ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ TRANG
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TÌNH HUỐNG HỌC TẬP VÀ HƯỚNG DẪN
HỌC SINH GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG HỌC TẬP KHI DẠY HỌC VỀ
CHƯƠNG "CHẤT RẮN VÀ CHẤT LỎNG. SỰ CHUYỂN THỂ"
(VẬT LÍ 10 CƠ BẢN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HỌC SINH GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG HỌC TẬP KHI DẠY HỌC VỀ
CHƯƠNG "CHẤT RẮN VÀ CHẤT LỎNG. SỰ CHUYỂN THỂ"
(VẬT LÍ 10 CƠ BẢN) Chuyên ngành: Phương pháp giảng dạy
Mã số : 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC Hướng dẫn khoa học: PGS.TS TÔ VĂN BÌNH
THÁI NGUYÊN - 2009
- 1 -
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nền giáo dục của nước ta hiện nay tuy đã đạt được những thành quả
đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Chất
lượng và hiệu quả giáo dục - đào tạo còn thấp, trình độ kiến thức, kỹ năng
thực hành, phương pháp tư duy khoa học của đại đa số học sinh còn yếu.
Nhiều học sinh ra trường, khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống và sản
xuất còn nhiều hạn chế.... .Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng
trên là do phương pháp giáo dục - đào tạo chậm đối mới. Phương pháp giảng
dạy hiện nay chưa phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của học
xây dựng hệ thống tình huống học tập và hướng dẫn học sinh giải quyết tình
huống học tập trong tiến trình xây dựng một số kiến thức chương "Chất rắn và
chất lỏng. Sự chuyển thể "(Vật lý 10 cơ bản) nhằm góp phần nâng cao chất
lượng dạy học vật lý ở trường phổ thông.
3. Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy - học của giáo viên và học sinh trong giờ học Vật lý.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu biết khai thác vốn kiến thức và khả năng sẵn có của học sinh, biết
vận dụng các quan điểm lý luận dạy học hiện đại và sử dụng linh hoạt các
phương pháp dạy học vật lý thì có thể xây dựng được những tình huống học
tập và giúp học sinh giải quyết tình huống học tập.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận dạy học hiện đại và các phương pháp dạy học
vật lý.
- 3 -
- Nghiên cứu lý luận về việc xây dựng các tình huống học tập và hướng
dẫn học sinh giải quyết tình huống học tập.
- Tìm hiểu thực tế dạy học phần kiến thức chương "Chất rắn và chất
lỏng. Sự chuyển thể" ở trường trung học phổ thông, để nhận biết trình độ xuất
phát, quan niệm của học sinh trước khi học phần kiến thức này, phát hiện
những khó khăn, sai lầm phổ biến khi dạy học phần kiến thức đó.
- Đề xuất các biện pháp xây dựng tình huống học tập và hướng dẫn học
sinh giải quyết tình huống học tập trong giờ học Vật lý.
- Thiết kế tiến trình dạy - học trên cơ sở xây dựng các tình huống học
tập và hướng dẫn học sinh giải quyết tình huống học tập, khi dạy học một
số kiến thức chương "Chất rắn và chất lỏng. Sự chuyển thể" (Vật lý lớp
10 cơ bản).
- Thực nghiệm sư phạm.
6. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận.
phát triển năng lực tri tuệ, kỹ năng thực hành và khả năng tư duy một cách
sáng tạo nhất. Cũng chính từ đây nhân cách con người được hình thành.
Dạy học là hoạt động cơ bản của việc giáo dục - đào tạo trong các nhà
trường. Đây là con đường chủ yếu để thực hiện mục đích Giáo dục - Đào đạo
đáp ứng cho nhu cầu của xã hội.
- Quá trình dạy học là một quá trình nhận thức độc đáo của học sinh
dưới sự chỉ đạo của người giáo viên là một quá trình thống nhất giữa mục
đích, nội dung, phương pháp là hình thức tổ chức dạy học do nhiệm vụ và tính
chất của nhà trường quy định nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học, đạt được
chất lượng và hiệu quả dạy học.
