Đấu tranh phòng, chống tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả ở việt nam hiện nay - Pdf 36

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiền giả là vấn nạn nhiều quốc gia trên thế giới phải đối mặt, xuất hiện thậm chí
chỉ ngay sau khi đồng tiền chính hiệu ra đời. Trong lịch sử Việt Nam, tội phạm về tiền
giả đã bị quy định các mức hình phạt có tính răn đe cao như: tội chết, tội khổ sai chung
thân, bị xử tội đồ… Đến năm 1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát hành
tiền giấy nhưng tiền giả đã bị phát hiện ngay năm 1947 do tên Bùi Khát cầm đầu với
số lượng hàng chục triệu đồng tín phiếu. Năm 1950, Chính phủ ra sắc lệnh 180 quy
định những người phạm tội về tiền giả sẽ bị truy tố trước tòa án quân sự song vấn nạn
tiền giả vẫn gia tăng, chủ yếu vì mục đích chính trị. Chính phủ Mỹ thời kỳ cuối những
năm 60 đã làm tiền giả kèm các tờ rơi có nội dung phản tuyên truyền “tung” ra miền
Bắc nước ta nhằm tiến hành chiến tranh tâm lý và phá hoại nền kinh tế. Sau năm 1975,
một số tổ chức phản động nhen nhóm trỗi dậy nhằm lật đổ chính quyền đã sử dụng
tiền giả là công cụ “nhất cử lưỡng tiện”. Năm 1976, Lý Tam Châu, Lý Thọ Hoa ở Tp.
Hồ Chí Minh và bọn phản động nhà thờ Vĩnh Sơn do Nguyễn Việt Hưng, nguyên sỹ
quan quân đội Sài Gòn cầm đầu và linh mục Nguyễn Hữu Nghị làm cố vấn đã làm giả
hàng triệu đồng để cung cấp kinh phí cho tổ chức hoạt động. Năm 1981 - 1984, các thế
lực thù địch nước ngoài làm hàng trăm triệu đồng tiền giả để hỗ trợ tổ chức gián điệp
biệt kích “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Việt Nam” do Lê
Quốc Túy, Mai Văn Hạnh cầm đầu hoạt động chống Việt Nam [121, tr.529]. Từ năm
1986, sau khi thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị
trường theo định hướng XHCN, kinh tế Việt Nam đã có bước phát triển mạnh mẽ,
vượt trội. Cùng với tăng trưởng kinh tế, văn hoá, xã hội, đời sống nhân dân ngày càng
được cải thiện, giao lưu hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ. Song đây cũng là điều
kiện trỗi dậy của nhiều loại tội phạm xuyên quốc gia, trong đó có tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành tiền giả tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (gọi tắt là tội phạm về
tiền giả).
Về phương diện pháp lý, Việt Nam là thành viên Công ước Palermo (TOC)
năm 2000 của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, đồng thời
1


luận án, luận văn, khoa luận... nghiên cứu dưới các góc độ kỹ thuật hình sự, điều tra tội
2


phạm và tội phạm học đối với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả. Các công
trình này có ý nghĩa thiết thực, góp phần không nhỏ trong đấu tranh phòng, chống tội
phạm về tiền giả song chưa có công trình nào nghiên cứu ở cấp độ luận án tiến sỹ về tội
phạm học theo trật tự logic: mô tả tình hình tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền
giả (gọi tắt là THTP về tiền giả) trong phạm vi cả nước qua các thông số định lượng và
định tính; xác định nguyên nhân và điều kiện của THTP về tiền giả trên cơ sở cơ chế
hành vi phạm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả để đề xuất hoàn thiện hệ
thống giải pháp phòng ngừa tội phạm này ở Việt Nam.
Như vậy, từ lịch sử cho đến hiện tại, trên phương diện lý luận và thực tiễn, nhu
cầu đấu tranh với tội phạm về tiền giả luôn cấp thiết. Để góp phần phòng ngừa tội
phạm nói chung và tội phạm về tiền giả nói riêng, đề tài “Đấu tranh phòng, chống tội
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả ở Việt Nam hiện nay” được lựa chọn
làm Luận án Tiến sỹ luật học nghiên cứu theo chuyên ngành tội phạm học và phòng
ngừa tội phạm.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của Luận án là qua việc đánh giá đúng tình hình, nguyên
nhân và điều kiện của tình hình tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả ở Việt
Nam trong 10 năm qua, dự báo tình hình tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền
giả trong những năm tiếp theo làm cơ sở để đề xuất hoàn thiện hệ thống giải pháp
phòng ngừa hiệu quả tội phạm này trong thời gian tới.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước và ngoài nước về các
vấn đề liên quan đến đề tài luận án;
- Nghiên cứu đánh giá mức độ, động thái, cơ cấu, tính chất của tình hình tội
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả từ năm 2005 – 2014;

