Đấu tranh phòng, chống tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả ở việt nam hiện nay - Pdf 36

VIỆN HÀN LÂM KHOA
HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC
VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG DIỆU THÚY

ĐẤU TRANH PHÒNG, CHÓNG TỘI LÀM, TÀNG TRỮ,
VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH TIỀN GIẢ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

CHUYÊN NGÀNH: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm MÃ SÓ :
62380105

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM VĂN TỈNH

Hà Nội - 2016


LỜI CAM ĐOAN

Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài liệu tham khảo và công trình
nghiên cứu của các tác giả khác về những vấn đề có liên quan đều được chỉ dẫn nguồn cụ
thể. Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và không có sự sao
chép, trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã công bố.

TÁC GIẢ

MỤC LỤC


Bộ Công an

BCA

4.

Bộ luật hình sự

BLHS

5.
6.
7.

Bộ luật hình sự năm 1985
Bộ luật hình sự năm 1999
Bộ luật tố tụng hình sự

BLHS
1985
BLHS
1999
BLTTHS

8.

Đảng Cộng sản Việt Nam

ĐCSVN


14.

Nhà xuất bản

Nxb

15.
16.

Phó Giáo sư. Tiến sỹ
Tình hình tội phạm

PGS.TS
THTP

17.

Tòa án nhân dân

TAND

18.

Tòa án nhân dân Tối cao

TANDTC

19.
20.


giai đoạn 2005 - 2014
2.2

Mức độ của THTP về tiền giả xét theo đơn vị hành vi phạm

2.3

tội
Cơ số tội phạm của THTP về tiền giả

2.4

Tốc độ phát triển của THTP về tiền giả

2.5

Cơ cấu theo mức độ của THTP về tiền giả ở nước ta từ
2005 - 2014 tính toán trên cơ sở số dân của các đơn vị hành

2.6
2.7

Cơ cấu của THTP về tiền giả xét theo cấp độ nguy hiểm từ

2.8

năm 2005-2014
Cơ cấu của THTP về tiền giả xét theo thủ đoạn thực hiện

2.9

2.18

157
157
158

chính lãnh thổ - Cơ số ngược
Cơ cấu theo mức độ của THTP về tiền giả từ năm 2005 2014 tính toán trên cơ sở diện tích của các địa danh

2.10

156

đoạn 2005 - 2014
Cơ cấu tái phạm, tái phạm nguy hiểm của THTP về tiền giả
từ 2005-2014
Cơ cấu về thiệt hại của THTP về tiền giả
Số liệu vụ, bị cáo bị xét xử HSST tội làm, tàng trữ, vận

160
162
164
166
166
167
167
168
168
169
169

Về phương diện pháp lý, Việt Nam là thành viên Công ước Palermo (TOC) năm 2000
của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, đồng thời ban hành nhiều
văn bản pháp lý phục vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm về tiền giả, trong đó đấu tranh
chống tội phạm về tiền giả bằng pháp luật hình sự được đặc biệt quan tâm. Minh chứng là


