TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN
QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT TẠI HUYỆN THANH SƠN –
TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 VÀ ĐỀ XUẤT
PHƯƠNG ÁN ĐIỂU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
ĐẾN NĂM 2020
Địa điểm thực tập: Phòng Tài nguyên và Môi trường
huyện Thanh Sơn
Người hướng dẫn : TS. Phạm Anh Tuấn – Trường ĐH
Tài Nguyên và Môi trường Hà Nội
Người hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Thanh sơn, ngày 25 tháng 04 năm 2016
Thanh sơn, ngày 13 tháng 04 năm 2016
Thanh Sơn, tháng năm 2010
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là một trong những giai đoạn quan trọng trong quá trình đào
tạo sinh viên của nhà trường. Đây là khoảng thời gian sinh viên được tiếp cận thực tế,
đồng thời củng cố những kiến thức đã được học trong nhà trường.
Được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu trường Đại học Tài Nguyên và Môi trường
CNH – HĐH
Công ngiệp hóa – hiện đại hóa
CP
Chính phủ
HĐND
Hội đồng nhân dân
NĐ
Nghị định
NQ
Nghị quyết
QĐ
Quyết định
QH
Quốc hội
QHSDĐ
chất trong xã hội, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được đối với sản xuất
nông nghiệp và lâm nghiệp. Đất đai là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các
cơ cấu kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng. Nhận thấy tầm quan trọng của đất
đai Mác đã khái quát rằng: “Đất là mẹ, sức lao động là cha sản sinh ra của cải vật
chất”.
Khi xã hội ngày càng phát triển cùng với sự bùng nổ dân số đã làm cho đất đai
ngày càng chịu áp lực nặng nề hơn, nhu cầu về đất ở cho các hoạt động phục vụ con
người ngày càng tăng trong khi quỹ đất của chúng ta lại có giới hạn. Nước ta với 3/4
diện tích là đồi núi nên việc khai thác và sử dụng đất còn gặp nhiều khó khăn, phần diện
tích đất bằng thì nhỏ, việc sử dụng còn chưa hợp lý, chồng chéo thiếu khoa học nên hiệu
quả chưa cao. Do vậy, vấn đề quy hoạch và kế hoạch hoá việc sử dụng đất đai là vấn đề
cấp thiết hiện nay.
Trong quá trình CNH - HĐH, nhu cầu về đất đai trong xã hội ngày một tăng,
biến động về đất đai ngày càng nhiều. Do vậy, công tác quản lý và sử dụng đất đai đã
và đang được Đảng và Nhà nước quan tâm, đưa ra những chính sách nhằm sử dụng đất
đai một cách bền vững và có hiệu quả cao.
Quy hoạch sử dụng đất đai có nhiệm vụ bố trí, sắp xếp lại nền sản xuất của các
lĩnh vực một cách hợp lý trên cơ sở dự báo nhu cầu phát triển của các lĩnh vực và định
hướng phát triển kinh tế của từng vùng cũng như toàn lãnh thổ. Đồng thời quy hoạch
sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của nông nghiệp nhằm tổ chức lại việc sử dụng
đất đai, phát huy ngành và lãnh thổ, hạn chế sự chồng chéo tránh gây lãng phí đất đai,
tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện làm giảm nghiêm trọng quỹ đất trong nông
nghiệp.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, huyện Thanh Sơn với sự
phát triển kinh tế và gia tăng dân số đã và đang gây áp lực lớn trong quá trình sử dụng
đất đai. Nắm rõ được tình hình địa phương, UBND huyện Thanh Sơn, Phòng Tài
nguyên và Môi trường huyện, đã xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất đai giai
đoạn 2010 - 2020. Trong quá trình thực hiện quy hoạch đã tạo ra những chuyển biến
lớn, kinh tế phát triển, cơ sở hạ tầng được nâng cấp và làm mới phục vụ tốt cho phát
triển sản xuất và đời sống. Tuy vậy cũng phát sinh nhiều vấn đề nằm ngoài phương án
Đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả phương án quy
hoạch sử dụng đất cho kỳ sau, đảm bảo hài hòa giữa các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn,
phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của Huyện Thanh Sơn.
Phân bố lại quỹ đất cho các mục đích sử dụng, phù hợp với định hướng phát triển
không gian lâu dài, đồng thời đáp ứng yêu cầu sử dụng đât của các nghành đến năm
2020.
