ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐẶNG THỊ THANH TRÀ
SỬ DỤNG CÂU CHUYỆN ĐỂ GÂY HỨNG THÚ CHO HỌC SINH
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1954-1975)
LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (Chương trình chuẩn)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN LỊCH SỬ)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thế Bình
HÀ NỘI - 2014
1
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ chu đáo, tận tình đầy trách nhiệm của
TS. Nguyễn Thị Thế Bình đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả các thầy cô trong tổ bộ môn Phương
pháp dạy học lịch sử, Phòng tư liệu Khoa Lịch sử, Thư viện trường Đại học Sư
phạm Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Cảm ơn tập thể giáo viên và học sinh trường THPH Vạn Xuân - Hoài Đức - Hà
Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc thực nghiệm sư phạm và điều tra thực tế.
Sách giáo khoa
6: THCS
Trung học cơ sở
7: THPT
Trung học phổ thông
8: XHCN
Xã hội chủ nghĩa
ii
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn ....................................................................................................... i
Danh mục viết tắt ............................................................................................. ii
Mục lục ............................................................................................................ iii
MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
Chương 1: VẤN ĐỀ SỬ DỤNG CÂU CHUYỆN ĐỂ GÂY HỨNG THÚ
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG. LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN....................................... 6
1.1. Lịch sử nghiên cứu đề tài................................................................................... 6
1.1.1. Tài liệu nước ngoài ................................................................................
6
33
Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG CÂU CHUYỆN ĐỂ
GÂY HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
VIỆT NAM (1954-1975) LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG (chương
trình chuẩn)............................................................................................................................. 38
2.1. Vị trí, mục tiêu của chương trình SGK Lịch sử Việt Nam giai đoạn
1954-1975 trường THPT (chương trình chuẩn)................................................. 38
2.1.1. Vị trí ...................................................................................................... 38
2.1.2. Mục tiêu ................................................................................................ 38
2.2. Xác định nội dung kiến thức cơ bản của lịch sử Việt Nam (1954-1975)
có thể và cần sử dụng câu chuyện để gây hứng thú học tập cho học sinh .......... 41
2.2.1. Nội dung kiến thức cơ bản lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975 ......... 41
2.2.2. Những câu chuyện lịch sử có thể và cần sử dụng trong dạy học lịch
sử Việt Nam từ năm 1954-1975 ở lớp 12 THPT ............................................... 43
iii
2.3. Một số yêu cầu khi sử dụng câu chuyện trong dạy học lịch sử ................... 51
2.4. Một số biện pháp sử dụng câu chuyện để gây hứng thú cho học sinh
trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954-1975) THPT ......................................... 54
2.4.1. Sử dụng câu chuyện để định hướng kiến thức cơ bản của bài học .......... 54
2.4.2. Sử dụng câu chuyện để cụ thể hóa kiến thức sơ bản của bài học ............. 57
2.4.3. Sử dụng câu chuyện để tạo biểu tượng nhân vật lịch sử .......................... 59
2.4.4. Vận dụng phương pháp đóng vai, để gây hứng thú học tập cho học
sinh................................................................................................................... 63
2.4.5. Sử dụng câu chuyện lịch sử để ôn tập, kiểm tra kiến thức của học sinh............ 68 2.5.
Thực nghiệm sư phạm ............................................................................... 73 2.5.1.
Mục đích thực nghiệm ............................................................................ 73 2.5.2.
phương pháp dạy học trở thành một trong những vấn đề mang tính chiến lược cấp
thiết và tiến hành mạnh mẽ trước những yêu cầu đổi mới của đất nước. Bộ môn Lịch
sử giúp cho học sinh có được những kiến thức cơ bản cần thiết về lịch sử thế giới và
lịch sử dân tộc, góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học. Đặc biệt giáo
dục truyền thống, đạo đức, tư tưởng chính trị... lại là ưu thế nổi bật của bộ môn Lịch sử
trong nhà trường phổ thông. Vậy làm thế nào để học sinh yêu thích, hứng thú trong
học tập lịch sử ? Nhà văn Nga Tsecnusevski viết: "có thể không biết, không cảm thấy
say mê học tập môn Toán, tiếng Hilạp hoặc Latinh, Hóa học, có thể không biết hàng
nghìn khoa học khác, nhưng dù sao là người có giáo dục mà không yêu thích lịch sử thì
chỉ là một con người không phát triển về trí tuệ" [29]. Một trong
1
những biện pháp hữu hiệu là sử dụng câu chuyện trong dạy học nhằm gây hứng thú
cho học sinh học tập lịch sử. Thông qua các câu chuyện lịch sử giúp các em tái hiện lại
bức tranh quá khứ chân thực, sinh động, những cuộc kháng chiến hào hùng của dân
tộc, sự hy sinh và chiến đấu quên mình của quân dân ta, tạo ra xúc cảm lịch sử. Học
sinh hứng thú, say mê, tìm hiểu lịch sử sẽ giúp các em nắm vững bản chất các sự kiện,
hiện tượng, hình thành nên khái niệm, hiểu rõ những quy luật, những bài học quan
trọng của lịch sử, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Mặt khác, việc sử
dụng câu chuyện nhằm gây hứng thú học tập lịch sử cho học sinh còn giúp người thầy
thực hiện tốt các phương pháp dạy học và kiểm nghiệm tính hiệu qủa của các phương
pháp đó.