Điều luật về tội phạm này, ban đầu (1985) được xếp vào nhóm Các tội xâm phạm ANQG. Đến
BLHS 1999 và BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 (gọi tắt là BLHS 2009), tội phạm về
tiền giả được bố trí hợp lý vào nhóm Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Sự thay đổi này
cho thấy cơ quan lập pháp Việt Nam quan tâm điều chỉnh pháp luật đối với tội phạm về tiền
giả cho phù hợp với thực tế khách quan và xu thế chung của các nước trên thế giới. Tuy nhiên,
đến nay, quá trình áp dụng pháp luật tiếp tục bộc lộ những bất cập, thậm chí kể cả đối với một
số điều luật điều chỉnh tội phạm này trong các bộ luật mới được ban hành trong năm 2015
(hiệu lực từ tháng 7/2016) cũng cần có sự điều chỉnh cho phù hợp hơn với tình hình thực tiễn.
Về phương diện thực tiễn, tội phạm về tiền giả ở nước ta vẫn xẩy ra hàng năm, tuy
không nhiều, song cũng ở mức ba con số. Để tăng cường bảo vệ tiền Việt Nam, Thủ tướng
Chính phủ ra Quyết định số 130/2003/QĐ-TTg ngày 30/6/2003 về “Bảo vệ tiền Việt Nam”,
giao BCA chịu trách nhiệm chính, toàn diện trong công tác đấu tranh với nạn tiền giả, bảo vệ
tiền Việt Nam. Tiếp đó, tại Quyết định số 03/QĐ-TTg ngày 02/01/2009, Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Đề án “Nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm làm, tàng trữ,
vận chuyển, lưu hành tiền giả, séc giả, ngân phiếu giả, công trái giả và các giấy tờ có giá
khác”(gọi tắt là Đề án 03 của Chính phủ). Tuy nhiên, hằng năm, hệ thống ngân hàng và kho
bạc trên cả nước vẫn thu hồi hàng chục ngàn tờ tiền giả. Tiền polymer mệnh giá từ 10.000đ
đến 500.000đ đã thay thế tiền cotton từ năm 2003 - 2006, nhưng đến nay, mỗi năm vẫn thu
được nhiều tờ tiền cotton giả. Điều này phản ánh rằng, phần ẩn của tình hình tội phạm về tiền
giả là đáng kể và đấu tranh với tội phạm nói chung và với tội phạm về tiền giả nói riêng,
không thể chỉ bằng phương thức chống, tức là đấu tranh bằng pháp luật hình sự, mà còn phải
chú ý tới một phương thức khác. Đó là phòng ngừa tội phạm trên cơ sở chỉ dẫn của tội phạm
học, mở ra nhiều khả năng ngăn chặn, đẩy lùi tội phạm.
Về phương diện khoa học, có nhiều công trình ở các cấp độ sách chuyên khảo, luận án,


-

Nghiên cứu đánh giá mức độ, động thái, cơ cấu, tính chất của tình hình tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành tiền giả từ năm 2005 - 2014;

-

Phân tích làm rõ nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành tiền giả ở Việt Nam hiện nay;

-

Dự báo về tình hình tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả và đề xuất hoàn thiện hệ
thống giải pháp phòng ngừa có hiệu quả với tội phạm này ở Việt Nam trong thời gian tới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Là quy luật của sự phạm tội làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả.

3.2 Phạm vi nghiên cứu
* về lĩnh vực nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trong phạm vi tội phạm học, thuộc chuyên
ngành tội phạm học và phòng ngừa tội phạm.


* về Điều luật: Đề tài đề cập đến Điều 180 BLHS 2009 nhưng chỉ với đối tượng tác động là tiền
giả tiền NHNN Việt Nam.

* về tài liệu nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu dựa trên dữ liệu gồm số liệu thống kê xét xử
HSST các vụ án làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả theo mẫu 1A của TANDTC từ



+ Hướng tiếp cận suy luận logic: Đây là hướng tiếp cận giúp bù đắp phần thiếu hụt
thông tin, tài liệu, số liệu hữu hạn về THTP về tiền giả trong giai đoạn nghiên cứu mà chúng
tôi thu thập được. Trên cơ sở số liệu theo mẫu 1A của TANDTC thống kê xét xử HSST tội
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả trong phạm vi cả nước từ năm 2005 - 2014 kết hợp
với kết quả nghiên cứu, tổng hợp, phân tích 250 bản án, 300 bản kết luận điều tra được thu
thập ngẫu nhiên và phương pháp điều tra chọn mẫu để suy luận logic, đưa ra các kết luận
thuyết phục về THTP làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả thời gian qua.
4.2.
Phương pháp nghiên cứu:
Là một đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, đề tài được nghiên
cứu trên cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử, quan điểm của ĐCSVN về nghiên cứu các sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội
bằng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp thống kê, tổng hợp: thống kê số lượng các vụ làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành tiền giả và số lượng bị cáo tính theo các năm từ 2005 - 2014 của từng địa
phương trong cả nước. Thông qua đó để đánh giá các đặc điểm định tính và định lượng của
tình hình tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả ở Việt Nam hiện nay.

-

Phương pháp phân tích được sử dụng khi rút ra đánh giá, bình luận từ việc tính toán các cơ cấu
cơ bản và cơ cấu chuyên biệt của tình hình tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả ở
Việt Nam từ năm 2005 - 2014; đánh giá lý do ẩn của tội phạm về tiền giả; phân tích nguyên
nhân và điều kiện của tình hình tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả...

