Các biện pháp phát triển năng lực tư duy trong dạy học văn miêu tả cho học sinh lớp 6 - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

CẤN THỊ THẢO

CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY
TRONG DẠY HỌC VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 6

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60.14.01.11

Người hướng dẫn khoa học: TS. Phạm Minh Diệu

HÀ NỘI - 2015


Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Phạm Minh Diệu,
người đã tận tâm hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin tỏ lòng biết ơn các thầy giáo, cô giáo, người thân, bạn bè,
đồng nghiệp và các em học sinh trường thực nghiệm đã nhiệt tình ủng hộ,
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Hà Nội, ngày 02 tháng 1 năm 2015
Tác giả

Cấn Thị Thảo


Sách giáo khoa

SGV

Sách GV

THCS

Trung học cơ sở

i
i


MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn…………………………………………………………...... Danh i
mục viết tắt……………………………………………………… Mục

ii

lục………………………………………………………............... Danh mục

iii

các bảng…………………………………………………… MỞ

v1

ĐẦU………………………………………………………............ 1. Lí do


5
5

1.1.3. Văn miêu tả và sự phát triển tư duy cho HS trong dạy học văn

14

miêu tả………………………………………………………................ 1.2.

19

5
13

Cơ sở thực tiễn…………………………………………………….
1.2.1. Mục đích, nội dung, phương pháp dạy học văn miêu tả trong

19

CT, SGKNgữ văn 6. …………………………………………………..

25

1.2.2. Thực trạng dạy học văn miêu tả trong CT lớp 6 hiện nay……...
Chương 2. ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG
LỰC TƯ DUY CHO HỌC SINH LỚP 6 KHI DẠY HỌC VĂN
MIÊU TẢ………………………………………………………...........

37

50

3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……………………………

68

3.1. Mục đích, nội dung, cách thức thực nghiệm……………………

68

3.1.1. Mục đích thực nghiệm…………………………………………..

68

3.1.2. Nội dung thực nghiệm………………………………………….. 3.1.3.

68

Cách thức thực nghiệm…………………………………………. 3.2. Kết

68

quả thực nghiệm……………………………………………... KẾT

70

LUẬN……………………………………………………………

76


Bảng 3.1: Bảng đối chiếu điểm khác nhau giữa lớp thực nghiệm và
lớp đối chứng

69

Bảng 3.2: Bảng đối chiếu các thang bậc tư duy của Lorin Anderson
với các câu hỏi trong phiếu đánh giá:

70

Bảng 3.3: Kết quả đánh giá mức độ hoàn thành bài trắc nghiệm,mức
độ đáp ứng của HS theo các thang bậc tư duy của Lorin Anderson:

71

v


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Văn miêu tả là một trong 6 kiểu văn bản chính được dạy học trong nhà
trường phổ thông theo CT hiện hành. Trước đây, văn miêu tả chỉ được giảng dạy ở
bậc Tiểu học, nhưng từ CT 2000, nó được chính thức dạy học cả ở cấp THCS và
THPT.
Từ xưa tới nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, biên soạn bàn về đặc
trưng, phương pháp dạy học văn miêu tả. Tuy nhiên, vẫn chưa có đề tài nào
chuyên sâu bàn về vấn đề phát triển năng lực tư duy cho HS thông qua dạy học văn
miêu tả.
1.2. Trong thực tế dạy học văn miêu tả hiện nay ở THCS, các năng lực quan sát,
tưởng tượng, so sánh, nhận xét... đã được quan tâm rèn luyện cho HS, nhưng một

Năng lực tư duy (tư duy lô-gic) được quan tâm đặc biệt trong dạy học Tập
làm văn, tuy nhiên nhấn mạnh hơn đối với thể văn nghị luận.
Với văn miêu tả (và tự sự, biểu cảm), năng lực tư duy đã được quan tâm
trong các nhiệm vụ sau đây:
- Lựa chọn các yêu tố, chi tiết tiêu biểu sau khi quan sát. Sắp xếp các chi tiết, các ý trong lập dàn bài.
- So sánh, nhận xét về những nét riêng biệt của các yếu tố chi tiết, nhằm
phát hiện phong cách nhà văn.
Nhìn chung, năng lực tư duy lô-gic chưa được định vị trong các nội dung dạy
học văn miêu tả, và vì vậy chưa có được các phương pháp dạy học tích cực.
3. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu định vị năng lực tư duy trong dạy học văn miêu tả.
- Đề xuất một số biện pháp phát triển năng lực tư duy cho HS lớp 6 khi dạy
học văn miêu tả.
- Thực nghiệm để chứng minh tính khả thi và tính hiệu quả của các biện
pháp được đề xuất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này xác định đối tượng nghiên cứu gồm:
2


- Quá trình dạy học Tập làm văn ở THCS nói chung và dạy học văn miêu
tả ở lớp 6 nói riêng.
- Năng lực tư duy và phát triển năng lực tư duy cho HS lớp 6 khi dạy học văn
miêu tả.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt lí thuyết, đề tài không đi sâu bàn về tư duy lô-gic trong văn miêu tả mà
chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy lôgic cho HS lớp 6.
Về mặt thực tế, đề tài chỉ khảo sát và thực nghiệm ở một số trường THCS,
chưa có điều kiện mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm.