Thực tế việc sử dụng câu chuyện để gây hứng thú cho học sinh trong dạy học
hiện nay ở trường phổ thông còn nhiều bất cập. Một bộ phận giáo viên giàu tâm huyết
với nghề thường trăn trở làm sao nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Lịch sử. Họ đã
sưu tầm các tư liệu lịch sử quý báu, xây dựng thành các câu chuyện kể cho học sinh,
được học sinh đón nhận rất hào hứng. Bên cạnh đó, có không ít giáo viên chưa đánh
giá đúng tầm quan trọng của những câu chuyện lịch sử để gây húng thú cho học sinh,
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề lý luận của việc sử dụng những
câu chuyện trong dạy học bộ môn và căn cứ vào thực tiễn dạy học lịch sử ở trường
THPT, đề tài đi sâu vào tìm hiểu những câu chuyện tiêu biểu của lịch sử Việt Nam giai
đoạn 1954-1975, đề xuất một số biện pháp sư phạm sử dụng câu chuyện nhằm gây
hứng thú cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT và tiến hành thực nghiệm
một bài cụ thể để khẳng định tính khả thi của các biện pháp đưa ra.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu lý luận của các nhà triết học, các nhà giáo dục học và giáo dục lịch
sử về sử dụng câu chuyện trong các tài liệu giáo dục, giáo dục lịch sử và các tài liệu lịch
sử có liên quan đến đề tài.
- Tìm hiểu chương trình sách giáo khoa, nội dung kiến thức những câu chuyện
tiêu biểu của lịch sử Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 lớp 12 THPT.
- Tìm hiểu thực tiễn sử dụng những câu chuyện tiêu biểu, chất lượng giảng dạy
bộ môn, tình hình và sự hứng thú học tập lịch sử của học sinh phổ thông hiện nay.
- Đề xuất một số biện pháp sử dụng câu chuyện trong dạy học lịch sử Việt Nam giai
đoạn 1954-1975 trường THPT. Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả
thi của các biện pháp đề ra.
3
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học bộ môn Lịch sử ở trường THPT.
Đối tượng nghiên cứu: Sử dụng câu chuyện để gây hứng thú cho học sinh trong
dạy học lịch sử Việt Nam (1954-1975) lớp 12 THPT (Chương trình chuẩn).
5. Vấn đề nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu hai vấn đề cơ bản sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sử dụng câu chuyện để gây
hứng thú cho học sinh trong dạy học lịch sử ở THPT.
hứng thú cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954-1975) lớp 12 THPT
(Chương trình chuẩn).
9. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau
- Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu giáo dục học, giáo dục lịch sử, tài
liệu lịch sử liên quan đến đề tài và nghiên cứu chương trình, nội dung SGK lịch sử lớp
12 THPT (Chương trình chuẩn).
- Nghiên cứu thực tiễn:
+ Nghiên cứu việc dạy học lịch sử ở trường THPT bằng nhiều hình thức khác nhau
như: dự giờ, quan sát, các hình thức kiểm tra, đánh giá học sinh, trao đổi với giáo viên.
+ Điều tra thực tế để đánh giá mức độ, thực trạng việc sử dụng câu chuyện nhằm
gây hứng thú cho học sinh trong dạy học lịch sử thông qua phiếu điều tra giáo viên, học
sinh ở một số trường THPT.
+ Phương pháp thực nghiệm: Soạn bài thực nghiệm theo những dự kiến về biện
pháp mà luận văn đưa ra, tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của
biện pháp đó.