-

Phương pháp tổng hợp được sử dụng rút ra nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội làm,


trình nghiên cứu và hoàn thành luận án.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Trên cơ sở kế thừa nền tảng kiến thức của Tội phạm học và kết quả của các Đề tài
nghiên cứu đi trước, luận án chú trọng phát triển những tư tưởng của Chủ nghĩa Mác - Lê nin
về những vấn đề cơ bản của tội phạm học trong thực tế giải quyết nhiệm vụ phòng ngừa tội
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả ở Việt Nam để có những đóng góp mới sau đây:

-

Là công trình nghiên cứu tội phạm học chuyên sâu tập trung nghiên cứu toàn diện các vấn đề
về tình hình tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả trong 10 năm (giai đoạn 2005 2014), nguyên nhân và điều kiện của THTP về tiền giả và các giải pháp phòng ngừa nhóm tội
này trên phạm vi cả nước;

-

Làm sáng tỏ THTP về tiền giả bằng phương pháp luận và hệ phương pháp đặc trưng của Tội
phạm học. Đây là loại tội phạm có độ ẩn cao...;

-

Thông qua cơ chế hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện của THTP về tiền giả được xác
định theo cách khác biệt nhưng vẫn đảm bảo tính logic và khoa học theo quan điểm của tội
phạm học mác-xít;

-

Trên cơ sở làm sáng tỏ quy luật vận động của THTP về tiền giả, bản chất quan hệ “Nhân Quả” của nguyên nhân và điều kiện của THTP, luận án đề xuất các giải pháp tác động vào
“Nhân” nhằm loại trừ tội phạm và các giải pháp tác động vào “Quả” nhằm ngăn chặn tội phạm
để hoàn thiện hệ thống giải pháp phòng ngừa THTP về tiền giả trong thời gian tới.

LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH TIỀN GIẢ

1.1.
1.1.1.

Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Tinh hình nghiên cứu các vấn đề cơ bản của tội phạm học
Lịch sử tội phạm học trên thế giới được nghiên cứu theo nhiều trường phái, quan điểm

khác nhau. Tội phạm học XHCN vận dụng những luận điểm, nguyên lý, các cặp phạm trù và
khái niệm của triết học Mác - Lênin để nghiên cứu THTP và các nguyên nhân của THTP nhằm
làm sáng tỏ những quy luật đặc trưng của quá trình và hiện tượng xã hội đặc thù là THTP. Ở
đây, chúng tôi xin điểm qua một số công trình, luận điểm quan trọng của các nhà tội phạm học
XHCN sẽ được chọn lọc tiếp thu trong quá trình giải quyết các nhiệm vụ của Đề tài luận án
như sau:
r I Ạ J mTl _
rpi
r r_Ạ
-*• _r_
Ạ1_
•Ä

i>1

1_^ «Ạ f






trường, môi trường lao động sản xuất và môi trường sinh hoạt. Những khiếm khuyết trong các
môi trường trên không phải nguyên nhân trực tiếp của tội phạm nhưng “những nguyên nhân ấy
tác động đến sự phát sinh tội phạm thông qua nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố thuộc về tâm
lý - xã hội” [81, tr 180]. Trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, xóa bỏ các nguyên nhân của
THTP là nhiệm vụ cơ bản nhưng phải đi đôi với thủ tiêu các điều kiện thúc đẩy tội phạm phát
triển. Về chiến lược phòng ngừa tội phạm cần giải quyết các vấn đề xã hội và kinh tế. Song về
trước mắt, cần loại trừ ngay lập tức các nhược điểm, thiếu sót trong bốn môi trường nói trên;
tạo mọi điều kiện phát huy yếu tố tích cực của môi trường sống và áp dụng các biện pháp pháp
lý để tác động đến tội phạm.