sự cũng như các lĩnh vực khoa học về tâm lý học, nhân quyền học, xã hội học… để
tiếp cận toàn diện, có hệ thống các vấn đề thuộc nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.
- Hướng tiếp cận nghiên cứu:
Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra, luận án sử dụng các hướng tiếp cận sau:
4


+ Hướng tiếp cận liên ngành: là hướng nghiên cứu được sử dụng trong suốt quá
trình nghiên cứu luận án để sử dụng tổng hợp các tri thức của nhiều ngành, nhiều lĩnh
vực khoa học liên quan với nhau nhằm tiếp cận đối tượng nghiên cứu.
+ Hướng tiếp cận lịch sử có kế thừa: Luận án sẽ tiếp thu chọn lọc các quan
điểm, tư tưởng tiến bộ, các kết quả phù hợp của các nhà khoa học trên thế giới và ở
Việt Nam để vận dụng trong công trình nghiên cứu nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
+ Hướng tiếp cận hệ thống: Theo học thuyết của chủ nghĩa duy vật biện chứng
về mối liên hệ phổ biến, THTP với tính cách là một hiện tượng xã hội đặc thù có mối
liên hệ với các quá trình, hiện tượng xã hội khác. Do vậy, trong quá trình nghiên cứu
luận án, Đề tài luôn đặt đối tượng nghiên cứu trong một chỉnh thể thống nhất với các
hiện tượng xã hội và các tội phạm khác nhằm tìm ra quy luật của THTP về tiền giả và
đề xuất giải pháp phòng ngừa khả thi, hiệu quả.
+ Hướng tiếp cận suy luận logic: Đây là hướng tiếp cận giúp bù đắp phần thiếu
hụt thông tin, tài liệu, số liệu hữu hạn về THTP về tiền giả trong giai đoạn nghiên cứu
mà chúng tôi thu thập được. Trên cơ sở số liệu theo mẫu 1A của TANDTC thống kê
xét xử HSST tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả trong phạm vi cả nước từ
năm 2005 – 2014 kết hợp với kết quả nghiên cứu, tổng hợp, phân tích 250 bản án, 300
bản kết luận điều tra được thu thập ngẫu nhiên và phương pháp điều tra chọn mẫu để
suy luận logic, đưa ra các kết luận thuyết phục về THTP làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành tiền giả thời gian qua.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
Là một đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, đề tài được
nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật

- Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh THTP về tiền giả ở các giai
đoạn khác nhau cũng như những điểm tương đồng và khác biệt trong đấu tranh phòng,
chống tội phạm về tiền giả ở Việt Nam với kinh nghiệm một số nước trên thế giới.
- Phương pháp tọa đàm khoa học, phỏng vấn chuyên gia để tìm hiểu thực tiễn
công tác đấu tranh phòng, chống tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả;
những khó khăn, vướng mắc cũng như các kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình đấu
tranh phòng, chống tội phạm này.

