, giá vé, các chính
sách ưu đãi của nhà nước về khuyến khích phát triển vận tải hành khách bằng xe
buýt trên địa bàn.
 Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi
1. Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi có hành trình và lịch trình theo yêu
cầu của hành khách; cước tính theo đồng hồ tính tiền căn cứ vào kilômét xe lăn bánh;
2. Có hộp đèn với chữ "TAXI" gắn trên nóc xe; hộp đèn phải được bật sáng khi
xe không có khách và tắt khi trên xe có khách.
3. Lái xe phải đủ 21 tuổi trở lên.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức và quản lý điểm đỗ xe taxi công cộng.
 Kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng
1. Kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng là kinh doanh vận tải hành khách
có lộ trình và thời gian theo yêu cầu của hành khách, có hợp đồng vận tải bằng văn bản.
2. Xe hoạt động phải có hợp đồng vận tải ghi rõ số lượng hành khách; trường
hợp xe vận chuyển hành khách với cự ly từ 100 ki lô mét trở lên phải kèm theo danh

trường, uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng, thậm chí cả uy tín của doanh nghiệp
với đối thủ cạnh tranh. Tất cả các yếu tố đó sẽ cho biết doanh nghiệp đang ở vị trí nào trên
thị trường. Đây là một tài sản vô hình quan trọng, đặc biệt trong thời điểm cạnh tranh ngày
càng gay gắt như hiện nay. Nhân tố này được tích luỹ trong suốt quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp, mang tính lâu dài. Vì vậy, nó tạo ra lợi thế to lớn cho doanh
nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có nhiều ưu thế hơn so với đối thủ, doanh nghiệp ngày càng
có khả năng mở rộng được thị phần, nâng cao được doanh số tiêu thụ, góp phần tăng lợi
nhuận của doanh nghiệp.
Chất lượng, giá cả sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng
6


Chất lượng sản phẩm tác động trực tiếp đến người tiêu dùng nên nó quyết định đến
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nó đảm bảo cho doanh nghiệp mở rộng thị phần,
tiêu thụ sản phẩm nhiều hơn, đảm bảo thu hồi vốn nhanh cho sản xuất. Ngoài ra, nếu sản
phẩm của doanh nghiệp đạt được chuẩn mực quốc tế và khu vực về mọi phương diện là
nhân tố rất quan trọng trong tình hình cạnh tranh mang tính toàn cầu. Sản phẩm không chỉ
đáp ứng được nhu cầu trong nước mà còn đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng trên
khắp thế giới. Do đó, khi sản phẩm của doanh nghiệp đạt được đúng tiêu chuẩn quy định,
nghĩa là sản phẩm của doanh nghiệp có thể xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, được người
tiêu dùng tin tưởng và là phương tiện, biện pháp quan trọng đảm bảo cho các hoạt động sản
xuất kinh doanh được tiến hành thuận lợi, đạt được kết quả tối ưu.
Cùng với yếu tố chất lượng sản phẩm, gía thành là yếu tố đặc biệt quan trọng quyết
định đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận của
doanh nghiệp. Nếu chênh lệch giữa giá bán và giá thành cá biệt của doanh nghiệp càng cao
so với đối thủ thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng lớn và đây chính là vũ khí lợi
hại trên thương trường cạnh tranh về giá.
Trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của doanh nghiệp
Trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của doanh nghiệp cao sẽ giúp cho việc phát
huy tối đa hiệu quả sử dụng các yếu tố vật chất cũng như phi vật chất của doanh nghiệp,

Về tổng thể, hình thành được một hệ thống giao thông vận tải hợp lý giữa các
phương thức vận tải và các hàng lang vận tải chủ yếu đối với các mặt hàng chính có
khối lượng lớn. Có thể khái quát như sau:
 Hoàn thành việc cải tạo, nâng cấp một số tuyến trọng điểm ở các vùng kinh tế tập
trung như vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, các tuyến
đường hành lang Đông – Tây trong khuân khổ Dự án phát triển và hợp tác kinh tế
vùng MêKông mở rộng (Việt Nam – Thái Lan – Lào – Campuchia và tỉnh Vân
Nam Trung Quốc), các tuyến thuộc địa bàn phát triển chiến lược kinh tế.
 Mở rộng hệ thống giao thông đô thị, xây dựng các tuyến vành đai và các trục hướng
tâm tại các thành phố lớn, tổ chức tốt giao thông công cộng trong các thành phố lớn
nhằm đáp ứng trên 50% nhu cầu đi lại của nhân dân tại các thành phố đó.
 Thực hiện các biện pháp đồng bộ để giải quyết giao thông thông suốt, tăng cường
đảm bảo an toàn giao thông trên các quốc lộ có lưu lượng xe cao và tại các đô thị
lớn, đặc biệt là ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
 Ưu tiên đầu tư cho giao thông nông thôn, tập trung đầu tư phát triển giao thông ở
các vùng sâu, xa để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
 Ưu tiên phát triển vận tải hành khách công cộng, đặc biệt là các phương thức vận
tải hành khách công cộng nhan, khối lượng lớn. Kiểm soát sự phát triển của xe
máy, xe ôtô con cá nhân đặc biệt Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.