-

“Nguyên nhân của việc vi phạm pháp luật” (1976) của Prichiny Pravonarushenii. Nguyên nhân
được nghiên cứu dựa trên quan điểm duy vật mác-xít. Quan hệ nhân quả là mối quan hệ khách
quan giữa hai hiện tượng. Hiện tượng thứ nhất là nguyên nhân, trong những điều kiện nhất
định sẽ làm phát sinh ra hiện tượng thứ hai là kết quả. Để tìm ra nguyên nhân cần phải làm rõ
mối quan hệ giữa điều kiện và nguyên nhân, điều kiện và hậu quả, mối quan hệ giữa hậu quả
và nguyên nhân [81, tr 192].
Công trình chia quá trình hình thành một hành vi vi phạm pháp luật làm ba giai đoạn:
Giai đoạn hình thành tư tưởng, ý định, khuynh hướng chống đối xã hội; giai đoạn hình thành
quyết định vi phạm cụ thể; giai đoạn thực hiện quyết định. Trong 3 giai đoạn này, mối quan hệ
giữa cá nhân và môi trường xã hội rất phức tạp, quyết định việc có hay không hành vi phạm
tội. Bởi vậy, các điều kiện khách quan và yếu tố chủ quan giữ vai trò quyết định đối với quá
trình hình thành tội phạm. Điều kiện khách quan là những điều kiện không phụ thuộc vào ý chí
và ý thức chủ quan của con người, quy định quyền lợi và nhu cầu của con người nên có khả
năng tác động lớn đến việc hình thành động cơ phạm tội. Mặt khác, điều kiện khách quan cũng
là cơ sở cho việc hình thành đặc điểm, tính cách của nhân thân người phạm tội. Yếu tố chủ
quan của hành vi phạm tội được thực hiện thông qua nhân thân, nối liền các điều kiện khách





- “Cơ sở lý luận của phòng ngừa tội phạm”, 1977 của Zvitbul’V.K., Klochkov V.V.,
Min’ Kovskij G.M. Tác giả vận dụng các luận điểm có tính chất nguyên tắc trong phòng ngừa
tội phạm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin. Tinh thần phòng ngừa được thể hiện rất sâu sắc trong
“Những cuộc tranh luận về luật cấm trộm củi rừng” của C. Mác. “Nhà lập pháp khôn ngoan
ngăn ngừa sự phạm tội để khỏi phải trừng phạt nó. Nhưng nhà lập pháp sẽ làm việc này không
phải bằng cách hạn chế phạm vi của quyền mà bằng cách trong mỗi nguyện vọng của quyền,
thủ tiêu mặt tiêu cực của nó sau khi đã đem lại cho quyền một phạm vi hoạt động tích cực”
[17, tr 190]. Sau đó, V.I. Lê nin đã phát triển vấn đề phòng ngừa tội phạm một cách toàn diện
và chỉ ra rằng, để phòng ngừa được tội phạm phải xác định được các nguyên nhân và biện pháp
để giải quyết các nguyên nhân đó. Trong hệ thống biện pháp phòng ngừa tội phạm, thống kê và
quản lý những người đã phạm tội được Lê nin đặc biệt coi trọng. Không chỉ thu thập và phân
tích các số liệu về tội phạm mà số liệu về những hiện tượng tiêu cực trong xã hội cũng cần
được thu thập và phân tích nhằm loại trừ mầm mống phát sinh và tồn tại của tội phạm.
Theo tác giả, phòng ngừa tội phạm trên cơ sở về mặt kinh tế - xã hội và tư tưởng bao
gồm các biện pháp: Loại trừ ra khỏi đời sống xã hội các điều kiện tiêu cực, bất ổn; nâng cao
trình độ văn hóa và ý thức giác ngộ của quần chúng nhằm xây dựng con người mới trong đó
đặc biệt coi trọng việc xây dựng cơ cấu đúng đắn giữa nhu cầu cá nhân và nhu cầu tập thể.
Đáng chú ý, theo tác giả “các biện pháp đặc biệt phòng ngừa tội phạm là những biện pháp do
các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và công dân tiến hành nhằm trực tiếp
loại trừ các yếu tố tội phạm học để giáo dục và cải tạo những người có thể phạm tội hoặc đã
phạm tội” [81, tr 204] gồm hai loại:
+ Biện pháp mang tính chất “tín hiệu”: là những dự kiến cần thiết phải tác động vào
các yếu tố tội phạm học hay những nhóm người nhất định.
+ Biện pháp tác động trực tiếp: Điều 140 BLTTHS Nga quy định trách nhiệm của điều
tra viên trong quá trình điều tra phát hiện ra các nguyên nhân và điều kiện phạm tội thì phải
kiến nghị cho các cơ quan, tổ chức để loại trừ.
Các công trình, luận điểm trên tuy đã ra đời từ thế kỷ 20 nhưng đến nay vẫn phát huy
giá trị khoa học bởi chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử có khả năng

