BÀI TẬP HỌC KỲ XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT - Pdf 35

LỜI MỞ ĐẦU
Văn bản pháp luật là phương tiện chủ yếu, có tác động trực tiếp và sâu sắc đến hiệu quả
quản lý nhà nước. Do đó nâng cao chất lượng của văn bản pháp luật được xác định là một trong
những biện pháp quan trọng để tăng cường năng lực hoạt động của các cơ quan nhà nước. Tuy
nhiên, hệ thống văn bản pháp luật ở nước ta hiện nay vẫn tồn tại nhiều khiếm khuyết; các văn
bản pháp luật không phát huy được hiệu quả tối đa, không điều chỉnh được hết các quan hệ
phức tạp và phong phú trong một xã hội đang phát triển mạnh mẽ. Vì vậy vấn đề khắc phục các
văn bản pháp luật khiếm khuyết đang được các cấp, các ngành và toàn xã hội đặc biệt quan
tâm. Vậy cơ sở để nhận biết các khiếm khuyết trong văn bản pháp luật là gì và văn bản pháp
luật có những những dạng khiếm khuyết nào ?
NỘI DUNG
I – Một số vấn đề lý luận chung về văn bản pháp luật.
1.Khái niệm.
Văn bản pháp luật ( VBPL ) là văn bản được ban hành bởi những chủ thể có thẩm quyền
theo hình thức và thủ tục pháp luật quy định, có nội dung là ý chí của chủ thể ban hành; luôn
mang tính bắt buộc và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước. Từ khái niệm trên có
thể hiểu VBPL khiếm khuyết là văn bản còn “ thiếu sót”, “chưa hoàn chỉnh” và “không đảm
bảo về chất lượng” mà Nhà nước yêu cầu.
2.Nguyên nhân dẫn đến những khiếm khuyết trong văn bản pháp luật.
- Nguyên nhân khách quan: Bởi đối tượng điều chỉnh của VBPL là các quan hệ xã hội hết
sức đa dạng, luôn tồn tại khách quan vì thế việc nắm bắt thực trạng và phán đoán quy luật vận
động của các quan hệ xã hội là rất khó khăn, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, dẫn tới nội dung của
văn bản không phù hợp với tình hình thực tế, dẫn đến lạc hậu.
- Nguyên nhân chủ quan: Do phía người soạn thảo còn bị hạn chế về trình độ chuyên
môn, về việc sử dụng ngôn ngữ cũng như kỹ năng pháp lý; các quy định của pháp luật hiện
hành về công tác ban hành VBPL còn chưa đầy đủ; một số cơ quan soạn thảo còn lồng ghép lợi
ích cục bộ của từng cấp từng ngành vào nội dung văn bản gây ra những khó khăn trong việc
thực hiện…
II – Cơ sở nhận biết và nội dung của các dạng khiếm khuyết trong văn bản pháp
luật.


của mỗi cá nhân, tổ chức.
2.Văn bản pháp luật phải đáp ứng yêu cầu về mặt pháp lý.
a.Văn bản pháp luật phải có nội dung hợp pháp.
2


Khi xem xét nội dung hợp pháp của VBPL cần xét tới mối quan hệ giữa các văn bản
trong hệ thống VBPL. Khi soạn thảo VBPL cần đối chiếu các nội dung của văn bản đang soạn
thảo với nội dung của những văn bản có liên quan để đánh giá về sự phù hợp và thống nhất
giữa các văn bản này.
•Đối với VBQPPL: Nội dung hợp pháp thể hiện ở việc văn bản phải phù hợp và thống
nhất với nội dung các văn bản do cấp trên ban hành, hay nói cách khác: nội dung văn bản có
hiệu lực pháp lí thấp phải phù hợp với nội dung của văn bản có hiệu lực pháp lí cao hơn.
•Đối với VBADPL: Các mệnh lệnh đưa ra phải phù hợp với các quy phạm pháp luật hiện
hành về nội dung và mục đích điều chỉnh.
•Đối với VBHC có nội dung là các quy định mang tính quy phạm thì những nội dung đó
phải phù hợp với các quy định của VBQPPL hiện hành có liên quan. Đối với VBHC có nội
dung là những mệnh lệnh cá biệt thì các nội dung đó phải phù hợp với các quy định của
VBQPPL hiện hành và các VBADPL có liên quan trực tiếp tới VBHC đó.
b.Văn bản pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền.
Mọi VBPL phải được xây dựng đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật về nội dung
và hình thức. Thẩm quyền về nội dung là giới hạn quyền lực của các chủ thể trong quá trình
giải quyết công việc do pháp luật quy định; thể hiện ở việc các chủ thể ban hành VBPL giải
quyết những công việc phát sinh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật
quy định. Thẩm quyền về hình thức là thẩm quyền của mỗi chủ thể chỉ được ban hành một số
loại văn bản nhất định được sử dụng phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
c.Văn bản pháp luật phải được ban hành đúng hình thức và thủ tục.
Hình thức VBPL bao gồm tên gọi và thể thức do pháp luật quy định. Quy định này phản
ánh những giới hạn về quyền lực của cơ quan ban hành văn bản. Nghĩa là, các cơ quan nhà
nước trong những phạm vi nhất định có quyền quyết định vấn đề gì, giải quyết công việc gì, ở

học, dễ hiểu, phù hợp với nhận thức của đông đảo nhân dân để tạo ra sự thuận lợi trong việc
thực hiện VBPL trên thực tế.
III. Những dạng khiếm khuyết trong hệ thống VBPL ở nước ta hiện nay.
1.Văn bản pháp luật không đáp ứng yêu cầu về chính trị.
Trước hết, đó là các VBPL (chủ yếu là VBQPPL) có nội dung không phù hợp với đường
lối, chính sách của Đảng. Đối với những VBPL này buộc cơ quan có thẩm quyền phải tiến
hành xử lí. Những VBPL có nội dung không phù hợp với ý chí, đi ngược lại lợi ích chính đáng
của nhân dân cũng bị coi là khiếm khuyết về chính trị.
2.Văn bản pháp luật không đáp ứng yêu cầu về tính hợp pháp.
a.Văn bản pháp luật vi phạm thẩm quyền ban hành:
4


