Nghiên cứu xây dựng tình huống học tập và hướng dẫn học sinh giải quyết tình huống học tập khi dạy học về chương chất rắn và chất lỏng - Pdf 36

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ TRANG

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG HỌC TẬP VÀ HƯỚNG DẪN
HỌC SINH GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG HỌC TẬP KHI DẠY HỌC VỀ
CHƯƠNG "CHẤT RẮN VÀ CHẤT LỎNG. SỰ CHUYỂN THỂ"
(VẬT LÍ 10 CƠ BẢN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2009


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ TRANG

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG HỌC TẬP VÀ HƯỚNG DẪN
HỌC SINH GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG HỌC TẬP KHI DẠY HỌC VỀ
CHƯƠNG "CHẤT RẮN VÀ CHẤT LỎNG. SỰ CHUYỂN THỂ"
(VẬT LÍ 10 CƠ BẢN)

Chuyên ngành: Phương pháp giảng dạy
Mã số

:

60.14.10

phương pháp dạy học vật lý thì có thể xây dựng được những tình huống học
tập và giúp học sinh giải quyết tình huống học tập.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận dạy học hiện đại và các phương pháp dạy học
vật lý.

-2-


- Nghiên cứu lý luận về việc xây dựng các tình huống học tập và hướng
dẫn học sinh giải quyết tình huống học tập.
- Tìm hiểu thực tế dạy học phần kiến thức chương "Chất rắn và chất
lỏng. Sự chuyển thể" ở trường trung học phổ thông, để nhận biết trình độ xuất
phát, quan niệm của học sinh trước khi học phần kiến thức này, phát hiện
những khó khăn, sai lầm phổ biến khi dạy học phần kiến thức đó.
- Đề xuất các biện pháp xây dựng tình huống học tập và hướng dẫn học
sinh giải quyết tình huống học tập trong giờ học Vật lý.
- Thiết kế tiến trình dạy - học trên cơ sở xây dựng các tình huống học
tập và hướng dẫn học sinh giải quyết tình huống học tập, khi dạy học một
số kiến thức chương "Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể" (Vật lý lớp
10 cơ bản).
- Thực nghiệm sư phạm.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận.
- Khảo sát thực tế.
- Thực nghiệm sư phạm.
7. Đóng góp của đề tài
1) Hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản về lí luận dạy học hiện đại. Đề
xuất các biện pháp xây dựng tình huống học tập và hướng dẫn học sinh giải
quyết tình huống học tập trong giờ học, vận dụng vào việc dạy học kiến thức

phát triển năng lực tri tuệ, kỹ năng thực hành và khả năng tư duy một cách
sáng tạo nhất. Cũng chính từ đây nhân cách con người được hình thành.
Dạy học là hoạt động cơ bản của việc giáo dục - đào tạo trong các nhà
trường. Đây là con đường chủ yếu để thực hiện mục đích Giáo dục - Đào đạo
đáp ứng cho nhu cầu của xã hội.
- Quá trình dạy học là một quá trình nhận thức độc đáo của học sinh
dưới sự chỉ đạo của người giáo viên là một quá trình thống nhất giữa mục
đích, nội dung, phương pháp là hình thức tổ chức dạy học do nhiệm vụ và tính
chất của nhà trường quy định nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học, đạt được
chất lượng và hiệu quả dạy học.
- Dạy là quá trình tổ chức nhận thức cho học sinh của người giáo viên,
bản chất của dạy học là tổ chức các tình huống học tập, các tình huống trong
đó học sinh sẽ hoạt động tích cực dưới sự hướng dẫn ít nhiều của giáo viên
nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học cao nhất. Trong quá trình này
học sinh đang phải hoạt động tích cực, phải được tăng cường củng cố khen
thưởng động viên. Vậy dạy học là dạy cho học sinh biết hành động, trong cái
gọi là hành động mà học sinh cần biết bao gồm hành động chiếm lĩnh tri thức