6


Ngoài ra, với hướng tiếp cận hệ thống, đa ngành và liên ngành luật học các
phương pháp nghiên cứu khác như: quy nạp, diễn giải, phân tích – dự báo... được sử
dụng hỗ trợ trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Trên cơ sở kế thừa nền tảng kiến thức của Tội phạm học và kết quả của các Đề
tài nghiên cứu đi trước, luận án chú trọng phát triển những tư tưởng của Chủ nghĩa
Mác – Lê nin về những vấn đề cơ bản của tội phạm học trong thực tế giải quyết nhiệm
vụ phòng ngừa tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả ở Việt Nam để có
những đóng góp mới sau đây:
- Là công trình nghiên cứu tội phạm học chuyên sâu tập trung nghiên cứu toàn
diện các vấn đề về tình hình tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả trong 10
năm (giai đoạn 2005 – 2014), nguyên nhân và điều kiện của THTP về tiền giả và các
giải pháp phòng ngừa nhóm tội này trên phạm vi cả nước;
- Làm sáng tỏ THTP về tiền giả bằng phương pháp luận và hệ phương pháp
đặc trưng của Tội phạm học. Đây là loại tội phạm có độ ẩn cao…;
- Thông qua cơ chế hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện của THTP về
tiền giả được xác định theo cách khác biệt nhưng vẫn đảm bảo tính logic và khoa học
theo quan điểm của tội phạm học mác-xít;
- Trên cơ sở làm sáng tỏ quy luật vận động của THTP về tiền giả, bản chất quan

giải pháp phòng ngừa tội phạm về tiền giả ở Việt Nam

8


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TỘI
LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH TIỀN GIẢ
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1. Tình hình nghiên cứu các vấn đề cơ bản của tội phạm học
Lịch sử tội phạm học trên thế giới được nghiên cứu theo nhiều trường phái,
quan điểm khác nhau. Tội phạm học XHCN vận dụng những luận điểm, nguyên lý,
các cặp phạm trù và khái niệm của triết học Mác – Lênin để nghiên cứu THTP và các
nguyên nhân của THTP nhằm làm sáng tỏ những quy luật đặc trưng của quá trình và
hiện tượng xã hội đặc thù là THTP. Ở đây, chúng tôi xin điểm qua một số công trình,
luận điểm quan trọng của các nhà tội phạm học XHCN sẽ được chọn lọc tiếp thu trong
quá trình giải quyết các nhiệm vụ của Đề tài luận án như sau:
Thứ nhất: Nhóm các công trình nghiên cứu về nguyên nhân và điều kiện
của THTP
- “Tội phạm học xã hội chủ nghĩa” (1975) của Buchholz E., Lekshas J.,
Hartmann R. Công trình nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân của THTP là “tổng hợp các
hiện tượng có mối tác động qua lại và thâm nhập lẫn nhau; các hiện tượng này là phổ
biến và được lặp đi lặp lại nhiều lần trong các mối quan hệ luôn luôn thay đổi” [81, tr
169]. Xét điều kiện xã hội của tội phạm ở Cộng hòa dân chủ Đức, tác giả cho rằng,
không chỉ môi trường xã hội ở phạm vi lớn mà môi trường trực tiếp tác động rất lớn
đến việc hình thành nhân cách con người, trong đó có tính cách của người phạm tội.
“Phẩm chất và độ bền vững của cơ cấu xã hội, của quan hệ xã hội ảnh hưởng lớn đến
việc nảy sinh tội phạm. Tội phạm xảy ra ở những nơi và những lúc các quan hệ mới
của xã hội chưa thực sự được củng cố trong khi các quan hệ tự phát, lỏng lẻo, coi
thường lợi ích chung của xã hội vẫn tồn tại” [81, tr 171]. Thêm vào đó, vai trò giám sát