+ Phương pháp thống kê toán học: Tập hợp và xử lý các số liệu thu được qua
điều tra, thực nghiệm bằng cách lập bảng thống kê số liệu. Từ đó rút ra được nhận xét
khái quát.
10. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần: Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội
dung của luận văn được trình bày trong 2 chương:
Chương 1: Vấn đề sử dụng câu chuyện để gây hứng thú cho học sinh trong dạy
học lịch sử ở trường Trung học phổ thông. Lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Một số biện pháp sử dụng câu chuyện để gây hứng thú cho học sinh
trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954-1975) lớp 12 Trung học phổ thông (chương
trình chuẩn).
5
nhấn mạnh đến những câu chuyện khi dạy học: "Khi kể lần đầu tiên về một sự kiện nào
đó, bạn phải truyền đạt chỉ những nét chính của nó mà thôi...". Ngoài ra ông còn
6
đề cập đến việc gây hứng thú trong học tập của học sinh. "Giáo viên giúp học sinh
có cảm xúc niềm vui sướng trong học tập, từ đó sẽ hình thành động cơ học tập, nâng
cao chất lượng dạy học" [20, tr.4]. T.A Ilina cho rằng: "Giảng giải, kể chuyện - dùng lời
nói sinh động của giáo viên đều được sử dụng chủ yếu để truyền thụ tài liệu mới cho học
sinh. Kể chuyện là một trong những phương pháp quan trọng nhất để trình bày tài liệu
một cách có hệ thống. Kể chuyện là một trong những yếu tố cơ bản của bài học" [53,
tr.164].
Trong cuốn "Giáo dục học", tập I của N.V Savin, đề cập đến vai trò của các câu
chuyện trong dạy học: "Một câu chuyện kể lôi cuốn học sinh, gây nên tiếng vọng
trong tâm hồn các em và tạo ra những tiền đề thuận lợi cho việc hình thành những tình
cảm đạo đức cao cả, tình yêu đối với Tổ quốc, đối với quá khứ và hiện tại của Tổ quốc,
sự tế nhị, sự quan tâm, sự đồng cảm...". Ngoài ra tác giả cũng nhấn mạnh "...Trong giờ
học giáo viên giải thích hay kể chuyện, học sinh tích cực tìm câu trả lời cho câu hỏi đã
nảy sinh ở các em vào đầu giờ học" [41, tr. 68, 131]. Như vậy, câu chuyện hay, phù
hợp sẽ gây hứng thú cho học sinh trong giờ học.
I.A Lecne trong cuốn "Dạy học nêu vấn đề" đã đề cập đến vai trò của người giáo
viên trong dạy học, trong đó "Giáo viên cần nắm vững nghệ thuật kể chuyện nêu vấn
đề..." [21, tr. 76].
Tài liệu giáo dục lịch sử
M.N.Sacđacốp trong cuốn "Tư duy học sinh" (1970), đã nói rõ vai trò của biểu
tượng lịch sử nói chung, biểu tượng nhân vật nói riêng trong nhận thức lịch sử, đó là
khâu trung gian trong hoạt động tư duy.
Nhà giáo dục Xô Viết N.G.Đairi trong cuốn "Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế
nào" tác giả đã đề cập đến tính đa dạng của kiến thức và cần thiết phải trang bị cho giờ
lịch sử đối với việc nghiên cứu khoa học cũng như đối với việc dạy học lịch sử ở trường
phổ thông và đã đưa ra một số phương pháp sử dụng tài liệu lịch sử.
Trong cuốn "Phương pháp giảng dạy lịch sử", Nxb Giáo dục Hà Nội (1992), đã
tái bản có sửa chữa, bổ sung vào các năm 1998, 1999, 2000, 2001 do Phan Ngọc Liên,
Trần Văn Trị chủ biên tiếp tục khẳng định ý nghĩa của việc sử dụng tài liệu tham khảo
và chỉ rõ nguyên tắc, phương pháp sử dụng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông.
Giáo trình "Phương pháp giảng dạy lịch sử", Nxb Giáo dục Hà Nội (1998), của
Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị đã đề cập đến việc sử dụng tài liệu tham khảo: là một
nguồn cung cấp tri thức quan trọng cho học sinh, là một bằng chứng hiển nhiên,
8
hùng hồn, sinh động về một thời đại lịch sử, một nước, một sự kiện, một nhân vật
nhất định. Tài liệu lịch sử giúp cho học sinh cụ thể hóa kiến thức thu nhận được, tạo một
biểu tượng chân thực, rõ ràng, sinh động và làm cho kiến thức của các em được phong
phú, sâu sắc hơn.