-5-


và cả hành động vận dụng tri thức do vậy việc tổ chức các tình huống học tập
của giáo viên đảm bảo sự đòi hỏi thích ứng của học sinh qua đó học sinh
chiếm lĩnh tri thức đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách của mình.
- Học (hoạt động học tập) của học sinh là hoạt động của chủ thể (người
học) thích ứng với tình huống, qua đó chủ thể chiếm lĩnh những kinh nghiệm
xã hội lịch sử biến thành năng lực thể chất và năng lực tinh thần của cá nhân
hình thành và phát triển nhân cách cá nhân. Nói cách khác học là một quá
trình hoạt động tự giác, tích cực của học sinh nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ
năng, kỹ sảo, phát triển được trí tuệ thể chất và hình thành nhân cách của bản

nhất biện chứng của ba thành phần trong hệ dạy học:
- Giáo viên.
- Học sinh.
- Tư liệu hoạt động dạy học (môi trường) trong sự vận hành của hệ
tương tác dạy học gồm ba thành phần trên đây thì thầy giáo là người tổ chức,
kiểm tra định hướng hành động của học sinh theo một chiến lược hợp lý sao
cho học sinh tự chủ chiếm lĩnh tri thức cho mình theo một chiến lược hợp lý
từ đó để học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức cho mình do đó năng lực trí tuệ
và nhân cách toàn diện của họ từng bước được phát triển. Hoạt động của giáo
viên với tư liệu hoạt động dạy học (môi trường) là sự tổ chức tư liệu qua đó
cung cấp tư liệu và tạo tình huống hoạt động của học sinh.
Tác động trực tiếp của giáo viên tới học sinh là sự định hướng của giáo
viên đối với hành động của học sinh với tư liệu là sự định hướng của giáo
viên đối với sự tương tác trao đổi giữa học sinh với nhau và qua đó đồng thời
còn định hướng cả sự cung cấp những thông tin liên hệ ngược từ phía học

-7-


sinh cho giáo viên. Đó là những thông tin cần thiết cho sự tổ chức và định
hướng của giáo viên với hành động của học sinh. Hoạt động của học sinh
với tư liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của học sinh đối với tình huống
học tập đồng thời là hoạt động chiếm lĩnh, xây dựng tri thức cho bản thân
mình và sự tương tác đó của học sinh với tư liệu đem lại cho giáo viên
những thông tin liên hệ ngược cần thiết cho sự chỉ đạo của giáo viên với học
sinh. Tương tác trực tiếp giữa các học sinh với nhau và giữa học sinh với
giáo viên là sự trao đổi, tranh luận giữa các cá nhân và từng cá nhân học
sinh tranh thủ sự hỗ trợ từ phía giáo viên và tập thể học sinh trong quá trình
chiễm lĩnh xây dựng tri thức.
Trong sự vận hành của hệ tương tác dạy học có mối liên hệ ngược:

Chức năng của giáo viên là dạy, chức năng của học sinh là học và dạy
như thế nào, học như thế nào để đạt hiệu quả cao đó là phương pháp dạy học.
* Chức năng cơ bản của phương pháp dạy học.
+ Chức năng nhận thức.
+ Chức năng phát triển trí tuệ.
+ Chức năng giáo dục.
Như vậy khái niệm phương pháp dạy học phổ thông là tổng hợp các
hình thức hoạt động của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện tốt các nhiệm
vụ dạy học góp phần tạo điều kiện tốt nhất cho các em bước chân vào ngưỡng
cửa của các trường Đại Học, Cao Đẳng và đáp ứng được yêu cầu ngày càng
cao của xã hội.
* Đặc điểm của phương pháp dạy học.
- Phương pháp dạy học mang tính mục đích, để đạt được mục đích phải
có phương pháp dạy học nào đó. Nói cách khác phương pháp dạy học phải
gắn liền với các yêu cầu của xã hội. Ngoài việc trang bị tri thức khoa học còn
phải rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp cho học sinh. Phương pháp dạy
học phải có tính kế thừa và phát huy các phương pháp dạy học mới.