Yêu cầu của đề tài.
Thu nhập và xử lý số liệu. Số liệu thu được phải khách quan, trung thực và chính xác.
Từ kết quả nghiên cứu phải đưa ra nguyên nhân của tồn tại, khó khăn , từ đó đưa ra
những giải pháp khắc phục cho phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương.
8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.
Cơ sở khoa học, lý luận của quy hoạch sử dụng đất và thực hiện quy hoạch sử
dụng đất.
1.1.1. Một số khái niệm.
1.1.1.1.
Khái niệm quy hoạch sử dụng đất.
Đất đai là một vùng lãnh thổ nhất định ( vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất,
miếng đất) có vị trí, hình thể, diện tích với những tích chất tự nhiên hoặc mới tạo thành
( đặc tính, thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, chế độ nước, nhiệt độn,
ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hóa tính....) tạo ra điều kiện nhất định cho
việc sử dụng các mục đích khác nhau. Như vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy
hoạch – đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm phân định ý nghĩa, mục
đích của tường phần lãnh thổ và đề suất một trật tự sử dụng đất nhất định.
về tổ chức lãnh thổ, thúc đẩy các đơn vị sản xuất thực hiện đạt và vượt mức kế hoạch
Nhà nước giao.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đóng vai trò quan trọng , là cơ sở để Nhà nước
thống nhất quản lý đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả. Nó được xây dựng trên
định hướng phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch phát triển đô thị, yêu cầu bảo vệ môi
trường, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh; Hiện trạng quỹ đất và nhu
cầu sử dụng; Định mức sử dụng đất, tiến bộ khoa học kĩ thuật; Kết quả thực hiện quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ trước. Những năm gần đây, quy hoạch đã góp phần
không nhỏ tạo ra kết quả đáng khích lệ, giúp khai thác, sử dụng đúng mục đích, tiết
kiệm và có hiệu quả, phát huy tiềm năng, nguồn lực và đất, mở rộng diện tích canh tác,
nâng cao chất lượng, đảm bảo an toang lương thực.
Như vậy, về thực chất hoạch sử dụng đất là quá trình hình thành các quyết định
nhằm tạo điều kiện đưa đất đai vào sử dụng bền vững để mang lại lợi ích cao nhất,
thực hiện đồng thời hai chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử
dụng đất như tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã
hội, kết hợp bảo vệ đất và môi trường.
Căn cứ vào đặc điểm, điều kiện tự nhiên, phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất được tiến
hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch
sử dụng đất chi tiết của mình; xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý
Nhà nước về đất đai; làm cơ sở tiến hành cấp đất và đầu tư phát triển sản xuất, đảm
bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh, văn hóa – xã hội.
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm
tổ chức lại việc sử dụng đất theo đúng mục đích, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí
đất đai, tránh tình trạng chuyển mục đích tùy tiện, làm giảm sút nghiêm trọng quỹ đất
nông nghiệp( đặc biệt là diện tích trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng) ; Ngăn chặn
các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm hủy hoại đất, phá vỡ cân bằng sinh thái
gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm hãm sản xuất, phát triển
kinh tế - xã hội và hậu quả khó lường về tình hình bất ổn chính trị, an ninh quốc phòng
ở từng địa phương, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển đổi sang nề kinh tế thị trường.
hoạch sử dụng đất đến UBND cấp trên trực tiếp; UBND cấp tỉnh có trách nhiệm gửi
báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh đến
Bộ Tài nguyên và Môi trường.
b) Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có trách nhiệm gửi báo cáo kết quả thực hiện quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất quốc phòng, an ninh đến Bộ Tài nguyên và Môi trường.
c) Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổng hợp kết quả thực hiện hàng năm về
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước để báo cáo Chính phủ trình Quốc hội
vào kì họp cuối năm.
2. Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm đối với năm cuối của kế
hoạch sử dụng đất phải kèm theo báo cáo tổng hợp về thực hiện cả kỳ kế hoạch sử
dụng đất.
11
Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm đối với năm cuối của
kỳ quy hoạch sử dụng đất phải kèm theo báo cáo tổng hợp việc thực hiện cả kế hoạch
sử dụng đất kỳ cuối và báo cáo tổng hợp việc thực hiện cả kỳ quy hoạch sử dụng đất.