Trong cuốn "Phương pháp dạy học lịch sử" của Phan Ngọc Liên (chủ biên),
Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, tập II, Nxb ĐHSP Hà Nội, (2002) đã đề cập một cách
chi tiết hơn vì sao phải sử dụng tài liệu tham khảo, vai trò, ý nghĩa, nguyên tắc và
phương pháp sử dụng. Việc sử dụng tài liệu tham khảo giúp học sinh có cơ sở để nắm
vững bản chất các sự kiện, hình thành các khái niệm, hiểu rõ những quy luật, bài học
quan trọng của lịch sử, rèn luyện cho học sinh thói quen nghiên cứu khoa học, phát
triển tư duy lịch sử.
Bên cạnh đó, trong các tài liệu chuyên khảo của một số tác giả tiếp tục nghiên
cứu và đưa ra ý kiến, đề xuất các biện pháp sử dụng tài liệu tham khảo. Trong đó
cuốn: "Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông (Một số chuyên
đề)", Nxb ĐHSP Hà Nội (2005) của Phan Ngọc Liên (cb), đã có một số bài viết của tác
giả đề cập đến việc sử dụng tài liệu dạy học lịch sử ở trường phổ thông như: Sử dụng
tài liệu Hồ Chí Minh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông (Phan Ngọc Liên), Sử
1.2. Cơ sở lý luận
1.2.1. Cơ sở xuất phát
1.2.1.1. Mục tiêu, nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông
Mục tiêu giáo dục - đào tạo trong nhà trường phổ thông hiện nay là: "Đào tạo con
người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề
nghiệp, trung thành. Bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp
ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [24, tr. 8].
Từ mục tiêu của giáo dục, xác định mục tiêu của cấp THPT: "Giáo dục THPT
nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn
thiện về những học vấn phổ thông và hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng
nghiệp, để tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi
vào cuộc sống lao động'' [23, tr. 17-18].
Mục tiêu của bộ môn Lịch sử là "nhằm giúp cho học sinh có được những kiến
thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần hình thành ở học
sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, truyền thống dân
tộc, cách mạng, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong
đời sống xã hội" [6, tr. 3].
Từ mục tiêu chung của môn học, người giáo viên căn cứ vào mục tiêu khóa trình
của mỗi cấp học, mỗi lớp, mỗi phần, mỗi chương và từng bài để dạy học có
hiệu quả:
Một là về kiến thức: Bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông cung cấp những kiến
thức cơ bản về lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc, giúp học sinh có được biểu tượng
chân thật về quá khứ lịch sử, bao gồm: sự kiện cơ bản, không gian, thời gian, nhân vật
quan trọng, hình thành thuật ngữ, khái niệm, rút ra bài học và quy luật lịch
12
sử (nếu có). Học sinh không những "biết", "hiểu" lịch sử mà còn phải biết vận dụng
những tri thức lịch sử vào giải quyết các bài tập lịch sử để củng cố tri thức, rèn luyện kĩ
các khoa học khác, đó là: tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống,
sự thống nhất giữa sử và luận.
Lịch sử mang tính quá khứ: Bao gồm tất cả những sự kiện, hiện tượng lịch sử đã
xảy ra trong quá khứ, chúng ta không thể trực tiếp quan sát lịch sử mà chỉ nhận thức
chúng một cách gián tiếp thông qua các tài liệu được lưu lại hoặc dựa vào các hiện
tượng lịch sử tương tự của cái mới xảy ra hay của các dân tộc khác để phân tích suy nghĩ
về những vấn đề lịch sử ta đang nghiên cứu. Vì vậy, ngoài những kiến thức trong sách
giáo khoa GV còn phải sử dụng thêm các tài liệu tham khảo nói chung và các câu
chuyện lịch sử nói riêng làm căn cứ khoa học, bằng chứng về tính chính xác, cụ thể của
các sự kiện lịch sử, tránh việc hiểu lịch sử một cách chung chung.
Tính không lặp lại: Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra trong một thời gian,
không gian nhất định, không có một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào hoàn toàn giống
nhau, dù có điểm giống nhau. Chính vì lẽ đó, buộc các nhà giảng dạy lịch sử khi trình
bày sự kiện, hiện tượng lịch sử nào đó trong lịch sử phải xem xét tính cụ thể cả về thời
gian và không gian làm nảy sinh sự kiện, hiện tượng đó. Qua đó biết phân biệt các sự kiện
đã xảy ra.
