ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO
DỤC
TỐNG THỊ HẢO
DẠY HỌC NGỮ PHÁP CÂU TIẾNG VIỆT
CHO SINH VIÊN LÀO TẠI HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN
THEO LÍ THUYẾT GIAO TIẾP
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ
VĂN
HÀ NỘI - 2014
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO
DỤC
TỐNG THỊ HẢO
DẠY HỌC NGỮ PHÁP CÂU TIẾNG VIỆT
CHO SINH VIÊN LÀO TẠI HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN
THEO LÍ THUYẾT GIAO TIẾP
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ
VĂN
Tống Thị Hảo
i
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn ...................................................................................................... i
Mục lục............................................................................................................ ii
Danh mục các bảng ......................................................................................... iv
MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY
NGỮ PHÁP CÂU TIẾNG VIỆT THEO LÍ THUYẾT GIAO TIẾP ............. 9
1.1. Cơ sở lí luận .............................................................................................
9
1.1.1. Dạy học tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp ........................................... 9
1.1.2. Câu trong tiếng Việt và việc dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt
theo lí thuyết giao tiếp.................................................................................... 23
1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 32
1.2.1. Một số giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài viết về ngữ
pháp câu tiếng Việt..........................................................................................
33
1.2.2. Việc dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt cho sinh viên Lào ở
Học viện An ninh nhân dân............................................................................. 43
Kết luận chương 1 ...........................................................................................
50
Chƣơng 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC NGỮ PHÁP CÂU TIẾNG VIỆT
THEO LÍ THUYẾT GIAO TIẾP ................................................................ 51
2.1. Định hướng chung về việc dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt theo
lí thuyết giao tiếp.............................................................................................
3.2.1. Biện soạn tài liệu thực nghiệm ............................................................. 80
3.2.2. Đối tượng và địa bàn thực nghiệm........................................................ 81
3.2.3. Xây dựng kế hoạch dạy học thực nghiệm và tổ chức tập huấn
cho GV dạy học thực nghiệm.......................................................................... 82
3.3. Tổ chức thực nghiệm sư phạm................................................................. 84
3.3.1. Nội dung thực nghiệm........................................................................... 84
3.3.2. Cách thức thực nghiệm .........................................................................
91
3.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm .................................................................
93
3.4.1. Các tiêu chí đánh giá .............................................................................
93
3.4.2. Kết quả thực nghiệm ............................................................................. 95
3.4.3. Những kết luận chung rút ra từ thực nghiệm sư phạm ......................... 98
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ...............................................................3 10
1. Kết luận .......................................................................................................3
10
2. Khuyến nghị ................................................................................................5
10
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................7
10
PHỤ LỤC .......................................................................................................2
11
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
đoạn mới - giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cùng hợp tác, cùng phát
triển và hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới. Cùng với quá trình
hữu nghị hợp tác đặc biệt giữa hai quốc gia Việt - Lào, trong những năm qua,
mối quan hệ hợp tác giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ An ninh Lào không
ngừng được củng cố và đẩy mạnh. Một trong những lĩnh vực hợp tác rất thành
công là lĩnh vực hợp tác đào tạo. Hàng năm, Bộ Công an Việt Nam đã đào tạo
cho Bộ An ninh Lào nhiều cán bộ chiến sĩ công an có
1
trình độ chuyên môn cao, góp phần quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ đất nước. Riêng Học viện An ninh nhân dân, cho đến nay đã đào tạo
được hơn 20 khóa học cho sinh viên Lào. Hàng năm, hàng trăm cán bộ an
ninh tốt nghiệp trình độ đại học và trên đại học tại Học viên An ninh đã trở về
nước và cống hiến hết sức mình cho công tác an ninh của đất nước. Phần lớn
sinh viên Lào tốt nghiệp về nước đều hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và có
nhiều người giữ những trọng trách cao trong Bộ An ninh Lào. Có được thành
công đó phần quan trọng là nhờ vào vốn kiến mà sinh viên Lào đã học tập tại
Học viện An ninh nhân dân. Tiếng Việt đối với sinh viên Lào chính là công cụ,
phương tiện hết sức quan trọng để có thể học được các môn chuyên ngành
nghiệp vụ. Giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên Lào và làm thế nào để nâng cao
hơn nữa chất lượng giảng dạy tiếng Việt cho sinh viên Lào đang là một trong
những nhiệm vụ, nỗi niềm trăn trở của các cán bộ giáo viên giảng dạy tiếng Việt
ở Học viên An ninh.