1.1.2. Nội dung quy hoạch sử dụng đất.
Điều 40 – Luật đất đai 2013 quy định nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp huyện
bao gồm:
Định hướng sử dụng đất 10 năm;
Xác định diện tích các loại đất đã được phân bổ trong quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh
và diện tích các loại đất theo nhu cầu sử dụng đất của cấp huyện và cấp xã;
- Xác định các khu vực sử dụng đất theo chức năng sử dụng đến từngđơn vị hành chính
cấp xã;
- Xác định diện tích các loại đất đã xác định tại điểm b khoản này đến từng đơn vị hành
chính cấp xã;
3. Diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được
công bố phải thu hồi để thực hiện dự án hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà
sau 03 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử
dụng đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất phải
điều chỉnh, hủy bỏ và phải công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ việc thu hồi hoặc chuyển
mục đích đối với phần diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất.
Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất
không điều chỉnh, hủy bỏ hoặc có điều chỉnh, hủy bỏ nhưng không công bố việc điều
chỉnh, hủy bỏ thì người sử dụng đất không bị hạn chế về quyền theo quy định tại
khoản 2 Điều này.
4. Khi kết thúc kỳ quy hoạch sử dụng đất mà các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất
chưa thực hiện hết thì vẫn được tiếp tục thực hiện đến khi quy hoạch sử dụng đất kỳ
tiếp theo được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt.
5. Chính phủ quy định chi tiết việc tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất.
1.2.
Tình hình quy hoạch và thực hiện quy hoạch trong và ngoài nước
1.2.1. Tình hình quy hoạch và thực hiện quy hoạch ở nước ngoài.
Quy họach sử dụng đất luôn có vị trí quan trọng trong thực hiện công tác quản lý
đất đai của mỗi quốc gia và được tiến hành từ nhiều năm trước đây. Tuy nhiên, tùy
thuộc vào điều kiện của mỗi nước mà phương pháp và quan điểm quy hoạch sử dụng
đất có đặc thù khác nhau và quá trình thực hiện cũng vậy.
Ở các quốc gia phát triển như Đức, Mỹ quy hoạch sử dụng đất luôn gắn liền với
việc giải quyết nhiều yêu cầu về môi trường, đảm bảo sử dụng đất hiệu quả bền vững.
Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất ở các nước này có tính khả thi cao. Những quy tắc về
sử dụng đất được thông qua ở thành phố NewYork từ năm 1916 đến những năm 30 và
hầu hết các Bang của nước Mỹ tuân thủ theo nguyên tắc này. Đến những năm 70, các
Bang ngày gặp phải một số vấn đề về môi trường và sự bảo tồn các di tích lịch sử nên
đòi hỏi phải có các nguyên tắc và tầm nhìn xa hơn. Từ đòi hỏi trên, Luật đất đai mới
đến sự phát triển của nền kinh tế.
1.2.2. Tình hình quy hoạch và thực hiện quy hoạch ở trong nước.
Ở Việt Nam, từ năm 1994, Chính phủ đã triển khai xây dựng quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất đai cả nước đến năm 2010. Năm 1997, Quốc hội có Nghị quyết số:
01/1997/QH9 về sử dụng đất cả nước 5 năm 1996 – 2000 và được Quốc hội khóa XI
phê duyệt tại kỳ họp thứ 5.
Hiện nay, quy hoạch sử dụng đất của nước ta được triển khai theo lãnh thổ hành
chính ở 3 cấp (Quốc gia, tỉnh, huyện) và thực hiện theo các quy định tại Luật đất đai
năm 2013.
Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh: Đến nay có 60/64 tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương hoàn thanh việc lập quy hoạch sử dụng đất đai đến năm 2010 được thủ
tướng Chính phủ phê duyệt.
14
Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện: có 450/668 đơn vị hành chính cấp huyện,
chiếm 66,57% hoàn thành quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị của hầu hết các
tỉnh, thành phố chưa lập quy hoạch đô thị.
Như vậy, công tác quy hoạch sử dụng đất của nước ta mới được triển khai cơ
bản hoàn thành ở mức khái quát, mang tính định hướng ( quy hoạch sử dụng đất cả
nước, cấp tỉnh và cấp huyện.