đoạn: Giai đoạn hình thành tư tưởng, ý định, khuynh hướng chống đối xã hội; giai
đoạn hình thành quyết định vi phạm cụ thể; giai đoạn thực hiện quyết định. Trong 3
giai đoạn này, mối quan hệ giữa cá nhân và môi trường xã hội rất phức tạp, quyết định
việc có hay không hành vi phạm tội. Bởi vậy, các điều kiện khách quan và yếu tố chủ
quan giữ vai trò quyết định đối với quá trình hình thành tội phạm. Điều kiện khách
quan là những điều kiện không phụ thuộc vào ý chí và ý thức chủ quan của con người,
10


quy định quyền lợi và nhu cầu của con người nên có khả năng tác động lớn đến việc
hình thành động cơ phạm tội. Mặt khác, điều kiện khách quan cũng là cơ sở cho việc
hình thành đặc điểm, tính cách của nhân thân người phạm tội. Yếu tố chủ quan của
hành vi phạm tội được thực hiện thông qua nhân thân, nối liền các điều kiện khách
quan với hành vi phạm tội nhưng chính yếu tố chủ quan có thể làm phát sinh tội phạm
nên nhân thân người phạm tội là nguyên nhân đặc thù của việc vi phạm pháp luật.
Để làm sáng tỏ nhân thân người phạm tội, cần nghiên cứu trên nhiều phương
diện: phương diện xã hội (giới tính, lứa tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp hoàn cảnh
gia đình, địa vị xã hội); phương diện pháp lý (tính chất của hành vi, tiền án, tiền sự);
phương diện đạo đức và xã hội học (khuynh hướng xã hội, nhu cầu, sở thích, sở
trường, thái độ đối với các quy tắc đạo đức, ý thức pháp luật, các đặc điểm tinh thần,
sinh lý); cách ứng xử trong xã hội (thái độ trong các tập thể, trong gia đình, trường
học, nơi làm việc...) [81, tr 193-194]. Tác giả kết luận tìm ra nguyên nhân của tình
hình tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng. “Nó đồng nghĩa với việc chủ động tấn công
vào tội phạm vừa tạo ra một cơ chế xã hội, trong đó không những có thể phòng ngừa
được sự phát sinh của tội phạm mà còn có thể giáo dục, cải tạo kẻ vi phạm ngay trong
xã hội mà không cần tách chúng khỏi xã hội” [81, tr 195].
Thứ hai: Nhóm các công trình nghiên cứu về cơ sở lí luận về phòng ngừa
tội phạm
- Tác phẩm “Tình cảnh giai cấp lao động ở Anh”, Ang-ghen đã chỉ rõ những
quy luật phát sinh, phát triển chủ yếu của tội phạm trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Theo

các nguyên nhân đó. Trong hệ thống biện pháp phòng ngừa tội phạm, thống kê và
quản lý những người đã phạm tội được Lê nin đặc biệt coi trọng. Không chỉ thu thập
và phân tích các số liệu về tội phạm mà số liệu về những hiện tượng tiêu cực trong xã
hội cũng cần được thu thập và phân tích nhằm loại trừ mầm mống phát sinh và tồn tại
của tội phạm.
Theo tác giả, phòng ngừa tội phạm trên cơ sở về mặt kinh tế - xã hội và tư
tưởng bao gồm các biện pháp: Loại trừ ra khỏi đời sống xã hội các điều kiện tiêu cực,
bất ổn; nâng cao trình độ văn hóa và ý thức giác ngộ của quần chúng nhằm xây dựng
con người mới trong đó đặc biệt coi trọng việc xây dựng cơ cấu đúng đắn giữa nhu cầu
cá nhân và nhu cầu tập thể. Đáng chú ý, theo tác giả “các biện pháp đặc biệt phòng
ngừa tội phạm là những biện pháp do các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, các tổ

