Sự khác biệt về quyền và nghĩa vụ của Người cư trú và Người không
cư trú khi sử dụng ngọai hối trên lãnh thổ Việt Nam
.
Hiện nay, trong nền kinh tế hiện đại mỗi quốc gia đều có xu hướng
sử dụng ngoại hối để nhập khẩu hàng hóa hay can thiệp vào thị
trường hàng hóa, thị trường tiền tệ, điều hòa cán cân thanh toán
quốc tế…góp phần phát triển kinh tế đất nước. Đặc biệt từ sau khi
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức WTO, nhu
cầu sử dụng ngoại hối ngày càng gia tăng không ngừng và có ảnh
hưởng sâu sắc lớn lao đối với nền kinh tế xã hội của quốc gia. Một
vấn đề nổi cộm hiện nay là nạn đô la hóa đang đe dọa chủ quyền
tiền tệ của Việt Nam. Tình trạng đôla hóa của nền kinh tế nước ta
có thể đã xảy ra ngay từ trước khi nước ta bắt đầu mở cửa và trở
nên phổ biến sau khi nền kinh tế trải qua thời kỳ lạm phát nghiêm
trọng vào cuối thập niên 1980 khiến đồng đôla Mỹ trở thành một
phương tiện dự trữ giá trị đáng tin cậy trước một đồng bạc Việt
Nam đang suy yếu. Thực trạng này rất đáng lo ngại và khiến
những nhà phân tích kinh tế trong và ngoài nước đã nhiều lần cảnh
báo về mặt trái của hiện tượng đôla hóa, nhất là tác động của nó
trong việc vô hiệu hóa các biện pháp kinh tế vĩ mô của nước ta.
Câu hỏi đặt ra là làm sao chúng ta có thể thành công trong việc
khuyến khích, nâng đỡ sản xuất trong nước, giải quyết nạn ứ đọng
và giảm giá hàng nội địa, giải quyết nạn thất nghiệp trong nỗ lực
khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn
cầu vừa qua, khi mà đồng đôla cứ liên tục bơm hàng lậu với giá rẻ
mạt qua biên giới? Làm sao chúng ta có thể hỗ trợ hiệu quả cho
nhà xuất khẩu, khắc phục tình trạng nhập siêu kéo dài hàng thập
niên, khi mà sự hiện diện không thể kiểm soát của đồng đôla trong
khác;
- Vàng thuộc dự trữ ngoại hối Nhà nước, trên tài khoản ở nước
ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong
trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam;
- Đồng tiền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong
trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc
được sử dụng trong thanh toán quốc tế.
Ví dụ: trong vụ việc ông Trương Johnny và ba người con ruôt mang
theo hành lý với gần 80.000USD khi xuất cảnh khỏi Việt Nam sang
Singapore vào ngày 19/06/2010 vừa qua, số ngoại tệ 80.000USD
chính là ngoại hối.
b) Sử dụng ngoại hối:
Xét dưới góc độ khoa học pháp lý, hoạt động ngoại hối được hiểu
là tổng hợp các hành vi pháp lý trong quá trình chiếm hữu, sử
dụng và định đoạt các tài sản là ngoại hối.Theo khoản 8 Điều 4
Pháp lệnh ngoại hối ngày 13/12/2005 thì : “Hoạt động ngoại hối là
hoạt động của người cư trú, người không cư trú trong giao dịch
vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam,
hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên
quan đến ngoại hối”.
Ví dụ anh A là công dân Việt Nam sinh sống và làm việc tại Mỹ kể
từ ngày 2/5/2008. Vào ngày 1/3/2011, chị B là vợ anh A hiện đang
sinh sống tại Việt Nam đã gửi cho anh A 1.000USD thông qua tài
khoản ngoại tệ tại ngân hàng BIDV. Trong trường hợp này hành vi
gửi tiền của chị B chính là một hoạt động ngoại hối, theo đó chị B
(người cư trú) đã thực hiện một giao dịch vãng lai là chuyển tiền
một chiều từ Việt Nam ra nước ngoài với anh A (người không cư
trú).
nước ngoài;
- Văn phòng đại diện tại nước ngoài của các tổ chức quy định tại
các điểm a, b và c khoản này;
- Công dân Việt Nam cư trú tại Việt Nam; công dân Việt Nam cư trú
ở nước ngoài có thời hạn dưới 12 tháng; công dân Việt Nam làm
việc tại các tổ chức quy định tại điểm d và điểm đ khoản này và cá
nhân đi theo họ;
- Công dân Việt Nam đi du lịch, học tập, chữa bệnh và thăm viếng
ở nước ngoài;
- Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có thời hạn từ 12 tháng trở
lên, trừ các trường hợp người nước ngoài học tập, chữa bệnh, du
lịch hoặc làm việc cho cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự, văn
phòng đại diện của các tổ chức nước ngoài tại Việt Nam.