-9-


- Phương pháp dạy học ở phổ thông phải tạo được tính tự giác, tích cực,
sáng tạo của học sinh. Giáo viên phải biết lắng nghe ý kiến của học sinh, tổ
chức điều khiển họ tham gia tích cực vào các hoạt động học tập và giải quyết
các tình huống có vấn đề trong học tập.
- Phương pháp dạy học ở phổ thông phải gắn liền với thực tiễn cuộc
sống, gắn với sự phát triển của khoa học và công nghệ.
- Phương pháp dạy học phổ thông phải thay đổi tuỳ thuộc vào từng
trường, đặc điểm nội dung của bộ môn, chuyên đề, điều kiện và phương tiện
dạy học.

- Kiểu giải thích tìm kiếm bộ phận.
- Kiểu trình bày nêu vấn đề, giải quyết vấn đề, nghiên cứu.
Tuy nhiên cách phân loại như vậy chưa đặc trưng đầy đủ cho các
phương pháp điều khiển quá trình nhận thức của học sinh. Tuỳ theo mục tiêu,
nội dung, điều kiện dạy học, tình hình đặc điểm của học sinh... mà có sự lựa
chọn và phân phối chúng trong quá trình giảng dạy cho phù hợp.
Điều quan trọng đối giáo viên phải luôn tự trả lời câu hỏi: Dạy cái gì?
Người học phải biết gì? Hoặc biết làm gì trước trong và sau khi học? Thực tế
người học biết gì? Dạy như thế nào?
Để trả lời câu hỏi thứ tư đòi hỏi phải biết lựa chon các phương pháp và
thủ pháp dạy học thích hợp.
Để làm rõ cách thức và những ưu nhược điểm của từng phương pháp đã
nêu ở trên, chúng ta nghiên cứu chi tiết cách thức, các bước của từng phương
pháp từ đó có cơ sở lựa chọn và áp dụng vào bài giảng cụ thể.
1.2.2.1. Kiểu phương pháp thông báo giáo viên thu nhận, tái hiện
của học sinh
Đây là kiểu phương pháp mà giáo viên là trọng tâm, giáo viên thông
báo cho học sinh những tri thức khoa học và biểu cách thức hành động

- 11 -


cần thiết, còn học sinh lĩnh hội kiến thức, tái hiện những điều đã học, dưới sự
tổ chức của giáo viên và điều khiển của giáo viên.
Ở kiểu phương pháp này giáo viên thông báo đơn thuần các sự kiện
khoa học, các kết luận khoa học, không cần phải giải thích kết quả hoá và hệ
thống hoá những kiến thức cần truyền đạt.Hoặc cao hơn nữa giáo viên nêu
các sự kiện khoa học có giải thích rõ bản chất của các sự kiện và các khái
niệm mới.
Cao hơn giáo viên thông báo thông tin khoa học, có kết hợp gởi mở nêu

Khi vận dụng phương pháp này có thể áp dụng nhóm phương pháp dạy
học trực quan với các phương pháp cụ thể là trình bày mẫu, hướng dẫn học
sinh quan sát, tổ chức cho học sinh tham quan, phương pháp luyện tập,
phương pháp ôn tập và phương pháp trình bày thí nghiệm .
Trong kiểu phương pháp này người giáo viên đóng vai trò chủ đạo, là
người hướng dẫn, học sinh là người học đóng vai trò trung tâm.
* Ưu điểm của phương pháp này:
+ Gây được sự hứng thú cho học sinh ,tránh cách học thụ động và tư
tưởng ỷ lại .
+ Giúp học sinh tiếp thu trong quá trình sáng tạo,phát huy khả năng tư
duy độc lập,bồi dưỡng được tiềm lực thích ứng với nghề nghiệp tương lai cho
học sinh .
* Nhược điểm của phương pháp này:
Chưa cho phép học sinh có điều kiện lĩnh hội được các kinh nghiệm
xây dựng và tiến hành toàn bộ kế hoạch giải quyết vấn đề một cách trọn vẹn.
1.2.2.3 Kiểu phương pháp giải quyết vấn đề
Ta biết tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề,tình
huống ấy luôn chứa đựng nội dung cần xác định,một nhiệm vụ cần giải
quyết,vướng mắc cần tháo gỡ.Tình huống có vấn đề do giáo viên gợi mở đặt
ra cho học sinh,hoặc trong quá trình học tập,nghiên cứu hoặc thực tiễn,học