Việc lập quy hoạch sử dụng đất đã góp phần xác định cơ cấu sử dụng đất hợp lý
và tiến hành thực hiện theo căn cứ, trình tự mà các văn bản hiện hành có liên quan đến
Luật đất đai quy định. Điều này đã làm tăng hiệu lực và ngày càng hiệu quả cao trong
quản lý, sử dụng đất đai phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng
trong quá trình phát triển đất nước, góp phần làm thay đổi cuộc sống nhân dân.
Quy hoạch sử dụng đấy đến năm 2010 và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2005
của cả nước: nhờ có quy hoạch và chính sách hợp lý để khuyến khích việc khai hoang,
phục hóa, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ và phát triển rừng nên diện tích đất
theo nguyên tắc triệt để tiết kiệm đất sản xuất nông nghiệp, ở nhiều nơi có quá nhiều
khu công nghiệp, nhiều địa phương sử dụng diện tích đất chuyên trồng lúa, đất có ưu
thế sản xuất nông nghiệp để xây dựng khu công nghiệp, khu công xưởng đã làm mất đi
ngày càng nhiều đất màu mỡ trồng cây lương thực.
Chất lượng quy hoạch sử dụng đất ở nước ta còn thấp, sự phối hợp giữa quy
hoạch sử dụng đất, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội và quy hoạch phát
triển các ngành, địa phương chưa đồng bộ. Quy hoạch sử dụng đất chủ yếu dừng lại ở
việc giải quyết, sắp xếp quỹ đất theo mục đích sử dụng, chưa căn cứ vào tiềm năng
đất, chưa thực sự tính toán đầy đủ tới mục tiêu, hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường.
Vấn đề này dẫn đến thực trạng sản xuất nông nghiệp còn manh mún, rừng tiếp tục bị
tàn phá, diện tích đất trồng đồi núi trọc, đất bị sói mòn còn lớn. Đặc biệt là sử dụng đất
tại các khu công nghiệp, doanh nghiệp, đô thị, công trình hạ tầng ở tình trạng vừa thừa,
vừa thiếu quỹ đất, nhiều nhà đầu tư được giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng
hoặc sử dụng không hiệu quả gây lãng phí quỹ đất.
1.2.3. Tình hình quy hoạch sử dụng đất và thực hiện quy hoạch huyện Thanh Sơn, tỉnh
Phú Thọ.
Quy hoạch sử dụng đất là nội dung được các cấp chính quyền tỉnh Phú Thọ nói
chung và huyện Thanh Sơn nói riêng rất quan tâm. Phú Thọ đã hoàn thành công tác
quy hoạch sử dụng đất cho cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng
góp phần nâng cao hiệu lực công tác quản lý Nhà nước về đất đai cấp tỉnh. Quy
hoạch , kế hoạch sử dụng đất được duyệt là phương tiện để các cấp chính quyền định
hướng việc sử dụng đất đai, làm tang lợi ích cộng đồng. Nhờ có quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất, huyện Thanh Sơn đã kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đất nông nghiệp, đất
lâm nghiệp đã có để sử dụng vào các mục đích khác; chủ động trong việc khai hoang
mở rộng diện tích đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp. Công tác quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất đai góp phần giúp cho huyện Thanh Sơn đánh giá chính xác tiềm năng đất đai
của mình.
16
2.1.
2.2.
2.3.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu.
Phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010- 2020 Huyện Thanh Sơn.
Kết quả thực hiện theo phương án quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt
Phạm vi nghiên cứu.
Thời gian nghiên cứu: từ ngày 07/03/2016 – 15/04/2016.
Không gian nghiên cứu: Đề tài được tiến hành tại Phòng tài nguyên và môi trường
Huyện Thanh Sơn- tỉnh Phú Thọ.
Nội dung nghiên cứu.
Điều tra sơ lược về tình hình cơ bản Huyện Thanh Sơn.
Điều tra sơ lược về hiện trạng sử dụng đất và công tác quản lý đất đai.
Giới thiệu phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010- 2020 huyện Thanh Sơn.
Đánh giá kết quả thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2010- 2015.
Đánh giá nguyên nhân tồn tại, yếu kém và đề xuất những giải pháp trong công tác thực
hiện quy hoạch sử dụng đất của Huyện Thanh Sơn trong giai đoạn 2010-2015.
sự kiện và hiện tượng.
Phương pháp minh họa bằng bản đồ.
