Một trong những nguyên tắc xây dựng văn bản pháp luật là bảo đảm
tuân thủ thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Hãy làm rõ nội dung
của nguyên tắc này và cho ví dụ minh họa
A- ĐẶT VẤN ĐỀ
Xây dựng văn bản pháp luật là hoạt động mang tính chuyên môn, do nhiều cơ quan
nhà nước có thẩm quyền thực hiện bằng việc xác lập những hình thức văn bản khác
nhau; là hoạt động thể hiện ý chí nhà nước, phản ánh các giá trị khách quan của xã
hội thông qua hoạt động tư duy chủ quan của con người. Để đảm bảo chất lượng,
hiệu quả cao, hoạt động xây dựng văn bản pháp luật phải tuân thủ một số nguyên
tắc nhất định, trong đó có nguyên tắc bảo đảm tuân thủ thẩm quyền theo quy định
của pháp luật. Trong phạm vi bài tập lớn học kỳ này, em xin được tìm hiểu đề tài
“Một trong những nguyên tắc xây dựng văn bản pháp luật là bảo đảm tuân thủ thẩm
quyền theo quy định của pháp luật. Hãy làm rõ nội dung của nguyên tắc này và cho
ví dụ minh họa”.
B- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Văn bản phải được ban hành đúng thẩm quyền. Thẩm quyền là tổng thể quyền hạn
và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cá nhân được Nhà nước trao cho nhằm
thực hiện chức năng, nhệm vụ, quyền hạn. Như vậy, thẩm quyền của mỗi chủ thể
được pháp luật quy định trong những văn bản pháp luật hiện hành. Ví dụ: Thẩm
quyền của Tổng cục Hải quan về cơ cấu tổ chức và hoạt động được quy định trong
Nghị định số 96/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ. Còn thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chủ thể: Đội trưởng, Chi cục trưởng,
Cục trưởng… trong lĩnh vực Hải quan được quy định cụ thể trong Pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chính ngày 2 tháng 7 năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2008)… Văn
bản được ban hành đúng thẩm quyền khi văn bản đó vừa đúng thẩm quyền về nội
dung, vừa đúng thẩm quyền về hình thức.
1. Nội dung của nguyên tắc bảo đảm tuân thủ thẩm quyền theo quy định của pháp
luật khi xây dựng văn bản pháp luật
Điều 29 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi, bổ sung năm
2008). Do vậy nếu Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện mà phạt 32.000.000 đồng là
trái thẩm quyền về nội dung.
Mặt khác, nếu công việc cần giải quyết thuộc thẩm quyền của nhiều cơ quan khác
nhau và được quy định ở một số văn bản khác nhau thì cần có phối hợp trong việc
thực hiện thẩm quyền giữa các cơ quan đó. Ví dụ: văn bản quy phạm pháp luật của
Hội đồng nhân dân được ban hành dưới hình thức nghị quyết, văn bản quy phạm
pháp luật của Uỷ ban nhân dân được ban hành dưới hình thức quyết định, chỉ thị
(Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008). Thế nhưng trên thực
tế, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân còn ban hành văn bản để quyết định những
vấn đề khác thuộc thẩm quyền của mình. Trong số đó, có những văn bản cũng được
ban hành dưới hình thức luật định như nghị quyết, quyết định, chỉ thị nhưng lại
không phải là văn bản quy phạm pháp luật vì về mặt nội dung, chúng không chứa
đựng các quy phạm pháp luật. Chẳng hạn như: nghị quyết phiên họp, chỉ thị về việc
phát động phong trào thi đua, biểu dương người tốt, việc tốt, quyết định khen
thưởng, kỷ luật, điều động công tác, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ, công chức,
quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyet định phê duyệt dự án và những văn
bản cá biệt khác để giải quyết những vụ việc cụ thể đối với những đối tượng cụ thể.
Như vây, ban hành văn bản pháp luật đúng thẩm quyền về nội dung còn phản ánh
việc các chủ thể có thẩm quyền phải có trách nhiệm giải quyết những công việc
phát sinh trong phạm vi thẩm quyền, phạm vi không gian và thời gian do pháp luật
quy định. Và như vậy, yếu tố thẩm quyền trong những trường hợp nhất định còn
liên quan tới các yếu tố khác như: lãnh thổ, dân cư, điều kiện xã hội.