Chương 3. Thực nghiệm sư phạm

4


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU CÁC BIỆN PHÁP PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY TRONG DẠY HỌC
VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 6
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Khái niệm tư duy và sự phát triển năng lực tư duy
1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của tư duy
a. Khái niệm tư duy
Theo PGS. TS. Đinh Thị Kim Thoa: Tư duy là một quá trình tâm lí (nhận thức)
phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật
của các sự vật hiện tượng mà trước đó con người ta chưa biết [13, tr. 75].
Trong quá trình nhận thức, tư duy thuộc quá trình nhận thức lý tính (nhận
thức lý tính gồm tư duy và tưởng tượng). Để hoạt động tư duy diễn ra hiệu quả,
thuận lợi thì giai đoạn nhận thức trước đó - nhận thức cảm tính (gồm cảm giác và
tri giác) phải diễn ra thuận lợi. Hay nói khác đi là hoạt động tư duy luôn phải đặt
trong quá trình hoạt động nhận thức của con người: từ thấp đến cao, từ đơn giản
đến phức tạp. Các giai đoạn của quá trình gồm cảm giác, tri giác và tư duy, tưởng
tượng luôn có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, chi phối cho nhau, điều này đã được Lênin đúc kết trong nhận đinh: "từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ
tư duy trừu tượng trở về thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân
lý, của sự nhận thức thực tại khách quan".
b. Đặc điểm của tư duy
(1) Tư duy của con người luôn được cụ thể hóa qua các thao tác : phân tích,
so sánh, đối chiếu, khái quát hóa, trừu tượng hóa,…Khi chú trọng đến việc phát triển
tư duy cho HS, ngoài việc cần phát triển cho HS các tháo tác tư duy vừa nêu người dạy
còn cẩn phát triển cho HS của mình các phẩm chất tư duy: tính độc lập, tính mềm dẻo,

khác. Do đó, kinh nghiệm của con người rất quan trọng. Nó giúp con người sử dụng
kinh nghiệm cũ để nhận thức cái mới.

6


(6) Tư duy không tách rời quá trình nhận thức cảm tính. Tư duy và nhận
thức cảm tính là hai giai đoạn - hai mức độ khác nhau trong hoạt động nhận thức
của con người nhưng chúng luôn có quan hệ qua lại với nhau. Nhận thức cảm
tính tạo ra nguyên liệu, làm cơ sở cho quá trình tư duy, tạo ra hoàn cảnh có vấn đề
cho tư duy. Nhận thức cảm tính tham gia vào tất cả các khâu, các giai đoạn của
quá trình tư duy. Ngược lai, tư duy có tác động trở lại đối với nhận thức cảm
tính: làm cho hoạt động nhận thức cảm tính phong phú hơn, mang một chất lượng
mới - tăng tính nhạy cảm của cảm giác, tính ý nghĩa, tính lựa chọn, tính ổn định
của tri giác.
(7) Tư duy liên hệ hữu cơ với hoạt động thực tiễn. Tư duy luôn chỉ đạo,
định hướng cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả. Còn thực tiễn lại kiểm nghiệm tính
chính xác của hoạt động tư duy.
1.1.1.2. Khái niệm năng lực tư duy và sự phát triển năng lực tư duy
a. Thế nào là năng lực?
Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên), năng lực có thể được
hiểu theo hai nét nghĩa: (1) Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện
một hoạt động nào đó [6, tr. 114]; (2) Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con
người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao [6, tr.
114]. Hiểu theo nét nghĩa thứ nhất, năng lực là một khả năng có thực, được bộc
lộ ra thông qua việc thành thạo một hoặc một số kĩ năng nào đó của người học.
Hiểu theo nét nghĩa thứ hai, năng lực là một một cái gì đó sẵn có ở dạng tiềm năng
của người học có thể giúp họ giải quyết những tình huống có thực trong cuộc
sống. Như vậy, từ hai nét nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu năng lực là một cái gì đó
vừa tồn tại ở dạng tiềm năng vừa là một khả năng được bộc lộ thông qua quá trình