- Dạy là quá trình tổ chức nhận thức cho học sinh của người giáo viên,
bản chất của dạy học là tổ chức các tình huống học tập, các tình huống trong
đó học sinh sẽ hoạt động tích cực dưới sự hướng dẫn ít nhiều của giáo viên
nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học cao nhất. Trong quá trình này
học sinh đang phải hoạt động tích cực, phải được tăng cường củng cố khen
thưởng động viên. Vậy dạy học là dạy cho học sinh biết hành động, trong cái
gọi là hành động mà học sinh cần biết bao gồm hành động chiếm lĩnh tri thức
- 6 -
và cả hành động vận dụng tri thức do vậy việc tổ chức các tình huống học tập
của giáo viên đảm bảo sự đòi hỏi thích ứng của học sinh qua đó học sinh
chiếm lĩnh tri thức đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách của mình.
- Học (hoạt động học tập) của học sinh là hoạt động của chủ thể (người
học) thích ứng với tình huống, qua đó chủ thể chiếm lĩnh những kinh nghiệm
xã hội lịch sử biến thành năng lực thể chất và năng lực tinh thần của cá nhân
hình thành và phát triển nhân cách cá nhân. Nói cách khác học là một quá
trình hoạt động tự giác, tích cực của học sinh nhằm chiếm lĩnh tri thức, kỹ
năng, kỹ sảo, phát triển được trí tuệ thể chất và hình thành nhân cách của bản
thân. Mỗi tri thức mà người học tiếp nhận được phải là kết quả của sự thích
ứng của người học với những tình huống mới nhất định. Như vậy học là một
hoạt động nhằm thay đổi và phát triển bản thân mình cho phù hợp với yêu cầu
cho học sinh tự chủ chiếm lĩnh tri thức cho mình theo một chiến lược hợp lý
từ đó để học sinh chủ động chiếm lĩnh tri thức cho mình do đó năng lực trí tuệ
và nhân cách toàn diện của họ từng bước được phát triển. Hoạt động của giáo
viên với tư liệu hoạt động dạy học (môi trường) là sự tổ chức tư liệu qua đó
cung cấp tư liệu và tạo tình huống hoạt động của học sinh.
Tác động trực tiếp của giáo viên tới học sinh là sự định hướng của giáo
viên đối với hành động của học sinh với tư liệu là sự định hướng của giáo
viên đối với sự tương tác trao đổi giữa học sinh với nhau và qua đó đồng thời
còn định hướng cả sự cung cấp những thông tin liên hệ ngược từ phía học
Giáo
viên
Học
sinh
Tư liệu hoạt động
dạy học
- 8 -
sinh cho giáo viên. Đó là những thông tin cần thiết cho sự tổ chức và định
hướng của giáo viên với hành động của học sinh. Hoạt động của học sinh
với tư liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của học sinh đối với tình huống
học tập đồng thời là hoạt động chiếm lĩnh, xây dựng tri thức cho bản thân
mình và sự tương tác đó của học sinh với tư liệu đem lại cho giáo viên
những thông tin liên hệ ngược cần thiết cho sự chỉ đạo của giáo viên với học
sinh. Tương tác trực tiếp giữa các học sinh với nhau và giữa học sinh với
giáo viên là sự trao đổi, tranh luận giữa các cá nhân và từng cá nhân học
sinh tranh thủ sự hỗ trợ từ phía giáo viên và tập thể học sinh trong quá trình
chiễm lĩnh xây dựng tri thức.
* Chức năng cơ bản của phương pháp dạy học.
+ Chức năng nhận thức.
+ Chức năng phát triển trí tuệ.
+ Chức năng giáo dục.
Như vậy khái niệm phương pháp dạy học phổ thông là tổng hợp các
hình thức hoạt động của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện tốt các nhiệm
vụ dạy học góp phần tạo điều kiện tốt nhất cho các em bước chân vào ngưỡng
cửa của các trường Đại Học, Cao Đẳng và đáp ứng được yêu cầu ngày càng
cao của xã hội.