Lịch sử có tính cụ thể: Mỗi sự kiện lịch sử bao giờ cũng diễn ra trong một hoàn
cảnh cụ thể, về thời gian, không gian, con người. Khoa học nghiên cứu tiến trình của
các nước, các dân tộc khác nhau và quy luật của nó. Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc do những
điều kiện lịch sử khác nhau mà mang những nét khác nhau. Chính đặc điểm này đòi hỏi
khi trình bày các sự kiện, hiện tượng lịch sử càng cụ thể, sinh động, có hình ảnh bao nhiêu
càng hấp dẫn và gây hứng thú bấy nhiêu.
Tính hệ thống (tính logic lịch sử): Sự vận động của quá khứ tới hiện tại, từ hiện
tại tới tương lai trong hiện thực lịch sử luôn là quá trình phát triển hợp quy luật. Đồng
thời, tính hệ thống còn được thể hiện là các sự kiện thuộc các lĩnh vực: chính trị, quân sự,
kinh tế, văn hóa, tư tưởng, khoa học kĩ thuật không tồn tại độc lập mà có mối quan hệ
chặt chẽ. Những nội dung của tri thức lịch sử có mối đan xen phức tạp với nhau. Giúp
cho học sinh hiểu sự phong phú, tính đa dạng nhưng có tính hệ thống của lịch sử xã
hội. Điều này đòi hỏi GV khi giảng dạy lịch sử phải chú ý đến các sự kiện, hiện tượng
lịch sử, các mối quan hệ ngang dọc, trước sau của các vấn đề
học và khi đã có hứng thú học tập môn khoa học nào đó thì sẽ rất say mê nghiên cứu
chúng để đạt kết quả cao. Vì vậy trong giảng dạy, giáo viên cần phải biết khơi gợi
hứng thú học tập của các em, gợi cho các em có niềm đam mê với môn
15
học. Khi các em đã có hứng thú thì các em sẽ chủ động lĩnh hội kiến thức, tìm tòi
sáng tạo, có óc độc lập suy nghĩ, biết phê phán đánh giá và hoài nghi khoa học, tính
ham hiểu biết, tính ham tìm tòi cái mới, kiên trì chịu khó để hiểu được những gì mình
hoài nghi.
Tóm lại, quá trình nhận thức của học sinh trong học tập lịch sử cũng theo chu
trình từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng đến thực tiễn, trong đó giai đoạn
nhận thức quan trọng của học sinh là giai đoạn trực quan. Trong bài giảng, người thầy
sử dụng mọi nguồn tư liệu, những câu chuyện về lịch sử để khắc sâu kiến thức, tăng tính
hình ảnh, để sử dụng sao cho phù hợp với nội dung bài học, gây hứng thú học tập, góp
phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
1.2.1.4. Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông
Những năm gần đây, việc dạy học lịch sử ở trường phổ thông đã có nhiều tiến bộ
về nhận thức, nội dung và phương pháp dạy học. Nhiều GV giỏi tâm huyết với nghề,
xác định đúng được trọng tâm kiến thức cơ bản của bài, sử dụng đồ dùng trực quan
hợp lí. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn những vấn đề yếu kém, những sai sót trong nội
dung cũng như phương pháp giảng dạy. Dẫn đến một thực tế hiện nay là HS không
thích học lịch sử, điểm thi vào các trường đại học, cao đẳng còn rất thấp... trong đó
nguyên nhân không nhỏ là do phương pháp giảng dạy của giáo viên chưa phù hợp,
những giờ giảng lịch sử còn khô cứng, chưa gây được hứng thú học tập cho HS. Vì
vậy đổi mới phương pháp dạy học lịch sử trở thành một yêu cầu quan trọng, góp phần
nâng cao chất lượng dạy học bộ môn. Theo chỉ đạo của nghị quyết 29 Trung ương
Đảng, đổi mới căn bản và toàn diện: chuyển từ dạy học theo hướng tiếp cận nội dung
sang tiếp cận năng lực người học, dạy học tích hợp và vận dụng các phương pháp dạy
*Câu chuyện
Hiện nay chưa có khái niệm đầy đủ, chính xác thế nào là câu chuyện, câu
chuyện lịch sử. Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê thì câu chuyện là "sự việc hoặc
chuyện được nói ra" [47, tr. 125].