Xây dựng văn bản pháp luật phải đúng thẩm quyền về hình thức
Thẩm quyền về hình thức là thẩm quyền của các chủ thể trong việc ban hành những
hình thức văn bản do pháp luật quy định. Mỗi chủ thể có thẩm quyền chỉ được ban
hành một số loại văn bản nhất định. Và trong những trường hợp đó, mỗi loại văn
bản có một vai trò nhất định và sẽ được sử dụng phù hợp với từng công việc cụ thể,
hiện nay là cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật
lại sử dụng các hình thức văn bản hành chính khác (như công văn, thông báo...) để
đặt ra quy phạm pháp luật thay vì hình thức văn bản quy phạm pháp luật theo luật
định. Một khi cơ quan nhà nước lựa chọn các hình thức công văn, thông báo... để
quy định thì hệ quả đương nhiên là văn bản đó sẽ không được soạn thảo theo đúng
quy trình, không được tổ chức lấy ý kiến rộng rãi, không bảo đảm chất lượng và
không được công bố, đăng tải như vẫn được làm với văn bản quy phạm pháp luật.
Việc dùng văn bản hành chính trong những trường hợp này không chỉ vi phạm tính
pháp chế, ảnh hưởng đến quyền lợi của đối tượng thi hành văn bản, mà còn gây khó
khăn cho công tác rà soát, kiểm tra sau khi văn bản được ban hành.
Mặc dù vậy, trên thực tế việc lựa chọn đúng tên gọi văn bản để giải quyết những
công việc phát sinh không phải lúc nào cũng dễ dàng, vì có nhiều loại văn bản
không được pháp luật quy định như: công văn, báo cáo, thông báo…, khi ban hành
chủ yếu dựa vào tính chất của mỗi loại việc để lựa chọn cho phù hợp. Ví dụ: Chi
cục Hải quan cần xin ý kiến chỉ đạo của cấp trên, lựa chọn công văn đề nghị là phù
hợp nhất, cần trình cấp trên đề án công tác hoặc dự thảo văn bản pháp luật, có thể
lựa chọn công văn hoặc tờ trình. Nhưng điều quan trọng là khi nào trình cấp trên đề
án, chương trình, dự thảo văn bản … bằng công văn và khi nào trình bằng tờ trình,
hoàn toàn không có căn cứ pháp lý mà chỉ dựa vào sự hợp lý về khoa học để phân
biệt và lựa chọn. Do vậy, khi xem xét tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của văn bản về
thẩm quyền hình thức đối với văn bản pháp luật phải dựa trên cơ sở quy định của
pháp luật, còn văn bản hành chính đòi hỏi cần có sự linh hoạt và kết hợp với các
tiêu chuẩn khác về mặt khoa học.
2. Thực tiễn về thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật
2.1 Đối với văn bản quy phạm pháp luật
Thẩm quyền về nội dung và hình thức của chủ thể ban hành văn bản quy phạm pháp
luật được quy định cụ thể trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật
ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân.
tập thành đám đông gây mất trật tự công cộng, cản trở giao thông, mất mĩ quan đô
thị… nhưng chưa có luật, pháp lệnh quy định về quản lý nhà nước đối với vấn đề
này.
2.2 Đối với văn bản áp dụng pháp luật
Hiện nay, thẩm quyền ban hành văn bản áp dụng pháp luật được quy định trong rất
nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, như: Hiến pháp, các đạo luật về tổ
chức bộ máy nhà nước, các luật, pháp lệnh về quản lý nhà nước trong những lĩnh
vực cụ thể… Trong các quy định đó, có những trường hợp chỉ quy định chung
chung về hình thức của một số văn bản áp dụng pháp luật, như: “Chủ tịch nước ban
hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình”, “Các bản án và
quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được… tôn trọng”;
nhưng cũng có trường hợp song song với việc quy định về thẩm quyền giải quyết
công việc còn xác định rõ hình thức văn bản áp dụng pháp luật cần ban hành khi
giải quyết những việc đó, như: vừa quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính vừa quy định về hình thức văn bản cần ban hành để xử phạt là quyết định.
Trong những trường hợp này thì việc xác định thẩm quyền là tương đối thuận lợi.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn tình trạng pháp luật chỉ quy định về thẩm quyền giải
quyết công việc (thẩm quyền nội dung) mà không quy định về hình thức văn bản áp
dụng pháp luật cần ban hành (thẩm quyền hình thức). Khi đó việc xác định hình
thức văn bản áp dụng pháp luật là khá khó khăn.
Bên cạnh đó, cá biệt còn có trường hợp quy định không thống nhất về hình thức văn
bản áp dụng pháp luật do cùng một loại chủ thể ban hành để giải quyết cùng một
loại việc. Ví dụ: Cùng để thực hiện quyền kháng nghị của Viện kiểm sát, hiện nay
pháp luật quy định hai loại văn bản khác nhau là kháng nghị và quyết định. Mặt
khác, ngoại trừ một số ít loại văn bản được sử dụng thuần túy là văn bản áp dụng
pháp luật, như bản án, bản cáo trạng… phần lớn các loại văn bản được sử dụng
chung với cả hai tư cách: văn bản áp dụng pháp luật và văn bản quy phạm pháp
luật. Vì vậy, khi ban hành văn bản áp dụng pháp luật cần hết sức thận trọng, nghiên