1.2. Cũng từ năm 1990 đến nay, dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ đã phát triển
khá mạnh mẽ, thu hút được sự quan tâm chú ý của nhiều học giả, nhà nghiên
cứu. Nhiều đề án về giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài được thực hiện
như đề án "Đẩy mạnh công tác tiếng Việt đối với người Việt Nam ở nước
ngoài từ nay đến năm 2010". Các hội nghị khoa học về giảng dạy tiếng Việt như
và ngại giao tiếp. Suy nghĩ của hầu hết sinh viên Lào là ngữ pháp tiếng Việt
nói chung rất khó. Trong khi đó, việc tạo lập câu đúng ngữ pháp, ngữ nghĩa và
biết cách sử dụng các câu đó đúng với các tình huống giao tiếp, bối cảnh giao
tiếp là vấn đề hết sức quan trọng trong việc rèn luyện các kĩ năng nghe, nói,
đọc, viết. Chính vì vậy, việc vận dụng lí thuyết giao tiếp vào dạy tiếng Việt
nói chung và ngữ pháp câu tiếng Việt nói riêng cho sinh viên Lào là rất cần
thiết và phù hợp với đối tượng. Mục đích là giúp SV được thực hành giao
tiếp nhiều, SV mạnh dạn sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt trong các tình huống
giao tiếp khác nhau, từ đó nâng cao năng lực giao tiếp. Bởi suy cho cùng, dạy
học tiếng Việt chính là để người học có thể dùng tiếng Việt để giao tiếp trong
môi trường văn hóa của người bản ngữ. Để có thể giao tiếp được tốt, người
học phải hiểu tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt đúng. Nói cách
3
khác, để giao tiếp tốt, người học vẫn rất cần nắm vững cấu trúc ngữ pháp của
câu và quan trọng hơn là biết sử dụng các câu đúng ngữ pháp và ngữ nghĩa
trong các bối cảnh giao tiếp khác nhau.
Với những lí do trên, chúng tôi chọn dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt
cho sinh viên Lào theo lí thuyết giao tiếp là đề tài nghiên cứu của mình.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Việc vận dụng lí thuyết giao tiếp vào dạy tiếng Việt nói chung và ngữ
pháp câu tiếng Việt cho người nước ngoài nói riêng cho đến nay còn chưa
được bàn đến một cách cụ thể, chi tiết trong những bài viết, công trình nghiên
cứu khoa học của các nhà nghiên cứu, các nhà phương pháp cũng như các
giáo viên đang trực tiếp giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Tuy
nhiên, những vấn đề chung của lí thuyết giao tiếp và sự vận dụng chúng vào
dạy học tiếng Việt và ngữ pháp tiếng Việt cho người nước ngoài đã luôn được
quan tâm, nhất là từ những năm 1990 trở lại đây.
Giản yếu về Ngữ dụng học đến toàn bộ nội dung ngữ dụng học trong 2 tập của
cuốn Đại cương ngôn ngữ học tác giả đã trình bày các kết quả nghiên cứu về
ngôn ngữ trong mối quan hệ với các nhân tố giao tiếp và những vấn đề cụ thể về
lí thuyết hội thoại. Đây được xem như là cơ sở cho việc xây dựng các tình
huống giao tiếp trong việc dạy học tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp.