* Câu chuyện lịch sử
Là câu chuyện về những gì diễn ra trong quá khứ, nó khác với những câu
chuyện bình thường trong đời sống. Câu chuyện lịch sử thường có chủ đề, có tình tiết,
cốt truyện gắn liền với các sự kiện, thời gian, không gian và nhân vật lịch sử cụ thể. Câu
chuyện lịch sử có thể hiểu là những mảnh sự kiện, biến cố lịch sử liên quan đến nội dung
bài học, có khi là những tình tiết liên quan đến các nhân vật lịch sử, có khi chỉ là giải
thích cho một cái tên, một địa danh, cho một khái niệm, thuật ngữ
17
trong bài học. Câu chuyện lịch sử có thể dài, có thể ngắn, tùy thuộc vào mục đích
của người sử dụng.
* Câu chuyện lịch sử khác mẩu chuyện lịch sử
Câu chuyện lịch sử bao gồm cả mẩu chuyện lịch sử. Những câu chuyện lịch sử
được lựa chọn và viết ngắn gọn lại là những mẩu chuyện lịch sử.
* Cấu tạo của một câu chuyện lịch sử
Câu chuyện lịch sử là có chủ đề, nó gồm các yếu tố sau:
- Phần mở đầu (Giới thiệu vấn đề gắn với thời gian, không gian, con người cụ
thể, tình huống đặt ra, diễn biến sự kiện).
- Tình tiết phát triển.
- Tình tiết phát triển đến đỉnh cao. - Sự
căng thẳng trong kết cấu.
- Tình tiết giảm dần và kết thúc.
Mở đầu một câu chuyện, giáo viên có thể thu hút học sinh vào ngay câu chuyện,
để các em tập trung chú ý và hứng thú theo dõi câu chuyện. Tình bày tình tiết phải gợi
cảm, xúc động, đồng thời tạo biểu tượng rõ ràng, chân thực. Trong khi trình bày tình tiết,
kiến thức cho HS, cụ thể hóa, làm phong phú, sâu sắc và khắc sâu thêm nội dung kiến
thức chứa đựng trong SGK. Khi giáo viên kể những câu chuyện về lịch sử có thể kết
hợp với đồ dùng trực quan như: bản đồ, tranh ảnh có liên quan tới câu chuyện kể cho
HS sẽ gây hứng thú học tập lịch sử. Tuy nhiên, việc sử dụng câu chuyện trong giờ học
lịch sử đòi hỏi sự sáng tạo của giáo viên trong sự lựa chọn câu chuyện và sử dụng như
thế nào cho phù hợp với nội dung bài giảng để gây hứng thú học tập cho HS và nâng
cao chất lượng dạy học bộ môn.
1.2.2.2. Quan niệm về "hứng thú" và gây "hứng thú" cho học sinh trong dạy học
lịch sử
* Quan niệm về "hứng thú" và "hứng thú nhận thức".
Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho thấy hứng thú đóng một vai trò quan trọng
trong việc nâng cao năng lực trí tuệ của con người. Nó là động lực thúc đẩy con người
hoạt động tích cực để đạt đến kết quả mà mình mong muốn. Vì vậy nghiên cứu về
hứng thú là cần thiết với khoa học giáo dục, song đó là một vấn đề hết sức phức tạp.
Therletler Buhle viết: "Nghiên cứu và khảo sát hứng thú là một trong những vấn đề
phức tạp của tâm lí học, vì rằng hứng thú là một hiện tượng đặc biệt đến nay vẫn chưa
được xác định, phức hợp cấu tạo của nó nghiên cứu rất khó vì nguyên nhân của hứng
thú là đa dạng" [25, tr. 70].
"Hứng thú" là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong khoa học cũng như trong
đời sống. Hứng thú là một hiện tượng tâm lý phức tạp, vì vậy vấn đề này được nhiều
19
nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên để trả lời câu hỏi "hứng thú" là gì ?
đã có nhiều quan niệm dựa trên cách tiếp cận khác nhau.
Theo N.G.MôRôZôva: "Hứng thú" từ đối tượng này đến đối tượng khác, đối với
mọi lứa tuổi đều là một niềm vui. Niềm vui thường mang đến cho con người cuộc
sống tốt đẹp, đồng thời cả những khả năng và phương pháp làm việc tốt hơn. Học tập
cũng như bất kì một dạng lao động nào, đều cần thiết mang lại niềm vui cho con
người. Niềm vui là nguồn sáng tạo, thành những chiến công mới trong hoạt động.