Đây là phương pháp đặc thù của công tác quy hoạch đất đai. Mọi thông tin cần
thiết được biểu diễn trên bản đồ có tỷ lệ thích hợp, tạo thành tập bản đồ gồm: Bản đồ
hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch đất đai, …
19
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1.
Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của huyện Thanh Sơn.
3.1.1. Điều kiện tự nhiên.
3.1.1.1.
Vị trí địa lý.
Thực hiện Nghị định số 61/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về
điều chỉnh địa giới hành chính huyện Thanh Sơn để thành lập huyện Tân Sơn – Tỉnh
Phú Thọ. Thanh sơn là một huyện miền núi hiện tại nằm ở phía Nam tỉnh Phú Thọ và
có điều kiện tự nhiên như sau:
-
Tọa độ: 21° 12′ 33″ N, 105° 11′ 17″ E ( WGS84 )
Phía đông giáp huyện Thanh Thủy và Kỳ Sơn (tỉnh Hòa Bình, phía đông nam).
Phía tây giáp các huyện Yên Lập ( tây bắc) và Tân Sơn.
Phía bắc giáp các huyện Tam Nông, Yên Lập ( tây bắc).
Phía nam giáp các huyện và thành phố của tỉnh Hòa Bình như Đà Bắc (nam và tây
nam), Hòa Bình (đông nam), Kỳ Sơn(đông nam).
Huyện Thanh Sơn có đường Quốc lộ 32A từ Hà Nội đi Sơn La, Yên Bái. Trên
địa bàn huyện Thanh Sơn có 7 tuyến đường tỉnh 313, 313D, 316, 316C, 316D, 317 và
Địa hình chia cắt, dốc kéo dài, phần lớn là rừng núi thấp, cấu tạo theo kiểu bát úp, nằm
trong vùng địa hình đồi núi thấp và trung bình thuộc lưu vực sông Bứa, nơi kết thúc
dãy Hoàng Liên Sơn.
Do địa hình chi phối, khí hậu của huyện Thanh Sơn có những đặc trưng của
khí hậu miền núi phía Bắc: Mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông lạnh, cuối đông
ẩm ướt và mưa phùn, nhiệt độ thấp và nhiệt độ trung bình năm là 20 - 21 0C. Số giờ
nắng bình quân các năm là 1453 giờ, lượng mưa trung bình năm dao động từ 1850 1950mm/năm, độ ẩm không khí trung bình qua các năm là 86,8%, tốc độ gió trung
bình 1,8m/s, hướng gió chính: Đông, Đông Nam và Tây Nam.
Một số hiện tượng bất thường về thời tiết vẫn xảy ra tại huyện Thanh Sơn như
quá lạnh về mùa Đông, thậm chí có băng giá và sương muối, ngược lại mùa hè nhiệt
độ lại quá cao, khô nóng, hạn hán và thậm chí còn có gió Phơn Tây Nam (gió Lào);
gió bão thường xảy ra quanh năm tuy sức gió không lớn nhưng hay xảy ra hiện tượng
lốc xoáy kèm theo mưa rất to và mưa đá,... gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông
nghiệp.
3.1.1.4. Thuỷ văn.
Huyện Thanh Sơn có hàng trăm con suối lớn nhỏ đều tập trung đổ về Sông Bứa,
các dòng suối lớn nhỏ có lượng nước lớn tập trung chính vào mùa hè, địa hình dốc nên
thường có hiện tượng mưa lũ lớn gây sói mòn, rửa trôi đất, lụt lội cho một số vùng,
phá huỷ các tuyến đường, chia cắt hệ thống giao thông liên xã và liên huyện..
3.1.1.5. Giao thông.
Huyện Thanh Sơn Có đường Quốc lộ 32A từ Hà Nội đi Sơn La, Yên Bái. Quốc
lộ 70B từ Thanh Sơn đi Hòa Bình, trên địa bàn huyện Thanh Sơn có các tuyến đường
tỉnh 313, 313D, 316, 316C, 316D, 317. Với tuyến quốc lộ và các tuyến đường tỉnh,
huyện Thanh Sơn ở vị trí khá thuận tiện về giao thông. Nơi đây là đầu mối giao
thông quan trọng, nơi chuyển tiếp giữa đồng bằng với trung du và miền núi, có thể
mở rộng giao thương với các huyện lân cận như Tam Nông, Thanh Thuỷ, Yên Lập,
21
Tân Sơn; giao lưu với các tỉnh khác như Hoà Bình, Yên Bái và Hà Nội. Với vị trí địa
D, Tài nguyên khoáng sản.