1.2.2. Nội dung của quản lý chất lƣợng phục vụ vận chuyển hành khách
Hoạt động quản lý chất lượng trong doanh nghiệp về nguyên lý khác với hoạt
động quản lý của nhà nước đối với chất lượng. Điều này là do tính chất tổ chức của
cơ quan nhà nước và của doanh nghiệp rất khác nhau vì những mục tiêu khác nhau.
Hoạt động quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp hay nói rộng hơn là của
8


các tổ chức không phải là nhà nước cũng hết sức đa dạng do tính chất hoạt động của
các tổ chức này.

có thể. Phương pháp này cung cấp một hệ thống toàn diện cho hoạt động quản lý
và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia
9


của tất cả các cấp, của mọi người nhằm đạt được mục tiêu chất lượng đã đặt ra.
Sự liệt kê các phương pháp quản lý chất lượng nêu trên cũng phản ảnh sự phát
triển của hoạt động quản lý chất lượng trên phạm vi thế giới diễn ra trong hàng thế
kỷ qua, thông qua sự thay đổi tư duy của các nhà quản lý chất lượng trong tiến trình
phát triển kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ của thế giới.
Ngoài các bộ tiêu chuẩn của ISO về hệ thống quản lý chất lượng (ISO 9001),
nhiều các hệ thống khác cũng đang được các doanh nghiệp Việt Nam xem xét áp
dụng, như ISO 14001 – hệ thống quản lý môi trường, HACCP – Hệ thống Phân tích
các nguy cơ và Kiểm soát các điểm trọng yếu trong lĩnh vực nông sản thực phẩm,
GMP – Quy chế thực hành sản xuất tốt trong lĩnh vực dược và thực phẩm, OHSAS
18001 – Hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, SA 8000 Hệ thống trách
nhiệm xã hội và các hệ thống quản lý chất lượng tích hợp hoặc đặc thù như ISO
22000 Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm (food chain), ISO/TS 29001 Công
nghiệp dầu khí và hóa dầu – Hệ thống quản lý chất lượng trong các ngành công
nghiệp đặc thù- yêu cầu đối với các tổ chức cung cấp sản phẩm và dịch vụ.
Ngoài các doanh nghiệp, việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức sự nghiệp và các cơ quan hành chính nhà nước
cũng được quan tâm. Mới đây ngày 20 tháng 6 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg về việc áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng
theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà
nước với mục đích từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý
dịch vụ công. Việc ban hành và thực hiện Quyết định này của Thủ Tướng như là một
biện pháp của Chính phủ trong nỗ lực cải cách hành chính nhằm đạt được những mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2006-2010 dựa trên những kinh nghiệm của quốc
tế trong lĩnh vực quản lý chất lượng. Điều này cho thấy hoạt động quản lý chất lượng ở

phẩm cùng loại và lựa chọn loại hàng n ào có những thuộc tính kinh tế - kỹ thuật
thỏa mãn những mong đợi của họ ở mức cao hơn. Bởi vậy sản phẩm dịch vụ có
các thuộc tính chất lượng cao là một trong những căn cứ quan trọng cho quyết
định mua hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
 Nâng cao vị thế, sự phát triển lâu dài cho doanh nghiêp trên thị trường: Khi sản
phẩm dịch vụ đạt chất lượng cao và ổn định đáp ứng được nhu cầu của khách hàng
sẽ tạo ra một biểu tượng tốt, tạo ra niềm tin cho khách hàng vào thương hiệu của sản
phẩm dịch vụ đó. Nhờ đó uy tín và danh itếng của doanh nghiệp được nâng cao, có
tác động to lớn đến quyết định lựa chọn mua hàng của khách hàng.
1.3. Yếu tố ảnh hƣởng đến công tác quản lý chất lƣợng dịch vụ vận chuyển
hành khách
1.3.1. Yếu tố bên trong
 Vị trí của doanh nghiệp trên thị trƣờng
Biểu thị cụ thể của yếu tố này là thị phần mà doanh nghiệp chiếm lĩnh trên thị
trường, uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng, thậm chí cả uy tín của doanh
11