12


chức xã hội và công dân tiến hành nhằm trực tiếp loại trừ các yếu tố tội phạm học để
giáo dục và cải tạo những người có thể phạm tội hoặc đã phạm tội” [81, tr 204] gồm
hai loại:
+ Biện pháp mang tính chất “tín hiệu”: là những dự kiến cần thiết phải tác động
vào các yếu tố tội phạm học hay những nhóm người nhất định.
+ Biện pháp tác động trực tiếp: Điều 140 BLTTHS Nga quy định trách nhiệm
của điều tra viên trong quá trình điều tra phát hiện ra các nguyên nhân và điều kiện
phạm tội thì phải kiến nghị cho các cơ quan, tổ chức để loại trừ.
Các công trình, luận điểm trên tuy đã ra đời từ thế kỷ 20 nhưng đến nay vẫn
phát huy giá trị khoa học bởi chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử có khả năng đưa ra những câu trả lời một cách sâu sắc nhất, bản chất nhất, đầy đủ
nhất cho những vấn đề cơ bản của tội phạm học [117, tr.12 ] .
1.1.2. Tình hình nghiên cứu về tiền giả trên thế giới
Như đã đề cập, trong lịch sử các nước, tiền giả xuất hiện từ rất sớm. Tiền giả
tồn tại không chỉ giới hạn liên quan tới các cá nhân và tổ chức tội phạm mà thậm chí

tiền của Thụy Sĩ gần đây đã được NHTW nước này đặt một loạt các yếu tố được coi là
khó làm giả nhất.
Về phía các tổ chức tội phạm, tiền giả được sản xuất ra cũng để “bán” cho công
chúng (người tiêu dùng). Để đảm bảo mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, tội phạm làm tiền
giả lựa chọn chủng loại tiền “bán” được với giá cao (có mệnh giá cao) và có chi phí
sản xuất thấp, đồng thời tính toán một số lượng hợp lý vì số lượng quá lớn đồng nghĩa
với khả năng bị phát hiện và bắt giữ tăng lên.
Mô hình giả định đơn giản này cho thấy, có sự tương tác chặt chẽ giữa hai phía
trong trò chơi dựa trên động cơ và nhu cầu về tiền, trong đó có trạng thái cân bằng tối
ưu nhất để lựa chọn các phương án sản xuất tiền của mỗi quốc gia. Trạng thái đó tuỳ
thuộc vào các tham số giả định.
- Protection of banknotes in the virtual reality (Bảo vệ tiền giấy trong thực
tế) của Silvia Lattová, Tạp chí Luật US-CHINA số 10/2013.
Tiền là một phần rất quan trọng của đời sống con người. Tiền có chức năng
khác nhau, bản thân tiền "giữ" giá trị và là trung gian để trao đổi hàng hoá, dịch vụ. Sự
tiến bộ của khoa học kỹ thuật bên cạnh những yếu tố tích cực, cung cấp những cách

14


thức làm tiền giả tốt hơn cho tội phạm. Do đó, cần phải đổi mới và cố gắng hơn trong
việc sản xuất tiền, đặc biệt là các yếu tố kỹ thuật an toàn hơn về tiền giấy như in tiền
bằng các loại giấy đặc biệt, đưa vào đồng tiền những yếu tố có thể nhìn thấy chỉ dưới
ánh sáng đặc biệt… Đồng thời, cũng cần thực hiện biện pháp bảo vệ các yếu tố ghi trên
đồng tiền (như hình ảnh đồ hoạ, biểu tượng…) như bảo vệ các công trình sở hữu trí tuệ,
gắn với các quy định về bản quyền.
-

Combating


trong cuộc chiến chống Euro giả.