trong hệ thống. Trên thực tế, tuỳ từng thời kỳ và từng loại tiền, mệnh giá tiền mà các quốc gia
sẽ lựa chọn sản xuất tiền hợp pháp của họ với mức độ bảo mật khác nhau. Ví dụ: đồng đô la
Mỹ thay đổi rất ít trong vài thập kỷ qua và được coi là dễ dàng giả mạo, đồng tiền của Thụy Sĩ
gần đây đã được NHTW nước này đặt một loạt các yếu tố được coi là khó làm giả nhất.
Về phía các tổ chức tội phạm, tiền giả được sản xuất ra cũng để “bán” cho công chúng
(người tiêu dùng). Để đảm bảo mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, tội phạm làm tiền giả lựa chọn
chủng loại tiền “bán” được với giá cao (có mệnh giá cao) và có chi phí sản xuất thấp, đồng thời


tính toán một số lượng hợp lý vì số lượng quá lớn đồng nghĩa với khả năng bị phát hiện và bắt
giữ tăng lên.
Mô hình giả định đơn giản này cho thấy, có sự tương tác chặt chẽ giữa hai phía trong
trò chơi dựa trên động cơ và nhu cầu về tiền, trong đó có trạng thái cân bằng tối ưu nhất để lựa
chọn các phương án sản xuất tiền của mỗi quốc gia. Trạng thái đó tuỳ thuộc vào các tham số
giả định.
- Protection of banknotes in the virtual reality (Bảo vệ tiền giấy trong thực tế) của
Silvia Lattová, Tạp chí Luật US-CHINA số 10/2013.
Tiền là một phần rất quan trọng của đời sống con người. Tiền có chức năng khác nhau,
bản thân tiền "giữ" giá trị và là trung gian để trao đổi hàng hoá, dịch vụ. Sự tiến bộ của khoa
học kỹ thuật bên cạnh những yếu tố tích cực, cung cấp những cách thức làm tiền giả tốt hơn
cho tội phạm. Do đó, cần phải đổi mới và cố gắng hơn trong việc sản xuất tiền, đặc biệt là các
yếu tố kỹ thuật an toàn hơn về tiền giấy như in tiền bằng các loại giấy đặc biệt, đưa vào đồng
tiền những yếu tố có thể nhìn thấy chỉ dưới ánh sáng đặc biệt... Đồng thời, cũng cần thực hiện
biện pháp bảo vệ các yếu tố ghi trên đồng tiền (như hình ảnh đồ hoạ, biểu tượng.) như bảo vệ
các công trình sở hữu trí tuệ, gắn với các quy định về bản quyền.
- Combating Euro-Counterfeiting within the European Union:
Implications for Policy Cooperation (Chống Euro giả trong Liên minh châu Âu: Những ảnh
hưởng về hợp tác chính sách) của tham luận của GS.TS. Peter Loedel và GS.TS. John D.
Occhipinti tại hội thảo “Biennial Conference Baltimore” lần thứ 13 (ngày 9 - 11/5/2013).
Bài viết phân tích “cuộc chiến” của Liên minh Châu Âu (EU) đối với đồng euro giả,

được giải quyết trong khuôn khổ hợp tác liên chính phủ theo quy định tại Chương VI của Hiệp
ước Liên minh châu Âu (quy định về hợp tác trong các lĩnh vực tư pháp và nội vụ).

iii) thông qua và công bố thiết kế tờ tiền giấy Euro: biểu tượng © cần được đưa vào các loại tiền
Euro và nên sản xuất các đồng Euro giấy có kích cỡ thống nhất trong toàn khu vực sử dụng
đồng Euro.