nghiệp với đối thủ cạnh tranh. Tất cả các yếu tố đó sẽ cho biết doanh nghiệp đang ở
vị trí nào trên thị trường. Đây là một tài sản vô hình quan trọng, đặc biệt trong thời
điểm cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay. Nhân tố này được tích luỹ trong
suốt quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mang tính lâu dài. Vì vậy, nó
tạo ra lợi thế to lớn cho doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có nhiều ưu thế hơn so
với đối thủ, doanh nghiệp ngày càng có khả năng mở roọng được thị phần, nâng cao
được doanh số tiêu thụ, góp phần tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
 Xây dựng chính sách giá cả hợp lý
Giá cả hiện nay vẫn là một công cụ cạnh tranh khá hữu hiệu trong nền kinh tế
nước ta hiện nay, nhất là đối vớ ngành vận tải. Chính sách giá cả ảnh hưởng trực tiếp
đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Vai trò cạnh tranh của giá cả được thể hiện
qua chính sách định giá của Công ty. Chính sách giá đối với từng loại hình biến

chính sách giảm giá cho những đơn vị, khách hàng thuê xe với số lượng nhiều. Với
các khách hàng lớn, có quan hệ hợp tác lâu dài, Công ty cũng có thể định ra một
chính sách giá riêng để tạo mối quan hệ tốt với họ, song cần phải có một chính sách
hợp lý đảm bảo tình trạng vẫn có lãi, tránh tình trạng dây dưa, công nợ khó đòi. Để
tránh tình trạng này, Công ty cần phải tìm hiểu kỹ về khách hàng, nhất là khách hàng
lớn, trong đó chú trọng đển khả năng tài chính của họ.
Ngoài ra đổi mới phương tiện, thay thế những phương tiện không có hiệu suất
hoạt động cao, tốn nhiên liệu cũng làm tăng sản lượng vận tải, giảm chi phí cố định,
giảm sự tiêu hao nhiên nguyên liệu và tránh sự rò rỉ xăng dầu
1.3.2. Yếu tố bên ngoài
Công tác vận tải hành khách phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân đã có nhiều
tiến bộ do đã có sự đầu tư của một số doanh nghiệp và cá nhân nhưng vẫn còn nhiều
bất cập vì nhiều phương tiện vận tải chủ yếu được cải tạo lại, cũ kỹ lạc hậu. Để đáp
ứng nhu cầu phát triển của Xã hội và nhu cầu đi lại của nhân dân, giảm thiểu những
bất cập hiện nay Công ty chúng tôi quyết định đầu tư mua them xe ô tô với chất
lượng xe mới 100%, nhãn hiệu Samco, trong đó có 30 xe tải trọng 46 ghế và 20 xe
tải trọng 34 ghế. Có tính năng hiện đại và chất lượng tốt nhất để phục vụ nhu cầu
ngày một tốt hơn cho quý khách hàng.
Tính đến tháng 12 năm 2009 công ty Hoàng Hà có tổng số 290 đầu xe các loại.

13


CHƢƠNG II
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ
VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH CỦA CÔNG TY HOÀNG HÀ
2.1. Khái quát về Công ty Cổ phần Hoàng Hà
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Cổ phần Hoàng Hà
Thái Bình là một tỉnh với ngành sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, sự phát triển
kinh tế xã hội chưa bắt nhịp được với một số tỉnh lân cận như Nam Định, Hải Phòng,

và vận tải khách trên tuyến Thái Bình - Hà Nội nói riêng là rất lớn và có nhiều tiềm
năng. Đây cũng chính là tiền đề để
 Khái quát thông tin doanh nghiệp:
- Tên công ty:

Công ty Cổ phần Hoàng Hà

- Tên tiếng Anh:

Hoang Ha Joint Stock Company

- Tên giao dịch:

Công ty cổ phần Hoàng Hà

- Tên viết tắt:

Hoangha.,JSC

- Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc: Lƣu Huy Hà
- Điện thoại: 0913.567.701
- Trụ sở chính: Số 368 - Phố Lý Bôn - Phường Tiền Phong - TP. Thái Bình.
- Điện thoại: 036. 3842.842 / 036.3846.846
- Fax: 036.3846.908
- Website: www.hoanghaco.com.vn
- Email:
- Mã số thuế: 1000.272.301
- Tài khoản: 4711.000.000.2586 tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam Chi
nhánh Thái Bình.
 Thông tin chi nhánh và địa chỉ giao dịch:

+ Công đoàn Ngành GTVT Thái Bình tặng giấy khen

Năm 2006:

+ Giải thưởng Sao vàng Đất Việt do UB hợp tác Quốc tế phối hợp
với UB Trung ương Hội các nhà Doanh nghiệp trẻ Việt Nam trao
tặng.