- 13 -


sinh tự phát hiện vấn đề,tự giải quyết và làm sáng tỏ vấn đề.Qua việc nghiên
cứu giải quyết các tình huống có vấn đề từ đó sẽ đạt được những tri thức mới,
phương thức hành động mới.
Kết quả cuối cùng là rèn luyện cho học sinh có năng lực giải quyết vấn
đề trong thực tiễn,trong khoa học và trong cuộc sống.Phương pháp giải quyết
vấn đề cần được rền luyện trong nhà trường để cho học sinh có năng lực giải

Nhược điểm

Dùng lời

Truyền lượng thông tin lớn

Học sinh lĩnh hội

(thuyết

trong thời gian ngắn; phát

khó, không phát

trình)

triển tư duy trừu tượng cho

triển được kinh

học sinh.

nghiệm của học

Phương
pháp

sinh.
Trực quan



phát

nhiều

thời

triển.
Thực

Hình thành kỹ năng, kỹ xảo

Cần

nghiệm

lao động. Củng cố mối liên

gian chuẩn bị bài.

hệ lý thuyết - thực tiễn.

Cần có thiết bị,vật

Học sinh hứng thú,nhớ lâu

tư. Mất nhiều thời
gian lên lớp

- 15 -

xuyên quá trình lĩnh hội.

phương

Điều khiển hợp lý và nhanh

dùng lời. Hạn chế

quá trình lĩnh hội.

tính giáo dục của

so

với
pháp

bài học. Hạn chế
việc phát triển tư
duy độc lập, kỹ
năng

tìm

tòi,nghiên cứu
PP đặt và

Phát triển kỹ năng hoạt

Cần


nguyên tắc.

học sinh nắm được nội
dung bằng hoạt động học
tập

- 16 -

nhiều

thực

thời

hành.


PP

làm

Hình thành năng lực làm

Cần tính đến sự

việc

độc


Bảng trên nêu lên khả năng đặc thù của mỗi phương pháp. Ví dụ: Muốn
phát triển tư duy trừu tượng có thể sử dụng phương pháp dùng lời hoặc tìm
kiếm vấn đề hoặc dùng phương pháp suy diễn lôgíc; Muốn phát triển kỹ năng
trí tuệ và thực hành ta có thể sử dụng phương pháp trực quan, thực hành, tái
hiện, quy nạp…Như vậy, việc lựa chọn phương pháp không phải là việc làm
ngẫu nhiên mà căn cứ vào nhiệm vụ, nội dung và các yếu tố khác. Nghĩa là
phải dựa trên sự phân tích những đặc điểm cụ thể của bài học kết hợp với
năng lực, sự sáng tạo và nhạy cảm của giáo viên.
Nhìn vào bảng trên, ta có thể thấy rõ điểm mạnh, điểm yếu của các
nhóm PPDH với việc thực hiện mục tiêu, đặc biệt là sự hạn chế của PP thuyết
trình đối với việc thực hiện các mục tiêu quan trọng của phát triển nhân cách.
Một kết quả nghiên cứu khác cũng cho thấy sự hạn chế của các PP
dùng lời nói và đồng thời khuyến khích tổ chức các hoạt động tự lập của học
sinh phối hợp các PP nhằm huy động đồng thời nhiều giác quan của học sinh
tham gia vào quá trình tri giác các đối tượng lĩnh hội.
1.2.3.2. Lựa chọn các PPDH tương thích với nội dung học tập
Giữa nội dung và PPDH có mối quan hệ tác động lẫn nhau, trong nhiều
trường hợp quy định lẫn nhau. Ở bình diện kĩ thuật dạy học, PPDH cần tương
thích với nội dung dạy học. Mỗi nội dung dạy học đều liên hệ mật thiết với
những hoạt động nhất định.

- 17 -


1.2.3.3. Lựa chọn PPDH cần chú ý đến hứng thú, thói quen của học
sinh, kinh nghiệm sư phạm của giáo viên
1) Cần chuẩn đoán nhu cầu, hứng thú của học sinh khi lựa chọn các
PPDH.
Đối với việc trình bày thông tin cần ưu tiên lựa chọn các PP sử dụng
phương tiện nghe nhìn, sử dụng truyền thông đa phương tiện càng tốt.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status