iv) thu hồi tiền giấy Euro: cần thiết lập một quy tắc thống nhất, xuyên suốt khu vực đồng Euro
trong việc mua lại hoặc tiêu huỷ tiền giấy bị hư hỏng;

v) vấn đề "ưa thích" tiền giấy: tác giả cho rằng việc "ưa thích" tiền giấy có thể làm cho vấn đề
thêm phức tạp và nên bị ngăn cản.
Như vậy, tổng quan tình hình nghiên cứu về tiền giả và đấu tranh phòng, chống tiền giả
trên thế giới cho thấy, do chứa đựng yếu tố liên quan ANQG, nên các tài liệu nghiên cứu tội
phạm về tiền giả là tài liệu hạn chế lưu hành. Các công trình khoa học về chủ đề này chủ yếu
liên quan đến lịch sử tội phạm về tiền giả, nghiên cứu tiền giả dưới góc độ kỹ thuật, công cụ và


các công nghệ làm tiền giả, một số mô hình giả định trong phòng, chống tiền giả... mà ít có các
công trình nghiên cứu tội phạm về tiền giả dưới nhãn quan tội phạm học được công bố công
khai.

1.2.
1.2.1.

Tình hình nghiên cứu trong nước
Các công trình tạo nền móng cho lý luận Tội phạm học ở Việt Nam:
Các công trình tạo nền móng cho lý luận Tội phạm học không chỉ chứa đựng lý

luận Tội phạm học về các vấn đề cơ bản mà Đề tài luận án phải giải quyết mà còn có những chỉ

Một số bài báo điển hình đăng trên Tạp chí Công an nhân dân gồm: “Trao đổi về tội


làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả trong Luật hình sự Việt Nam ”, Nguyễn Thị Thu
Hương, số 10/2011; “Nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm vận chuyển
tiền giả ở khu vực biên giới”, Nguyễn Mạnh Toàn, kỳ 1 tháng 9/2012; “Một số vấn đề cần chú
ý trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm về tiền giả hiện nay”, Lê Văn Hải, kỳ 1 tháng
10/2013; “Nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống tội phạm về tiền giả ở tỉnh Quảng
Ninh”, Nguyễn Bá Bính, kỳ 1 tháng 11/2014; chuyên mục “Đấu tranh phòng, chống tội phạm
về tiền giả góp phần bảo vệ an ninh kinh tế, tài chính, tiền tệ quốc gia”, kỳ 1 tháng 12/2014
với các bài “Công an tỉnh Đồng Nai tăng cường công tác phòng, chống tội phạm làm, tàng
trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả”, Hoàng Liên Sơn...
Luận văn “Điều tra các vụ án làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam giả của công an Tỉnh Lạng Sơn thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu
quả”, Phạm Tuấn Bằng (2003); Luận văn “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra tội
phạm tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền Việt Nam giả trên địa bàn Thành phố Hà Nội”, Bùi
Diệp Hùng (2009); Luận văn “Hoạt động phòng ngừa và điều tra tội phạm vận chuyển tiền
giả qua biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc của Bộ đội Biên phòng”, Phạm Tiến Đăng
(2005).
Các công trình, đề tài, bài báo nghiên cứu dưới góc độ Điều tra tội phạm và Kỹ thuật
hình sự có liên quan đến một số biện pháp, công tác nghiệp vụ của ngành Công an nên được
lưu hành ở chế độ Mật hoặc lưu hành nội bộ. Do vậy, Luận án chỉ liệt kê một số công trình
điển hình và rút ra nhận xét chung ở phần 1.3.

1.2.4.

Nhóm các công trình điển hình nghiên cứu về đấu tranh phòng, chống tội

phạm về tiền giả dưới góc độ Tội phạm học.
Nguyễn Xuân Yêm (2001), “Phòng ngừa các tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu

tiền Đồng Việt Nam giả; tình hình tội phạm về tiền giả từ năm 2000 - 2008 và hoạt động phòng
ngừa của lực lượng Công an nhân dân; các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa
tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền Đồng Việt Nam giả của lực lượng Công an nhân
dân;

-

Nguyên nhân và điều kiện các tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,
công trái giả gồm: âm mưu của bọn phản động và các thế lực thù địch, các tổ chức quốc tế
nhằm phá hoại đồng tiền Việt Nam; trình độ và hiểu biết về kỹ thuật và tiền tệ của cán bộ ngân
hàng, nhân dân còn thấp, khó phát hiện tiền giả; hạn chế trong công tác điều tra, xử lý tội phạm
về tiền giả...