* Đặc điểm của phương pháp dạy học.
- Phương pháp dạy học mang tính mục đích, để đạt được mục đích phải
có phương pháp dạy học nào đó. Nói cách khác phương pháp dạy học phải
gắn liền với các yêu cầu của xã hội. Ngoài việc trang bị tri thức khoa học còn
phải rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp cho học sinh. Phương pháp dạy
học phải có tính kế thừa và phát huy các phương pháp dạy học mới.
- 10 -
- Phương pháp dạy học ở phổ thông phải tạo được tính tự giác, tích cực,
sáng tạo của học sinh. Giáo viên phải biết lắng nghe ý kiến của học sinh, tổ
chức điều khiển họ tham gia tích cực vào các hoạt động học tập và giải quyết
các tình huống có vấn đề trong học tập.
- Phương pháp dạy học ở phổ thông phải gắn liền với thực tiễn cuộc
sống, gắn với sự phát triển của khoa học và công nghệ.
- Phương pháp dạy học phổ thông phải thay đổi tuỳ thuộc vào từng
trường, đặc điểm nội dung của bộ môn, chuyên đề, điều kiện và phương tiện
dạy học.
- Phương pháp dạy học phổ thông gắn bó hữu cơ với các phương tiện,
thiết bị dạy học hiện đại (máy tính, video,cáp tivi...). Các đặc điểm của
phương pháp dạy học phổ thông nêu trên liên quan chặt chẽ với nhau, tác
động lẫn nhau giúp cho giáo viên có quá trình giảng dạy lựa chọn phương
pháp phù hợp và khi lựa chọn phương pháp dạy học phải đặc biệt quan tâm
người học biết gì? Dạy như thế nào?
Để trả lời câu hỏi thứ tư đòi hỏi phải biết lựa chon các phương pháp và
thủ pháp dạy học thích hợp.
Để làm rõ cách thức và những ưu nhược điểm của từng phương pháp đã
nêu ở trên, chúng ta nghiên cứu chi tiết cách thức, các bước của từng phương
pháp từ đó có cơ sở lựa chọn và áp dụng vào bài giảng cụ thể.
1.2.2.1. Kiểu phương pháp thông báo giáo viên thu nhận, tái hiện
của học sinh
Đây là kiểu phương pháp mà giáo viên là trọng tâm, giáo viên thông
báo cho học sinh những tri thức khoa học và biểu cách thức hành động
- 12 -
cần thiết, còn học sinh lĩnh hội kiến thức, tái hiện những điều đã học, dưới sự
tổ chức của giáo viên và điều khiển của giáo viên.
Ở kiểu phương pháp này giáo viên thông báo đơn thuần các sự kiện
khoa học, các kết luận khoa học, không cần phải giải thích kết quả hoá và hệ
thống hoá những kiến thức cần truyền đạt.Hoặc cao hơn nữa giáo viên nêu
các sự kiện khoa học có giải thích rõ bản chất của các sự kiện và các khái
niệm mới.
Cao hơn giáo viên thông báo thông tin khoa học, có kết hợp gởi mở nêu
vấn đề, phát vấn, nêu câu hỏi nhằm gợi mở tính tò mò kích thích sự tìm tòi
trong học tập của học sinh.
Sử dụng phương pháp này phương tiện chủ yếu là lời nói và chữ viết,
với các phương pháp cu thể như thuyết trình nội dung, vấn đáp và sử dụng các
tài liệu giảng dạy.
* Đặc điểm cơ bản của phương pháp
Giáo viên truyền đạt kiến thức là chính, học sinh tiếp thu thụ động, giáo
viên độc thoại phát vấn, học sinh trả lời thiếu chủ động, giáo viên áp đặt kiến
thức sẵn có cho học sinh thuộc lòng, học máy móc, học suông. Giáo viên độc
quyền đánh giá kết quả học tập của học sinh.