15


Phần kết luận, bài viết đưa ra một số bài học về sự cần thiết phải tạo sự hiểu
biết, cách tiếp cận để giải quyết vấn đề chính sách công trong EU và thách thức trong
hợp tác của các quốc gia thành viên sử dụng đồng Euro.
- Report on the legal protection of banknotes in the European Union
member states (Bài báo về công tác bảo vệ pháp lý của tiền giấy), của tác giả
Kaiserstrasse (Đức) đăng trên tạp chí NHTW Châu Âu số tháng 3 năm 1999.
Bài báo đưa ra các khuyến nghị trên khía cạnh pháp lý trong bảo vệ đồng tiền
giấy Euro:
i) chống giả: cần phải nghiên cứu, giới thiệu các giải pháp chống làm giả bằng
hình thức sử dụng công nghệ sao chép (copy) màu.
ii) Bảo vệ tiền giấy Euro trong tất cả các nước thành viên: Việc quy định và áp
dụng pháp luật hình sự trong đấu tranh chống tiền giả thuộc thẩm quyền của các nước
thành viên nhưng nên được giải quyết trong khuôn khổ hợp tác liên chính phủ theo
quy định tại Chương VI của Hiệp ước Liên minh châu Âu (quy định về hợp tác trong
các lĩnh vực tư pháp và nội vụ).
iii) thông qua và công bố thiết kế tờ tiền giấy Euro: biểu tượng © cần được đưa
vào các loại tiền Euro và nên sản xuất các đồng Euro giấy có kích cỡ thống nhất trong
toàn khu vực sử dụng đồng Euro.
iv) thu hồi tiền giấy Euro: cần thiết lập một quy tắc thống nhất, xuyên suốt khu
vực đồng Euro trong việc mua lại hoặc tiêu huỷ tiền giấy bị hư hỏng;
v) vấn đề "ưa thích" tiền giấy: tác giả cho rằng việc "ưa thích" tiền giấy có thể
làm cho vấn đề thêm phức tạp và nên bị ngăn cản.
Như vậy, tổng quan tình hình nghiên cứu về tiền giả và đấu tranh phòng, chống
tiền giả trên thế giới cho thấy, do chứa đựng yếu tố liên quan ANQG, nên các tài liệu
nghiên cứu tội phạm về tiền giả là tài liệu hạn chế lưu hành. Các công trình khoa học

đấu tranh chống hoạt động làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả tiền Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam”, Châu Nam Long (2001); bài báo “Công tác giám định tiền
giả của lực lượng Kỹ thuật hình sự”, Trần Đức Bình, kỳ 1 tháng 12/2014 Tạp chí
Công an nhân dân.

17


1.2.3. Nhóm các công trình điển hình nghiên cứu về đấu tranh chống tội
phạm về tiền giả dưới góc độ điều tra tội phạm.
Một số bài báo điển hình đăng trên Tạp chí Công an nhân dân gồm: “Trao đổi
về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả trong Luật hình sự Việt Nam”,
Nguyễn Thị Thu Hương, số 10/2011; “Nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh
chống tội phạm vận chuyển tiền giả ở khu vực biên giới”, Nguyễn Mạnh Toàn, kỳ 1
tháng 9/2012; “Một số vấn đề cần chú ý trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm
về tiền giả hiện nay”, Lê Văn Hải, kỳ 1 tháng 10/2013; “Nâng cao hiệu quả công tác
đấu tranh chống tội phạm về tiền giả ở tỉnh Quảng Ninh”, Nguyễn Bá Bính, kỳ 1
tháng 11/2014; chuyên mục “Đấu tranh phòng, chống tội phạm về tiền giả góp phần
bảo vệ an ninh kinh tế, tài chính, tiền tệ quốc gia”, kỳ 1 tháng 12/2014 với các bài
“Công an tỉnh Đồng Nai tăng cường công tác phòng, chống tội phạm làm, tàng trữ,
vận chuyển, lưu hành tiền giả”, Hoàng Liên Sơn...
Luận văn “Điều tra các vụ án làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam giả của công an Tỉnh Lạng Sơn thực trạng và giải pháp
nâng cao hiệu quả”, Phạm Tuấn Bằng (2003); Luận văn “Giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền Việt Nam giả trên
địa bàn Thành phố Hà Nội”, Bùi Diệp Hùng (2009); Luận văn“Hoạt động phòng
ngừa và điều tra tội phạm vận chuyển tiền giả qua biên giới đất liền Việt Nam – Trung
Quốc của Bộ đội Biên phòng”, Phạm Tiến Đăng (2005).
Các công trình, đề tài, bài báo nghiên cứu dưới góc độ Điều tra tội phạm và Kỹ
thuật hình sự có liên quan đến một số biện pháp, công tác nghiệp vụ của ngành Công