2.3. Những nghiên cứu về dạy học theo lí thuyết giao tiếp khi giảng dạy
tiếng Việt cho người nước ngoài như một ngoại ngữ
Cuốn Tiếng Việt như một ngoại ngữ - Các vấn đề tiếng Việt cho người
nước ngoài tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, các giáo viên trực
tiếp tham gia giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, hầu hết các tác giả
của các bài viết trong sách này đều đề cập đến phương pháp dạy tiếng Việt
cho người nước ngoài. Bài viết "Các phương pháp giảng dạy ngoại ngữ" của
Nguyễn Đức Dân (Trường đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh) đã
trình bày về các phương pháp dạy học tiếng Việt. Tác giả của bài viết này
nhấn mạnh đến ưu điểm của dạy học giao tiếp so với một số phương pháp
truyền thống và việc vận dụng quan điểm giao tiếp vào giảng dạy ngữ pháp
5
tiếng Việt cho người nước ngoài sẽ khắc phục được một số hạn chế của các
phương pháp truyền thống.
TS. Nguyễn Thiện Nam - Trường Đại học Khoa học xã hội & Nhân văn
trong đề tài khoa học "Những nội dung cơ bản của chương trình đào tạo giáo
viên tiếng Việt như một ngoại ngữ" đã trình bày khá cụ thể về các phương pháp
dạy học tiếng Việt cho người nước ngoài. Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh
đến dạy học tiếng Việt như một ngoại ngữ theo phương pháp giao tiếp.
2.4. Những nghiên cứu về lí thuyết giao tiếp khi dạy học ngữ pháp tiếng
Việt cho người nước ngoài như một ngoại ngữ
PGS.TS Vũ Thị Thanh Hương có bài "Dạy ngữ pháp theo cách tiếp
hiểu các tài liệu lí luận về một số quan điểm, phương pháp dạy học tiếng nói
chung và quan điểm dạy học giao tiếp nói riêng.
5.2. Phương pháp điều tra khảo sát: Phương pháp này được sử dụng để tìm
hiểu đánh giá về giáo trình dạy tiếng cho người nước ngoài cũng như thực tiễn
giảng dạy ngữ pháp câu tiếng Việt cho người nước ngoài có theo lí thuyết giao
tiếp hay không. Trên cơ sở đó làm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất quy trình,
cách thức dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp.
5.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Được sử dụng nhằm làm rõ tính
khả thi và hiệu quả của các quy trình dạy học ngữ pháp câu tiếng Việt theo lí
thuyết giao tiếp mà luận văn đã xây dựng. Luận văn sẽ sử dụng các hình thức
thực nghiệm sư phạm cơ bản là: thực nghiệm thăm dò, thực nghiệm dạy học,
thực nghiệm kiểm tra đánh giá nhằm đánh giá hiệu quả ứng dụng các quy
trình dạy học đã xây dựng trong thực tiễn dạy học.
Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như: quan sát,
thống kê, phân loại, đối chiếu, so sánh… để bổ sung cho các phương pháp trên
trong quá trình nghiên cứu.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học ngữ pháp câu
tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp
Chương 2: Tổ chức dạy học ngữ pháp tiếng Việt theo lí thuyết giao tiếp
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
8
CHƢƠNG
1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY NGỮ PHÁP
giá có tầm quan trọng đặc biệt trong sự hình thành, phát triển bản chất xã hội
của con người. Nhà triết học Đức Phơ - bách đã từng khẳng định: Bản chất
của con người chỉ biểu hiện qua giao tiếp, trong sự thống nhất giữa con người với
con người, trong sự thống nhất dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa
họ. Sang thế kỉ XX, giao tiếp đã trở thành một vấn đề thời sự trong khoa học
được nhiều nhà triết học, tâm lí học, xã hội học quan tâm. Nó được xem xét ở
nhiều khía cạnh từ triết học thực dụng, triết học hiện sinh đến học thuyết
Freud, lí thuyết thông tin và điều khiển học giữa thế kỉ XX….