quá trình phản ánh, phát triển tri thức và vận dụng chúng vào thực tiễn.
Năng lực tư duy là một khả năng, một phẩm chất tâm lí của con người,
vừa ảnh hưởng của gen di truyền bẩm sinh, vừa là sản phẩm của lịch sử, của sự phát
triển xã hội. Nó thông qua rèn luyện thực tiễn mới trở nên thật sự có hiệu
quả của con người và xã hội
Năng lực tư duy của con người ngày càng được nâng cao theo sự phát triển
của con người và lịch sử xã hội. Nhưng đó không phải là một quá trình tự
8


phát mà là một quá trình tự giác - quá trình do con người tự rèn luyện, nâng cao
năng lực cho mình.
Năng lực tư duy xét về mặt tinh thần, trí tuệ, bản chất xã hội phải được đổi
mới rèn luyện, bổ sung không ngừng. Tuy nhiên tùy từng bộ phận cấu thành của nó
mà có sự rèn luyện, đổi mới khác nhau ít hoặc nhiều trên cơ sở các quy luật của tư
duy và quy luận tồn tại của nó.
Mác đã từng nói, tri thức là phương thức tồn tại của ý thức. Với tư cách là
một phương pháp nhận thức, tri thức là cơ sở, là một trong những yếu tố quan
trọng bậc nhất để tạo ra và rèn luyện năng lực tư duy
Năng lực tư duy không chỉ là năng lực tư duy hình thức mà chủ yếu là
năng lực tư duy biện chứng. Do đó phát triển năng lực tư duy phần lớn là phát triển
tính biện chứng, loogic của tư duy (khả năng nhận ra và thống nhất các mặt đối
lập , mối liên hệ và sự chuyển hóa giữa các khái niệm, phạm trù; năng
lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, suy luận theo quy luật biện chứng tồn tại)
Những yếu tố cơ bản của năng lực tư duy:
(1) yếu tố thấp của năng lực tư duy: năng lực ghi nhớ, tái hiện, vận dụng tri
thức đã tiếp thu
(2) Trừu tượng hóa, khái quát hóa trên tiềm lực phân tích, tổng hợp: tức là năng
lực phân tích, tổng hợp ở cấp độ nhận thức lý tính
(3) Liên tưởng, tưởng tượng, suy luận - là một năng lực bậc cao của tư duy, năng

(2) Năng lực tư duy thể hiện trên cả hai lĩnh vực, hai chức năng là phản
ánh, xử lý và vận dụng tri thức.
(3) Vai trò năng lực tư duy thể hiện ở ba mặt: một là tư duy huy động
được toàn bộ trí lực cả về nội dung và phương pháp tư duy; hai là, cụ thể hóa
những nhận thức đó để định hướng và chỉ đạo hành động cụ thể của con người
trong hoạt động thực tiễn; ba là, lưu giữ, truyền bá, phát triển tri thức, càng sử
dụng càng sâu sắc, càng tích lũy được nhiều càng được duy trì.
(4) trình độ, năng lực tư duy ở từng người, ở từng thời đại đạt được là
khác nhau.

10


Với năng lực nói chung, nó luôn đòi hỏi mỗi con người phát triển về
nhiều mặt, nhiều kĩ năng, kĩ xảo,…để hướng tới tốc độ, chiều sâu, cường độ khi lĩnh hội
và vận dụng tri thức, kĩ năng, kĩ xảo,…Còn với năng lực tư duy, để phát triển năng
lực này cho HS các thầy cô giáo cần giúp các em biết vận dụng thành thạo các
thao tác tư duy, các kĩ năng tư duy, các loại tư duy và hình thành cho các em các
phẩm chất tư duy. Đặc biệt khi rèn luyện tư duy loogic - tư duy biện chứng cho HS,
chúng ta cần hướng các em tới khả năng thực hiện thành thạo các thao tác tư duy,
khả năng hoàn thành các thao tác tư duy một cách nhanh chóng, cao hơn nữa là
hiệu quả khi các em tư duy: phản ánh chân thực, đúng bản chất đối tượng và quy
luật khách quan.
Ví dụ: khi cho HS làm bài tập: Tìm hiểu cách so sánh ví von của nhân dân ta trong
những trường hợp sau đây (viết tiếp các từ có thể sử dụng để so sánh) :
Mẫu : Trắng như cước, bông
- Đỏ như… - Gầy
như… - Đen
như… - Béo như…
- Vàng như…