vào tiền thật để in sao thành tiền giả, in lưới, in ôpsét).
- Tổng quan tình hình nghiên cứu hoạt động phòng ngừa tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành tiền Đồng Việt Nam giả; tình hình tội phạm về tiền giả từ năm 2000
– 2008 và hoạt động phòng ngừa của lực lượng Công an nhân dân; các giải pháp nâng
cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền Đồng
Việt Nam giả của lực lượng Công an nhân dân;
- Nguyên nhân và điều kiện các tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả,
ngân phiếu giả, công trái giả gồm: âm mưu của bọn phản động và các thế lực thù địch,
các tổ chức quốc tế nhằm phá hoại đồng tiền Việt Nam; trình độ và hiểu biết về kỹ

19


thuật và tiền tệ của cán bộ ngân hàng, nhân dân còn thấp, khó phát hiện tiền giả; hạn
chế trong công tác điều tra, xử lý tội phạm về tiền giả...
- Dự báo THTP về tiền giả: hoạt động làm tiền giả bên trong và ngoài lãnh thổ
Việt Nam vẫn tiếp diễn trong thập niên đầu thế kỷ XXI; xu hướng lợi dụng thành tựu
khoa học – công nghệ cao vào việc làm tiền giả; các thế lực thù địch, các tổ chức tội
phạm quốc tế sẽ triệt để lợi dụng tình hình hoạt động làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành tiền giả để chống phá cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực kinh tế - tài chính – tiền
tệ và an ninh kinh tế đối ngoại.
- Các giải pháp phòng ngừa tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả,
ngân phiếu giả, công trái giả: Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tài chính, ngân
hàng; tăng cường tuyên truyền giáo dục pháp luật và phổ biến về các âm mưu, phương
thức, thủ đoạn của tội phạm này trong nhân dân để nâng cao sự cảnh giác, phát hiện
kịp thời tội phạm để phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn tiền giả; tăng cường các hoạt
động điều tra trinh sát, phối hợp các lực lượng trong phòng ngừa và phát hiện kịp thời
các hoạt động làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả; tăng cường điều tra, xử lý
các tội phạm về tiền giả; chủ động hợp tác với các nước láng giềng và interpol trong
công tác đấu tranh chống hoạt động làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả.

- Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm về
tiền giả.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu còn tồn tại một số hạn chế như:
- Do chưa sử dụng phương pháp luận và hệ phương pháp đặc trưng của Tội
phạm học nên các công trình chưa làm rõ được phần hiện của THTP về tiền giả thông
qua các đặc điểm định tính và định lượng;
- Phần ẩn của THTP về tiền giả là khoảng trống chưa được nghiên cứu
thấu đáo;
- Nguyên nhân và điều kiện của tội phạm về tiền giả đã được nghiên cứu nhưng
chưa dựa trên định lượng để xử lý, phân tích số liệu nên nhiều kết luận rút ra mang tính
chất kinh nghiệm, chủ quan và thiếu logic;
- Ngoại trừ nhóm giải pháp vận dụng linh hoạt các biện pháp của lực lượng
Công an, do chưa làm rõ nguyên nhân và điều kiện của THTP về tiền giả nên hầu hết
các giải pháp còn lại mang tính đường hướng, thiếu đồng bộ và khoa học nên tính khả
thi không cao;