Riêng về việc định nghĩa giao tiếp là gì, cho đến nay các nhà nghiên cứu
đã đưa ra khá nhiều các quan niệm khác nhau, theo vào các phạm vi, lĩnh vực
nghiên cứu của mình như y học, xã hội học, tâm lí học…. Ở Việt Nam, trong các
công trình nghiên cứu của các nhà tâm lí học, khái niệm giao tiếp được dung với
nhiều thuật ngữ khác nhau như "giao lưu", "giao tiếp". Thậm chí, có những
người trong cùng một tác phẩm dùng cả hai thuật ngữ này. Trong khi đó, Từ điển
tiếng Việt định nghĩa khái niệm này hoàn toàn khác nhau: "giao lưu là có sự tiếp xúc
và trao đổi qua lại giữa hai dòng, hai luồng khác nhau", "giao tiếp là trao đổi tiếp
xúc với nhau. Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp" [24 ; tr.349].
Trong ngôn ngữ học, giao tiếp là đối tượng nghiên cứu của một bộ môn
ngôn ngữ học khá mới mẻ là Ngữ dụng học nên cũng xuất hiện khá nhiều
quan niệm về giao tiếp. "khi có ít nhất hai người gặp nhau và bày tỏ với nhau về
một điều gì đó như nỗi buồn niềm vui, ý muốn, hành động hay nhận xét nào
đấy về sự vật xung quanh thì giữa họ diễn ra một cuộc giao tiếp (gọi tắt là giao
tiếp)" [15; tr.34].
"giao tiếp là một hoạt động xảy ra khi có một chủ thể phát tin, sử dụng một
tín hiệu để truyền đến cho chủ thể nhận tin một nội dung nào đó. Nội dung
được truyền đạt nhằm cung cấp những thông tin (hiểu biết) cho người nghe
hoặc nhằm bày tỏ thái độ tình cảm của người nói cho người nghe hoặc tạo lập,
duy trì quan hệ giữa người nói và người nghe".
10
hoạt động sản sinh (tạo lập) lời nói và hoạt động lĩnh hội (tiếp nhận) lời nói.
Quá trình này có thể được mô tả như sau: Người nói, khi đã chuẩn bị được nội
11
dung nói là những tư tưởng, tình cảm còn nằm trong suy nghĩ thuộc lĩnh vực
tinh thần. Để người nghe tiếp nhận được, người nói phải chuyển nội dung
đang thuộc lĩnh vực tinh thần đó thành nội dung mang thể chất thông qua
ngôn ngữ. Đó chính là quá trình mã hóa ngôn ngữ để tạo thành lời nói bằng
cách nói miệng hoặc viết ra giấy (hay còn gọi là hoạt động sản sinh lời nói).
Về phía người nghe, quá trình giao tiếp lại bắt đầu bằng việc tiếp xúc với các
yếu tố ngôn ngữ do người nói phát ra. Khi tiếp nhận các yếu tố ngôn ngữ này,
người nghe phải tìm cách luận giải chúng bằng cách đọc hoặc nghe kết hợp kĩ
năng tư duy của bản thân để hiểu được nội dung của âm thanh, ngữ điệu, ngữ
nghĩa… chứa đựng những yếu tố ngôn ngữ đó. Quá trình này gọi là hoạt động lĩnh hội
lời nói. Kết thúc một hoạt động sản sinh (tạo lập) lời nói là một hoạt động lĩnh hội
(tiếp nhận) lời nói là kết thúc một quá trình giao tiếp. Như vậy, hoạt động giao tiếp
ngôn ngữ sẽ liên quan đến cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết.
Nói đến chức năng của giao tiếp là nói đến nhiệm vụ mà giao tiếp phải
đảm nhiệm trong đời sống xã hội, bao gồm bốn chức năng sau:
- Chức năng thông tin (thông báo): Con người sử dụng ngôn ngữ nhằm
truyền đạt, trao đổi với nhau những tin tức này thường mang tính tri thức
khoa học… nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức của con người. Như vậy có nghĩa là họ
đã thực hiện được chức năng thông báo của giao tiếp. Đây là chức năng chính
thường gặp nhiều nhất trong giao tiếp.