Năm 2007:

+ UBND tỉnh tặng bằng khen cho giám đốc Công ty CP Hoàng
Hà vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế - Xã hội khu vực ngoài quốc doanh 2
năm liên tục 2005, 2006.
+ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tặng bằng khen
cho giám đốc, chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Hoàng Hà là
doanh nhân tiêu biểu khối doanh nghiệp địa phương năm 2007
+ UBND thành phố Thái Bình trao tặng danh hiệu Top 10 doanh
nghiệp tiêu biểu năm 2007.
+ Bộ GTVT tặng bằng khen cho Công ty Cổ phần Hoàng Hà vì
đã có thành tích trong phong trào thi đua phát triển GTVT địa
phương năm 2007.
+ Bằng khen của Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam vì có thành tích
"Thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội năm 2007"

Năm 2008:

+ Giám đốc Công ty được nhận Kỷ niệm chương "Vì sự phát
triển cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam" của Chủ tịch Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.

Số vốn điều lệ của Công ty là số vốn do các thành viên đóng góp và được ghi
vào điều lệ Công ty. Theo đó thì khi Công ty thực hiện cổ phần hoá số vốn điều lệ là
80.000.000.000 (Tám mươi tỷ đồng chẵn).
Theo góc độ tốc độ chu chuyển của vốn ta chia vốn của Công ty thành vốn cố
định và vốn lưu chuyển. Là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ song tỷ trọng của vốn
cố định rất lớn. Điều này bắt nguồn từ lĩnh vực kinh doanh của Công ty, do kinh
doanh vận tải nên vốn cố định chính là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ số xe của
Công ty và một số tài sản cố định khác.
 Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ:
Hàng năm, Công ty sẽ phải trích từ lợi nhuận sau thuế của mình một khoản
vào quỹ dự trữ để bổ sung vốn điều lệ theo quy định của pháp luật. Khoản trích
17


này không được vượt quá 5% lợi nhuận sau thuế của Công ty và được trích cho đến
khi quỹ dự trữ bằng 10% vốn điều lệ của Công ty.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của Công ty
 Cơ cấu tổ chức:
- Đại hội đồng cổ đông
- Hội đồng quản trị
- Ban Giám đốc
- Ban kiểm soát
- Các chi nhánh: Gồm 03 Chi nhánh đặt tại: Hà Nội, Quảng Ninh. Hưng Yên.
- 06 Phòng chức năng chuyên môn; và Xưởng bảo dưỡng sửa chữa ô tô.
- Tổng số 628 cán bộ công nhân viên.
 Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận:
* Đại hội cổ đông:
Là cơ quan quyết định cao nhất của Công ty, có trách hiệm theo dõi giám sát
hoạt động của hội đồng quản trị và ban kiểm soát, quyết định mức cổ tức hàng năm
của Công ty, sửa đổi bổ sung điều lệ của Công ty, thông qua báo cáo tài chính hàng

Công ty và đề nghị Hội đồng quản trị triệu tập Đại hội cổ đông khi thấy cần thiết.
+ Yêu cầu nhân viên trong Công ty cung cấp tình hình, số liệu và các thuyết minh
liên quan đến các hoạt động kinh doanh của Công ty.
* Ban giám đốc: (Gồm có 1 giám đốc và hai phó giám đốc)
Giám đốc có nhiệm vụ nhƣ sau:
+ Tổ chức quản lý và sử dụng vốn, tài sản Công ty có hiệu quả, đạt được mục tiêu
do Đại hội cổ đông và Hội đồng Quản trị đề ra.
+ Căn cứ vào phương hướng phát triển Công ty do Đại hội đồng đề ra, xây dựng kế
hoạch dài hạn và hàng năm để trình Đại hội cổ đông quyết định. Trong quá trình tổ chức
thực hiện kế hoạch đó, giám đốc chỉ được diều chỉnh sau khi Hội đồng Quản trị đồng ý.
+ Điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của Công ty, có quyền bố trí sản xuất
kinh doanh trong Công ty, quyết định quy chế trả lương cho công nhân viên và tổ
chức thực hiện.
+ Có quyền kỷ luật, chấm dứt hợp đồng lao động, cho thôi việc đối với công nhân
viên theo đúng Luật lao động.
Phó giám đốc có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc các vấn đề thuộc chuyên
môn của mình.
* Các phòng ban:
Công ty gồm có 4 phòng và 2 ban: Phòng tổ chức hành chính, phòng tài chính kế
19


toán, phòng kinh doanh tiếp thị, phòng vật tư kỹ thuật, ban dịch vụ và ban giám sát.
- Phòng tổ chức hành chính có chức năng nhiệm là:
+ Đề ra mọi nội quy, quy chế lao động sản xuất và là nơi thực hiện mọi chủ trương,
chính sách, chế độ của Đảng và nhà nước đối với người lao động.
+ Quy hoạch cán bộ theo từng thời gian ngắn, dài hạn để đề xuất lên giám đốc,
Đảng uỷ Công ty Công ty đề bạt những cán bộ công nhân viên có năng lực theo
phân cấp quản lý.
+ Quản lý hồ sơ, giải quyết các thủ tục, chế độ, theo dõi, kiểm tra và thực hiện việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status