VBPL vi phạm thẩm quyền bao gồm vi phạm thẩm quyền về nội dung và hình thức. Vi
phạm thẩm quyền về nội dung thể hiện ở việc cơ quan ban hành VBPL giải quyết công việc
hoàn toàn không thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể. Ngoài ra, VBPL
vi phạm về thẩm quyền nội dung còn thể hiện trong việc chủ thể ban hành văn bản để giải
quyết công việc vượt thẩm quyền mà pháp luật quy định đối với chủ thể đó.
Hiện nay có rất nhiều văn bản pháp luật ban hành không đúng thẩm quyền. VD: HĐND
được quy định thu lệ phí ở địa phương. Thế nhưng UBND nhiều khi cũng quy định. Hoặc pháp
luật hiện nay quy định Uỷ ban thường vụ Quốc hội , Chính phủ có thẩm quyền quy định hành
vi vi phạm hành chính và mức xử phạt. Nhưng một số địa phương khi ban hành các văn bản để
phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước có quy định riêng về những hình thức và quy định cách xử
phạt các vi phạm đó. Cụ thể Theo công văn của Cục Kiểm Tra VBQPPL, căn cứ Điều 55 Luật
giao thông đường bộ thì “…Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải thống nhất với bộ trưởng Bộ Y tế
quy định cụ thể về tiêu chuẩn sức khỏe của người lái xe và quy định việc khám sức khỏe định
kỳ đối với người lái ôtô”. Đồng thời Công văn số 1992/TTg-CN ngày 21-12-2007 của Thủ
tướng Chính phủ về việc sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu và lưu hành xe ba bánh, xe cơ giới dùng
cho người tàn tật cũng quy định “Bộ Y tế chủ trì phối hợp với Bộ LĐ-TB&XH, Bộ GTVT quy
định về điều kiện sức khỏe, mức độ hạn chế về vận động của người tàn tật được phép sử dụng

c.Văn bản pháp luật có nội dung không phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam
đã tham gia hoặc kí kết:
Muốn thực hiện tốt các cam kết quốc tế, Việt Nam không chỉ phải tiến hành việc nội luật
hóa mà còn phải rà soát nhằm phát hiện các VBQPPL hiện hành chưa phù hợp để sửa đổi, bổ
sung, bãi bỏ hoặc thay thế bằng văn bản khác. Nếu VBQPPL nào chưa phù hợp với các Điều
ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc tham gia thì đó là lí do để cơ quan có thẩm quyền tiến
hành xử lí bằng biện pháp sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc bãi bỏ và ban hành mới những văn
bản có liên quan đến điều ước quốc tế đó.
d.VBPL có sự vi phạm các quy định về thể thức và thủ tục ban hành:
VBPL có thể thức không đúng quy định của pháp luật biểu hiện ở việc thiếu những đề
mục cần thiết hoặc được trình bày các đề mục không đúng với quy định của pháp luật như:
VBQPPL không có năm ban hành trong đề mục số, kí hiệu văn bản; VBADPL không có trích
yếu; địa danh trong văn bản được viết không đúng; thể thức kí không phù hợp với thủ tục thong
qua văn bản…VBPL có thể có sự vi phạm về thủ tục trong việc ban hành VBQPPL hoặc không
thực hiện những thủ tục là cơ sở để xác định tính hợp pháp cho VBADPL như: Không thành
lập Hội đồng kỉ luật trước khi ra quyết định kỉ luật công chức; không thành lập Hội đồng tuyển
chọn thẩm phán trước khi ra quyết định bổ nhiệm thẩm phán,…
3.Văn bản pháp luật không đáp ứng yêu cầu về tính hợp lý.
a.Văn bản pháp luật có nội dung không phù hợp với thực trạng và quy luật vận động của
đời sống xã hội:
2

http://www.tin247.com/bo_tu_phap_yeu_cau_ha_noi_bo_quy_dinh_cap_phep_trai_luat-1-85401.html

6


Đây là những văn bản mà trong đó có các quy định cao hơn hoặc thấp hơn thực trạng kinh
tế - xã hội, không phù hợp với đời sống vật chất và ý thức xã hội, gây cản trở cho tiến trình
phát triển của xã hội. Sự không phù hợp có thể chỉ thuộc về một phần trong nội dung văn bản,

năm 2009
2. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001).
3. Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT – BNV – VPCP ngày 06/05/2005 hướng dẫn về thể
thức và kỹ thuật trình bày văn bản.
4. Nghị định số 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 về kiểm tra và xử lí văn bản quy phạm pháp
luật.
5. Bùi Thị Đào, “Văn bản quy phạm trái pháp luật và xử lí văn bản quy phạm trái pháp luật”,
Tạp chí luật học, số 10/2007.
6. Ths. Đoàn Thị Tố Uyên, Những tiêu chuẩn đánh giá chất lượng văn bản,.
7. Hoàng Minh Hà, “Bàn về tính hợp lý của văn bản pháp luật”, Tạp chí dân chủ và pháp luật,
số 03/2008.
8. Trang web: http://drdvietnam.com
http://www.tin247.com

8




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status