- Chức năng tự biểu hiện: Qua giao tiếp, con người có thể tự bộc lộ bản thân
mình về các mặt như: trình độ, sở thích, tình cảm, trạng thái, sức khỏe hay
nguyện vọng, năng khiếu, sự hiểu biết… đối với các sự vật, hiện tượng hoặc một
vấn đề nào đó mà họ quan tâm. Tất cả những điều đó thể hiện trong lời nói của họ
Nhân tố giao tiếp là những nhân tố có mặt trong giao tiếp, ảnh hưởng,
chi phối hiệu quả của cuộc giao tiếp đó. Có thể thấy rằng mỗi nhân tố giao tiếp
đều để lại dấu ấn của mình trong lời nói - sản phẩm của hoạt động giao tiếp
bằng ngôn ngữ và tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc tổ chức xây dựng
lời nói. Chính vì thế, từ việc xác định lại các nhân tố giao tiếp này và chỉ ra sự tác
động của chúng trong hoạt động giao tiếp, một lần nữa chúng tôi muốn khẳng
định đây là những nhân tố thể hiện đậm nét nhất việc chi phối
13
của các yếu tố bên ngoài ngôn ngữ tới việc sử dụng ngôn ngữ và chi phối trực
tiếp đến hiệu quả của việc giao tiếp. Các nhân tố mà chúng tôi muốn nói tới ở
đây bao gồm:
- Mục đích giao tiếp: Mỗi người khi viết hoặc nói đều nhằm đến những
mục đích giao tiếp riêng. Có thể mục đích đó là thông báo tin tức mới, trao
đổi một vài vấn đề được nhiều người quan tâm, hoặc cũng có thể đó là sự phê
phán, sự động viên cổ vũ, hoặc cũng có thể là sự đe dọa, lên án,…. Mục đích
giao tiếp rất đa dạng và được xác định một cách cụ thể tùy thuộc vào từng
cuộc giao tiếp. Và tất nhiên căn cứ vào từng mục đích giao tiếp khác nhau
người ta sẽ sử dụng nội dung giao tiếp khác nhau, các kiểu câu khác nhau sao
cho cuộc giao tiếp diễn ra hiệu quả nhất.
Mục đích của một văn bản có thể chia nhỏ ra thành: Mục đích nhận
thức, mục đích tác động về tình cảm và mục đích tác động về hành động.
Hiệu quả của việc giao tiếp sẽ được đáng dấu bằng những mục đích giao tiếp đã
đạt đến được mức nào. Nhưng việc có đạt được mục đích hay không và đạt đến
mức nào thì không phải lúc nào cũng có thể được nhận ra ngay tức thời.
Trong đại đa số các trường hợp, chúng ta có thể dễ dàng nhận diện ngay được
hiệu quả của việc giao tiếp. tuy nhiên, trong thực tế, cũng có những cuộc giao
tiếp mà người ta chỉ có thể nhận ra hiệu quả của nó sau một thời gian dài,
cái gì, nói như thế nào, sử dụng loại câu gì, từ ngữ gì, âm thanh gì, ngữ điệu
thế nào…. Trong đó, nói gì và nói như thế nào là quan trọng như nhau.
Cũng để cuộc giao tiếp diễn ra, duy trì và phát triển theo chiều hướng dự
định, nhân vật giao tiếp (người nói) phải nhận thức được chính bản thân mình
trong quan hệ với người nghe (là quan hệ vị thế hay thân hữu), đồng thời phải
đoán được hình ảnh của người đối thoại - người nghe với tất cả thuộc tính về
động cơ, mục đích, nhân cách, địa vị xã hội, học vấn và hoàn cảnh trong đó
giao tiếp diễn ra. Bởi trong giao tiếp luôn luôn là người nói và người nghe cụ
thể gắn với một tình huống, thời gian, không gian cụ thể. Vì vậy, để có một phát
ngôn thỏa đáng, nhân vật giao tiếp không những phải xác
15