22
Huyện Thanh Sơn có một số loại khoáng sản như: pizít, quắc zít, cao lanh,
fenpats, sắt, than, limonits... Ngoài ra còn có nhiều mỏ đá tạo điều kiện tốt cho công
nghiệp khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng. Tuy nhiên, cho đến nay nguồn tài
nguyên này chưa được điều tra, thăm dò và đánh giá chính xác trữ lượng và khả năng
khai thác.
E. Tài nguyên nhân văn.
Thanh Sơn là vùng đất cổ, nhiều hiện vật khảo cổ bằng đá (rìu, bôn, cuốc, vòng,
khuyên...) được phát hiện, thể hiện sự có mặt của con người từ thời kỳ đầu Đồ đá mới.
Nằm trong bộ Văn Lang là trung tâm của người Việt thời kỳ dựng nước, là vùng đất
Thanh Sơn được người Việt khai phá và định cư từ rất sớm. Nhiều hiện vật từ gốm thô
đến gốm có hoa văn và men đẹp thời nhà Lý - Trần, có niên đại hàng nghìn năm đã
phát lộ. Đặc biệt, nhiều nơi trên địa bàn huyện như: Tất Thắng, Sơn Hùng, Võ Miếu,
Lương Nha... đã phát hiện hàng chục chiếc trống đồng có niên đại từ hơn 200 năm đến
trên 2.500 năm, chứng tỏ sự có mặt liên tục của các thế hệ người Việt trên vùng đất
này.
Huyện Thanh Sơn có nhiều di sản văn hóa có giá trị. Hiện tại, trên địa bàn huyện
có trên 11 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 1 di tích lịch sử cấp Quốc gia (đình
Thạch Khoán) và 8 di tích cấp tỉnh: Đình Cả, Đình Tế (xã Tất Thắng), Đình Lương
Nha (xã Lương Nha), Đình Lưa (xã Tân Lập), Đình Vỏ Trong (xã Yên Lương), Đình
Chung (xã Giáp Lai), Đình Khoang (xã Hương Cần), Đình Thủ Rồng (xã Yên Lãng);
02 di tích đang lập hồ sơ đề nghị UBND tỉnh xếp hạng di tích cấp tỉnh: Đền Nhà Bà
(Thị trấn Thanh Sơn) và Đình Bản Thôn (xã Yên Sơn). Hàng năm tại các di tích này
đều tổ chức lễ hội truyền thống, bước đầu thu hút được nhân dân trong huyện và các
vùng lân cận. Ngoài ra, Thanh Sơn là vùng tiếp giáp với Văn hóa Mường Hòa Bình,
Văn hóa Thái Sơn La và Nghĩa Lộ nổi tiếng, đồng thời là một trong những chiếc cầu
nối chuyển tiếp giữa hai nền Văn hóa Việt - Mường, nên Thanh Sơn có nhiều sắc thái
Tăng (+)
Giảm (-)
1
Nông nghiệp
37,06
20,24
-16,82
2
Công nghiệp - xây dựng
25,77
52,12
26,35
3
Dịch vụ
37,17
24,64
Chỉ tiêu
24
Tỷ lệ (%)
1
Đang làm việc trong các ngành kinh tế
17.575
25,41
2
Đang làm việc trong cơ quan nhà nước
1.463
2,12
3
Nông, Lâm, Thủy Sản
50.127
72,47
Bưu chính viễn thông:
Những năm qua ngành bưu chính viễn thông phát triển nhanh, đến nay 100% các
cơ quan, xí nghiệp, công sở, trường học, đã lắp điện thoại. Nhờ vậy, việc thông tin liên
lạc đảm bảo nhah chóng, kịp thời, chính xác đã góp phần tích cực trong điều hành sản
xuất, kinh doanh của nhân dân.
3.1.3.2.
Cơ sở hạ tầng xã hội.
Giáo dục – đào tạo:
Chất lượng giáo dục toàn diện từng bước được nâng lên: Trẻ mẫu giáo 5 tuổi
hoàn thành chương trình giáo dục mầm non đạt 100%; kết quả xét tốt nghiệp THCS
25