* Ưu điểm của phương pháp này:
xây dựng và tiến hành toàn bộ kế hoạch giải quyết vấn đề một cách trọn vẹn.
1.2.2.3 Kiểu phương pháp giải quyết vấn đề
Ta biết tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề,tình
huống ấy luôn chứa đựng nội dung cần xác định,một nhiệm vụ cần giải
quyết,vướng mắc cần tháo gỡ.Tình huống có vấn đề do giáo viên gợi mở đặt
ra cho học sinh,hoặc trong quá trình học tập,nghiên cứu hoặc thực tiễn,học
- 14 -
sinh tự phát hiện vấn đề,tự giải quyết và làm sáng tỏ vấn đề.Qua việc nghiên
cứu giải quyết các tình huống có vấn đề từ đó sẽ đạt được những tri thức mới,
phương thức hành động mới.
Kết quả cuối cùng là rèn luyện cho học sinh có năng lực giải quyết vấn
đề trong thực tiễn,trong khoa học và trong cuộc sống.Phương pháp giải quyết
vấn đề cần được rền luyện trong nhà trường để cho học sinh có năng lực giải
quyết vấn đề từ khi còn đang đi học, họ có điều kiện vận dụng trong suốt cuộc
đời, học sinh có khả năng thích ứng nhanh với xã hội với tiến bộ khoa học
công nghệ phát triển không ngừng.
Thực tiễn phương pháp giải quyết vấn đòi hỏi người dạy và người học
phải làm chủ tri thức, làm chủ tình thế, phải chủ động sáng tạo phát triển tới
người học,phải sáng tạo ra tri thức mới,chứ không phải là người tiêu thụ tri
thức mới.
Phát huy cao độ tiềm năng tri thức đã có,phát hiện và sáng tạo ra những
ý tưởng mới nhăm giải quyết các vấn đề được đặt ra.Vì vậy đây là phương
pháp dạy học tích cực,ngày càng được vận dụng trong việc dạy học ở các cấp,
các ngành.
1.2.3. Một số cơ sở của việc lựa chọn phương pháp dạy học
1.2.3.1. Chọn những phương pháp dạy học có khả năng cao nhất đối
với việc thực hiện mục tiêu dạy học
Mỗi mô hình lí luận dạy học, PPDH đều có những điểm mạnh, điểm
hạn chế nhất định. Nhưng khi xem xét việc thực hiện một mục tiêu dạy học
nhất định thì có một số PPDH có khả năng cao hơn các PPDH khác.Chẳng
chuẩn bị cho bài
học. Tư duy trừu
tượng của học
sinh kém phát
triển.
Thực
nghiệm
Hình thành kỹ năng, kỹ xảo
lao động. Củng cố mối liên
hệ lý thuyết - thực tiễn.
Học sinh hứng thú,nhớ lâu
Cần nhiều thời
gian chuẩn bị bài.
Cần có thiết bị,vật
tư. Mất nhiều thời
gian lên lớp
- 16 -
Tái hiện Truyền đạt lượng thông tin
nhanh và hệ thống, củng cố
trí nhớ. Hình thành kỹ
năng, kỹ xảo.
Tính độc lập tư
duy kém
Dạy học
chương
trình hoá
Cá nhân hoá việc lĩnh hội
kiến thức. Kiểm tra thường
xuyên quá trình lĩnh hội.
Điều khiển hợp lý và nhanh
gian. Không dùng
được khi cần rèn
luyện kỹ năng, kỹ
xảo thực hành.
Không dùng được
khi tài liệu mới về
nguyên tắc.
- 17 -
PP làm
việc độc
lập của
học sinh
Hình thành năng lực làm
việc độc lập. Biến kiến
thức thành niềm tin. Rèn kỹ
năng, kỹ xảo thực hành.
Phát triển ý trí.
Cần tính đến sự
hướng dẫn của
giáo viên trước
những vấn đề
phức tạp. Tốc độ
dạy học chậm.