định diễn ra, mặt khác vẫn bị ảnh hưởng bởi các ấn tượng , những rung động
mạnh mẽ của lứa tuổi nên sự chú ý vẫn chưa bền vững. Vì thế, HS có những giờ
học rất tập trung chú ý những cũng có những giờ học lại lơ đãng. Sự chú ý có
chủ định bước đầu được phát triển nhưng sự di chuyển sang chú ý sau chủ định (HS
chú ý cao độ) còn mờ nhạt.
- Sự phát triển ngôn ngữ: vốn từ của các em tăng nhanh, việc học tập môn văn
đã giúp các em phát triển ngôn ngữ chính xác, giàu tính hình tượng,….nhiều
HS thích sáng tác, làm thơ. Ngôn ngữ bên trong của các em phát triển và được biểu hiện
dưới dạng độc thoại, điều này thấy rõ ở chỗ: nhiều khi các em muốn "lắng xuống"
để phân tích thế giới nội tâm của mình.

12


Hạn chế ở ngôn ngữ của các em là thích sử dụng những từ ngữ sáo rỗng,
không khoa học, bắt chước ngôn ngữ người lớn mà không hiểu hết nghĩa của ch
úng .
- Hoạt động tư duy có những bước tiến mới: tư duy khái quát độc lập được
phát triển mạnh thông qua việc phân tích, chứng minh, so sánh, tổng hợp một
cách lôgic chặt chẽ. Tư duy trừu tượng dần chiếm ưu thế, phát triển mạnh mẽ và giữ
vai trò quan trọng trong học tập của các em.
- Tư duy phê phán của HS lớp 6 được hình thành và phát triển. Ở các em
thường xuất hiện những ý kiến đánh giá, phê phán những thông tin trong học tập
và trong đời sống. Do đó trong quá trình dạy học, đôi khi HS hay tranh cãi,
bộc lộ sự bướng bỉnh. Đây là loại tư duy rất cần thiết cho kỹ năng sống của con
người hiện đại ngày nay nên phát triển nó đồi hỏi sự thông minh khéo léo dẫn dắt
của GV để loại tư duy này phát triển tích cực.
- Tư duy sáng tạo độc lập bước đầu được phát triển. Các em có ý thức tìm ra
cách giải bài tập theo hướng của riêng mình, có nhiều em thích sáng chế, phát minh.
Vì vậy, khi dạy HS lớp 6, GV cần tạo ra nhiều hoàn cảnh, tình huống có vấn đề

này là hoạt các động tổ chức của nó đều hướng người học trở thành chủ thể tìm
kiếm tri thức, dần tự rút ra và hoàn thiện kĩ năng, kĩ xảo cho mình; hướng HS tới
hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức. Khi các phương pháp dạy học
này được sử dụng cũng đồng nghĩa với việc GV phải tổ chức đa dạng các hoạt
động cho HS, đa dạng trong hình thức tổ chức; GV hướng dẫn HS phương pháp
học, phương pháp tự học, phương pháp tư duy,...; HS được học, được hợp tác
trong môi trường có sự phối hợp giữa học cá nhân với học nhóm, học tập thể và có
sự kết hợp trong đánh giá của thầy và đánh giá của trò.
Với các phương pháp dạy học tích cực đó, môi trường học tập của các em
sẽ tích cực hóa các em trong nhiều phương diện, đặc biệt là trong nhận thức,
trong tư duy. Nhờ đó mà năng lực tư duy của HS có điều kiện hình thành và phát
triển tốt hơn.
1.1.3. Văn miêu tả và phát triển tư duy cho HS trong dạy học văn miêu tả
1.1.3.1. Khái niệm văn miêu tả
14


- Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên: miêu tả là "dùng ngôn
ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật làm cho người khác có thể hình dung được
cụ thể sự vật hoặc thế giới nội tâm con người" [6, tr. 628].
- Trong SGK Ngữ văn lớp 6 có viết: "Văn miêu tả là loại văn nhằm giúp
người đọc, người nghe hình dung những đặc điểm, tính chất nổi bật của một sự vật,
sự việc, tính chất, con người , phong cảnh,.... làm cho những cái đó như hiện lên
trước mắt người đọc, người nghe" [11, tr.16].
Như vậy chúng ta có thể hiểu: Văn miêu tả là loại văn dùng ngôn ngữ để tái
hiện cảnh vật, sự vật, sự việc, tính chất, con người, thế giới nội tâm nhân phong
cảnh mà người viết, người nói quan sát được, cảm nhận được.Văn miêu
tả giúp người đọc, người nghe có thể hình dung ra đối tượng mà người viết,
người nói đã miêu tả.
1.1.3.2. Đặc điểm của văn miêu tả.