-

Dự báo THTP về tiền giả: hoạt động làm tiền giả bên trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam vẫn
tiếp diễn trong thập niên đầu thế kỷ XXI; xu hướng lợi dụng thành tựu khoa học - công nghệ
cao vào việc làm tiền giả; các thế lực thù địch, các tổ chức tội phạm quốc tế sẽ triệt để lợi dụng
tình hình hoạt động làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả để chống phá cách mạng Việt
Nam trên lĩnh vực kinh tế - tài chính - tiền tệ và an ninh kinh tế đối ngoại.

-

Các giải pháp phòng ngừa tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,


công trái giả: Tăng cường công tác quản lý nhà nước về tài chính, ngân hàng; tăng cường tuyên
truyền giáo dục pháp luật và phổ biến về các âm mưu, phương thức, thủ đoạn của tội phạm này
trong nhân dân để nâng cao sự cảnh giác, phát hiện kịp thời tội phạm để phòng ngừa, đấu
tranh, ngăn chặn tiền giả; tăng cường các hoạt động điều tra trinh sát, phối hợp các lực lượng

Một số vấn đề chung về đấu tranh phòng, chống tội phạm về tiền giả;

-

Đặc điểm hình sự, đặc điểm tội phạm học của tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành
tiền giả;

-

Đặc điểm thông số kỹ thuật, thủ đoạn làm tiền giả;

-

Đánh giá THTP về tiền giả ở các giai đoạn nhất định;

-

Nguyên nhân và điều kiện của THTP về tiền giả;

-

Phân tích lý luận về phòng ngừa tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả;

-

Cơ sở pháp lý hoạt động phòng ngừa tội phạm về tiền giả của lực lượng Công an nhân dân; chủ


thể, mục đích và nhiệm vụ quan hệ phối hợp;


tính đường hướng, thiếu đồng bộ và khoa học nên tính khả thi không cao;

-

Chưa cập nhật được lý luận biện chứng và hiện đại về phòng ngừa tội phạm của Tội phạm học.

1.3.1.

Những ưu điểm, kết quả nghiên cứu Luận án kế thừa

Các công trình nghiên cứu về tiền giả thời gian qua đã đóng góp quan trọng về cả lý
luận và thực tiễn. Nhìn chung, các công trình đã đánh giá tương đối sát thực thực trạng tội
phạm về tiền giả với từng tội hoặc nhóm tội danh: làm tiền giả; vận chuyển tiền giả; tàng trữ và
lưu hành tiền giả hoặc cả 4 tội danh ở một số địa phương trong cả nước qua các giai đoạn. Mỗi
công trình có thế mạnh riêng, khai thác dưới góc độ Kỹ thuật hình sự, Điều tra hình sự, Tội
phạm học và hầu hết các tác giả nghiên cứu là cán bộ Công an trực tiếp làm công tác trinh sát,
điều tra các vụ án tiền giả nên thông tin, số liệu có độ tin cậy. Các giải pháp được đưa ra tương
đối đa dạng, dựa trên lĩnh vực, góc độ công tác nghiên cứu khai thác góp phần vào cuộc đấu
tranh chống tiền giả của toàn xã hội. Ở các mức độ khác nhau, các công trình đã đặt cơ sở lý
luận nền móng cho việc nghiên cứu tội phạm về tiền giả như: lịch sử tiền tệ trên thế giới, khái
niệm tiền giả, một số vấn đề chung về đấu tranh phòng, chống tội phạm về tiền giả, lý luận về
phòng ngừa tội phạm về tiền giả... Đây sẽ là những cơ sở lý luận quý giá để luận án kế thừa,
chọn lọc và phát huy.


1.3.2.
-

Những vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo hoặc cần tiếp tục nghiên cứu


ngừng gia tăng các biện pháp phòng ngừa, điều chỉnh mạnh mẽ bằng pháp luật và các công cụ
khác nhằm bảo vệ an ninh tài chính quốc gia, đẩy lùi tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội song
đây vẫn là cuộc đấu tranh dai dẳng.
Trên thế giới, các nghiên cứu về đấu tranh phòng, chống tội phạm về tiền giả chứa
đựng yếu tố liên quan an ninh quốc gia nên ít được công bố công khai. Các công trình chủ yếu
về lịch sử tội phạm về tiền giả, nghiên cứu tiền giả dưới góc độ kỹ thuật, công cụ và các công
nghệ làm tiền giả, một số mô hình giả định trong phòng, chống tiền giả... Chế độ lưu thông,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status