Bảng trên nêu lên khả năng đặc thù của mỗi phương pháp. Ví dụ: Muốn
phát triển tư duy trừu tượng có thể sử dụng phương pháp dùng lời hoặc tìm
kiếm vấn đề hoặc dùng phương pháp suy diễn lôgíc; Muốn phát triển kỹ năng
trí tuệ và thực hành ta có thể sử dụng phương pháp trực quan, thực hành, tái
hiện, quy nạp…Như vậy, việc lựa chọn phương pháp không phải là việc làm
ngẫu nhiên mà căn cứ vào nhiệm vụ, nội dung và các yếu tố khác. Nghĩa là
phải dựa trên sự phân tích những đặc điểm cụ thể của bài học kết hợp với
học mới có hiệu quả cao trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục.
1.2.3.4. Lựa chọn PPDH phù hợp với điều kiện dạy học
1) Ở đây đề cập đến PPDH diễn ra trong mối quan hệ với các điều kiện
vật chất, đặc biệt là thiết bị dạy học (TBDH). Đương nhiên là cần phải lựa
chọn PPDH phù hợp với điều kiện của nhà trường, của phòng thí nghiệm, của
tình trạng đang có.
2) Trong khuôn khổ điều kiện cho phép, cần chọn thứ tự ưu tiên khả
năng tốt nhất.
3) Các TBDH hiện đại không luôn đồng nghĩa với các TBDH đắt tiền.
Tính hiện đại của TBDH thể hiện ở việc sử dụng các thiết bị sao cho đạt yêu
- 19 -
cầu cao nhất trong việc thực hiện các mục tiêu dạy học, thể hiện rõ tư tưởng
sư phạm hiện đại.
Tóm lại, trên đây là bốn cơ sở quan trọng nhất, là căn cứ xuất phát
khi tiến hành lựa chọn, lập kế hoạch các PPDH. Điều quan trọng nhất là
cần xác định lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học có thể
giúp học sinh:
- Học tập với niềm say mê, hứng thú, khát khao tìm tòi khám phá.
- Lĩnh hội tri thức trong các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng
tạo, theo phương pháp khoa học.
- Học trong tương tác, trong việc hình thành các quan hệ hợp tác, thân
thiện, cùng nhau giải quyết các nhiệm vụ học tập.
1.2.4. Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh (T.S Trịnh Thị Hải Yến
– Vụ THPT - Bộ GD – ĐT. Nguyễn Phương Hồng – Viện khoa học GD. Tạp chí Giáo dục
số 54 (03/2003) trang 22.)
1.2.4.1. Lựa chọn nội dung kiến thức để tổ chức cho HS hoạt động
SGK đã trình bày các đơn vị kiến thức theo định hướng hoạt động. Trong
từng đơn vị kiến thức, GV có thể tổ chức những hoạt động khác nhau để HS
chiếm lĩnh kiến thức. Căn cứ vào nội dung kiến thức trong SGK, điều kiện
thiết bị, thời gian học tập và khả năng học tập của HS, GV cân nhắc và lựa
– Nêu kết luận đã tìm thấy được
5.Vận dụng, ghi nhớ kiến thức bằng cách
– Giải bài tập (định tính, định lượng, thực nghiệm)
– Làm đồ chơi, dụng cụ học tập
– Học thuộc lòng
- 21 -
Trong từng hoạt động, GV có thể phát huy tính tích cực nhận thức của
HS ở những mức độ khác nhau, kinh nghiệm cho thấy khi dạy học theo hướng
tích cực hoạt động nhận thức của HS, trong một tiết học, GV thường dễ bị
“cháy giáo án”. Do đó, Gv cần xác định hoạt động trọng tâm (tùy thuộc MT
đã được lượng hóa của bài học cũng như cơ sở thiết bị dạy học cho phép),
phân bổ thời gian hợp lí để điều khiển hoạt động học tập của học sinh.
1.2.4.2. Dự kiến hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh hoạt động
Dù sử dụng phương pháp nào thì giáo viên cũng phải sử dụng một hệ
thống câu hỏi phù hợp để hỗ trợ cho phương pháp chính mà mình lựa chọn.