văn miêu tả là các yêu cầu, là các bước trước khi làm một bài văn miêu tả. Các
thao tác này cũng có những yếu tố đồng nhất với các thao tác của tư duy.
- Quan sát tương ứng với giai đoạn nhận thức trực quan sinh động về đối
tượng. Quan sát đòi hỏi ta biết chọn vị trí quan sát: từ ở xa hay ở gần, từ bên trog
hay bên ngoài, theo giai đoạn phát triển, theo trình tự thời gian hay theo trình tự
không gian. Vị trí quan sát đó sẽ cho con người cái nhìn khái quát , tổng thể, toàn
cục về đối tượng. Nếu vừa đi ô tô hoặc đi xe máy, xe đạp để quan sát thì sự vậy
hiện tượng hiện lên như một cuốn quay phim chậm; còn nếu dừng lại để quan sát
thì người viết lại có thể thấy rõ từng nét, từng chi tiết của sự vật hiện tượng.
Bước quan sát này cần thực hiện nghiêm túc để nhận ra toàn bộ sự vật hiện
tượng định tả bằng cái nhìn vừa bao quát toàn diện vừa cụ thể chi tiết, đầy đủ về đối
tượng, để từ đó nhận ra được những nét khác biệt, nét tương đồng của sự vật hiện
tượng so với các sự vật hiện tượng cùng loại hoặc khác loại. Đồng thời tạo ra những
xúc cảm giữa người quan sát và sự vật hiện tượng được quan sát. Nếu ta chỉ quan
sát hời hợt, sơ qua, bàng bạc thì chỉ lãng phí thời gian, không hiểu biết về đối tượng
và không phát triển được kinh nghiệm cá nhân.
16


Để quan sát có hiệu quả, người quan sát cần tận dụng lợi thế của tất cả các
giác quan (thính giác, thị giác, vị giác, xúc giác, khứu giác) và không ngừng rèn
luyện năng lực liên tưởng, tưởng tượng trong quá trình quan sát. Một hành động quan
sát tốt phải đem lại một nhận thức mới, một cảm xúc mới hay ít ra cũng là một nét
mới mẻ trong cảm nhận về đối tượng.
Quan sát là việc làm đầu tiên cung cấp tư liệu cho hoạt động tư duy về đối
tượng. Quan sát có hiệu quả tốt sẽ giúp cho hoạt động tư duy diễn ra thuận lợi,
chính xác.
Có thể nói, quan sát rất quan trọng trong văn miêu tả. Khi quan sát, ta biết
soi ngắm đối tượng từ nhiều góc độ, từ nhiều thời điểm, từ nhiều mảng,
nhiều khía cạnh sẽ giúp ta nhận thức về đối tượng một cách đa chiều, chân thực và

giá trị đối với quá trình nhận thức, đem cái chưa biết đối chiếu với cái đã biết
để qua cái đã biết mà nhận thức, hình dung được cái chưa biết.
- Nhận xét trong dạy học văn miêu tả là một hoạt động gắn liền với bình
luận, đánh giá. Để nhận xét được chính xác, HS rất cần các thao tác phân tích và
tổng hợp. Vì vậy, chúng ta có thể thấy rõ mối quan hệ mật thiết của tư duy trong
hoạt động nhận xét khi miêu tả đối tượng
- Hoạt động tư duy trong dạy học văn miêu tả còn thể hiện trong lập dàn ý và
diễn đạt. Dàn ý một bài văn rất cần đến việc tổ chức, sắp xếp, cân nhắc trong hoạt
động tư duy để có một nội dung đầy đủ, cấu trúc cân đối, hợp lí, khoa học,….còn
trong diễn đạt, hoạt động tư duy tham gia vào việc lựa chọn và tổ chức ngôn ngữ, hình
ảnh, cách diễn đạt ý tưởng, cách nối kết các ý trong một câu, một đoạn văn, giữa
các đoạn văn với nhau,….
b. Năng lực tư duy cần hình thành và phát triển cho HS trong dạy học văn
miêu tả ở lớp 6:
Từ cách hiểu về năng lực, năng lực tư duy và từ đặc trưng của văn miêu tả đã
phân tích trên đây, chúng tôi có thể đưa ra năng lực tư duy cần hình thành và
phát triển cho HS lớp 6 khi dạy học văn miêu tả:
(1) Năng lực chung khi tư duy: các thao tác tư duy (thao tác phân tích, so
sánh, suy luận, tổng hợp, khái quát, đánh giá, trừu tượng hóa,…); các phẩm chất tư
duy: (tính linh hoạt, tính sáng tạo, tính bền bỉ, tính năng động, tính đa dạng,
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status