21


- Chưa cập nhật được lý luận biện chứng và hiện đại về phòng ngừa tội phạm
của Tội phạm học.
1.3.1. Những ưu điểm, kết quả nghiên cứu Luận án kế thừa
Các công trình nghiên cứu về tiền giả thời gian qua đã đóng góp quan trọng về
cả lý luận và thực tiễn. Nhìn chung, các công trình đã đánh giá tương đối sát thực thực
trạng tội phạm về tiền giả với từng tội hoặc nhóm tội danh: làm tiền giả; vận chuyển
tiền giả; tàng trữ và lưu hành tiền giả hoặc cả 4 tội danh ở một số địa phương trong cả
nước qua các giai đoạn. Mỗi công trình có thế mạnh riêng, khai thác dưới góc độ Kỹ
thuật hình sự, Điều tra hình sự, Tội phạm học và hầu hết các tác giả nghiên cứu là cán
bộ Công an trực tiếp làm công tác trinh sát, điều tra các vụ án tiền giả nên thông tin, số
liệu có độ tin cậy. Các giải pháp được đưa ra tương đối đa dạng, dựa trên lĩnh vực, góc

Trong cơ cấu của tình hình tội phạm quốc tế và mang tính chất quốc tế, tội
khủng bố quốc tế là tội phạm cực kỳ nguy hiểm, tội buôn lậu ma túy là loại tội phổ
biến nhất, buôn lậu quốc tế là tội phạm đe dọa nền an ninh kinh tế của nhiều quốc gia
trên thế giới, tội buôn bán phụ nữ và trẻ em có những diễn biến phức tạp… song tội
cướp biển và tội sản xuất và lưu thông tiền giả là loại tội phạm có lịch sử lâu đời nhất
[117, tr 211-217]. Mặc dù nhiều quốc gia không ngừng gia tăng các biện pháp phòng
ngừa, điều chỉnh mạnh mẽ bằng pháp luật và các công cụ khác nhằm bảo vệ an ninh tài
chính quốc gia, đẩy lùi tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội song đây vẫn là cuộc đấu
tranh dai dẳng.
Trên thế giới, các nghiên cứu về đấu tranh phòng, chống tội phạm về tiền giả
chứa đựng yếu tố liên quan an ninh quốc gia nên ít được công bố công khai. Các công
trình chủ yếu về lịch sử tội phạm về tiền giả, nghiên cứu tiền giả dưới góc độ kỹ thuật,
công cụ và các công nghệ làm tiền giả, một số mô hình giả định trong phòng, chống
tiền giả... Chế độ lưu thông, thanh toán tiền mặt ở mỗi quốc gia khác nhau có sự khác
biệt nên kinh nghiệm hay bài học của các nước chỉ có tính chất tham khảo mà khó có
thể dập khuôn nguyên mẫu để áp dụng với quốc gia khác.
Ở Việt Nam, lịch sử phát triển khoa học tội phạm học còn mới và đối tượng tác
động khá đặc thù là tiền giả nên các công trình nghiên cứu theo hướng tội phạm học
còn khiêm tốn. Các công trình nghiên cứu tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền

23


giả dưới góc độ điều tra tội phạm, kỹ thuật hình sự hầu hết được lưu hành ở chế độ mật
hoặc lưu hành nội bộ.
Vì vậy, có thể nói nghiên cứu về đấu tranh phòng, chống tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành tiền giả theo hướng tội phạm học vẫn còn nhiều khoảng trống để
triển khai, sáng tạo. Những thành công của các công trình nghiên cứu trước đây sẽ
được Đề tài kế thừa, phát huy, đồng thời những vấn đề hạn chế, chưa giải quyết thấu
đáo sẽ được tập trung nghiên cứu để có những đóng góp mới về khoa học trong phòng

một số đặc điểm đáng chú ý sau:
Thứ nhất, về mức độ tổng quan. Giai đoạn 2005 – 2014, số vụ và số bị cáo bị
xét xử tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả chỉ chiếm 0,3% và 0,32% so với
tổng số vụ và bị cáo bị xét sử HSST. Trong số 267 điều luật được quy định trong
BLHS 2009, bên cạnh một số tội điển hình chiếm tỷ lệ cao trong tổng số vụ và bị cáo
đã xét xử HSST, nhất là các loại tội “tăng nhiệt” hiện nay như: các tội xâm phạm tính
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status