Hệ thống câu hỏi của giáo viên nhằm hướng dẫn học sinh tiếp cận, phát hiện
và chiếm lĩnh kiến thức trong từng hoạt động giữ vai trò chỉ đạo, quyết định
chất lượng lĩnh hội của lớp học.Trong mỗi hoạt động, giáo viên dự kiến hệ
thống câu hỏi xen kẽ với những yêu cầu học sinh hoạt động để hướng dẫn học
sinh tiếp cận, tự phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới. Mỗi hoạt động đều
nhằm mục tiêu (MT) chiếm lĩnh một kiến thức hay rèn luyện một kĩ năng cụ
thể phục vụ cho việc đạt được MT chung của bài học.
• Để đạt được yêu cầu đó giáo viên cần chú ý
1. Giảm số câu hỏi có yêu cầu thấp về mặt nhận thức, mang tính chất kiểm
tra, chỉ yêu cầu nhớ lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, thường
chỉ có một câu hỏi trả lời đúng, ngắn, không cần suy luận.
Loại câu hỏi này thường được dùng khi cần đặt mối liên hệ giữa kiến thức
đã học với kiến thức sắp học, khi học sinh đang tiến hành, luyện tập hoặc
khi củng cố kiến thức vừa mới học.
2.Tăng số câu hỏi then chốt nhằm vào những mục đích nhận thức cao hơn,
Ứng với mức độ lĩnh hội (LH) 1 “nhận biết”
- 23 -
MT của loại câu hỏi này là để kiểm tra trí nhớ của học sinh về các dữ
liệu, số liệu, các định nghĩa, tên tuổi, địa điểm,...
Việc trả lời các câu hỏi này giúp học sinh ôn lại được những gì đã học,
đã đọc hoặc đã trải qua. Các từ để hỏi thường là: “CÁI GÌ…”, “BAO
NHIÊU…”, “HÃY ĐỊNH NGHĨA…”, “CÁI NÀO…”, “EM BIẾT NHỮNG
GÌ VỀ…”, “KHI NÀO...”, “BAO GIỜ…”, “HÃY MÔ TẢ...”…
Ví dụ: Hãy phát biểu định nghĩa chuyển động cơ học hoặc hãy liệt kê
một số vật liệu thường dùng để chống ô nhiễm tiếng ồn.
2. Câu hỏi Hiểu
Ứng với mức độ LH 2 “thông hiểu”
- MT của loại câu hỏi này là để kiểm tra cách HS liên hệ, kết nối các dữ liệu,
số liệu, tên tuổi, địa điểm, các định nghĩa…
- Việc trả lời các câu hỏi này cho thấy học sinh có khả năng diễn tả bằng lời
nói, nêu ra được các yếu tố cơ bản hoặc so sánh các yếu tố cơ bản trong nội
dung đang học. Các cụm từ để hỏi thường là: “TẠI SAO…”, “HÃY PHÂN
TÍCH…”, “HÃY SO SÁNH…”, “HÃY LIÊN HỆ…”, “HÃY PHÂN
TÍCH…”,…
- Ví dụ: Hãy tính vận tốc của vật khi biết cụ thể độ dài quãng đường đi được
và thời gian để đi hết quãng đường đó; hoặc hãy xác định giới hạn đo và chia
nhỏ nhất của bình chia độ.
3. Câu hỏi Vận dụng
Ứng với mức độ LH 3 “vận dụng”
- MT của loại câu hỏi là để kiểm tra khả năng áp dụng các dữ liệu, các khái
niệm, các quy luật, các phương pháp… vào hoàn cảnh và điều kiện mới.
- Việc trả lời các câu hỏi áp dụng cho thấy học sinh có khả năng hiểu được
các quy luật, các khái niệm… có thể lựa chọn tốt các phương án để giải quyết,
vận dụng các phương án vào thực tiễn. Khi đặt câu hỏi cần tạo ra những tình