Người không cư trú: là những đối tượng khác với những đối tượng
là người cư trú. Như vậy người không cư trú có thể là:
- Tổ chức kinh tế nước ngoài được thành lập và hoạt động kinh
doanh tại nước ngoài;
- Tổ chức kinh tế Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài ở Việt Nam hoạt động kinh doanh tại nước ngoài;
- Tổ chức tín dụng Việt Nam, tổ chức tín dụng nước ngoài ở Việt
Nam được thành lập và hoạt động kinh doanh tại nước ngoài;
- Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp, quỹ xã hội, quỹ từ thiện của nước ngoài hoạt động tại nước
ngoài;
- Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện
của tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện các tổ chức liên chính phủ,
cơ quan đại diện các tổ chức phi chính phủ, lực lượng vũ trang và
trên lãnh thổ Việt Nam như tiếp nhận ngoài tệ từ nước ngoài
chuyển vào hoặc từ các nguồn thu ngoại tệ ở trong nước; chuyển
ngoại tệ để bán cho các tổ chức tín dụng được phép; chi trả bằng
ngoại tệ cho các giao dịch hợp pháp của mình thông qua tổ chức
tín dụng, rút ngoại tệ tiền mặt để chi tiêu cho nhu cầu cá nhân…
NCT là tổ chức, cá nhân có quyền mở và sử dụng tài khoản ngoại
tệ của mình ở nước ngoài để thỏa mãn các nhu cầu chính đáng,
hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật. Khi chấm dứt
hoạt động hoặc hết hạn ở nước ngoài, các tổ chức cá nhân là chủ
tài khoản phải đóng tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài và chuyển
toàn bộ số dư ngoại tệ về nước.
Riêng đối với NCT là tổ chức kinh tế có chi nhánh, văn phòng đại
diện ở nước ngoài hoặc có nhu cầu mở tài khoản ngoại tệ ở nước
ngoài, phải tuân thủ các quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam về điều kiện, hồ sơ, thủ tục cấp và thu hồi giấy phép mở và
sử dụng tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài.
NCT là cá nhân nước ngoài được mở và sử dụng tài khoản đồng
Việt Nam để thực hiện các giao dịch thu, chi và giao dịch đầu tư
gián tiếp theo quy định của pháp luật Việt Nam.
NKCT là tổ chức, cá nhân được mở và sử dụng tài khoản đồng Việt
Nam tại tổ chức tín dụng được phép để thực hiện các giao dịch
thu, chi theo quy định của pháp luật.
Sử dụng ngoại tệ tiền mặt của cá nhân
NCT, NKCT là cá nhân có ngoại tệ tiền mặt được quyền cất giữ,
mang theo người, cho tặng, thừa kế, bán cho các tổ chức tín dụng
được phép, chuyển, mang ngoại tệ tiền mặt ra nước ngoài phục vụ
cho các nhu cầu và mục đích hợp pháp của mình.
Người cư trú là công dân Việt Nam được gửi tiết kiệm, rút gốc và
NKCT thì không có quyền này.
NKCT
Thu chuyển khoản từ nước ngoài vào; Thu ngoại tệ tiền mặt mang
từ nước ngoài nộp vào (có xác nhận của Hải quan cửa khẩu); Thu
ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ việc nhận lương, thưởng,
phụ cấp khác của các tổ chức ở trong nước và các nguồn thu ngoại
tệ khác được pháp luật Việt Nam cho phép; Thu ngoại tệ chuyển
khoản từ việc bán Đồng Việt Nam lấy ngoại tệ trên tài khoản tiền
gửi Đồng Việt Nam; Các nguồn thu ngoại tệ khác được Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước cho phép�;
b, Nguồn chi ngoại tệ từ tài khoản cá nhân
Quy định của pháp luật
Sự khác biệt
NCT
Chi thanh toán tiền nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ cho tổ chức và
cá nhân ở nước ngoài; Chi thanh toán tiền hàng hoá và dịch vụ cho
tổ chức và cá nhân ở trong nước được phép thu ngoại; Chuyển ra
nước ngoài (bằng chuyển khoản hoặc tiền mặt) để sử dụng cho
các mục đích của cá nhân; Bán cho các tổ chức tín dụng được
phép hoạt động ngoại hối; Rút ngoại tệ tiền mặt để sử dụng vào
các mục đích cất giữ, gửi tiết kiệm ngoại tệ và các mục đích khác
được pháp luật cho phép; Đầu tư vào các giấy tờ có giá bằng ngoại
tệ; Chuyển đổi ra các công cụ thanh toán khác bằng tiền nước
ngoài như séc, thẻ thanh toán và các công cụ thanh toán khác
hoặc được chuyển đổi ra các loại ngoại tệ khác theo quy định của
Ngân hàng được phép; Cho, tặng, thừa kế theo quy định của pháp
luật; Người cư trú là cá nhân người nước ngoài được phép chuyển
ra nước ngoài số ngoại tệ có trên tài khoản ngoại tệ của mình.
NKCT
NCT là tổ chức tín dụng được phép mở tài khoản ngọai tệ tại ngân
hàng nước ngoài để thực hiện các hoạt động ngoại hối ở nước
ngoài.
NKCT là tổ chức được mở và sử dụng tài khoản đồng Việt Nam tại
tổ chức tín dụng được phép để thực hiện các giao dịch, thu chi
theo quy định của pháp luật.
Mua bán ngoại tệ
a, Mua ngoại tệ.
Đối với công dân Việt Nam, vấn đề này được quy định tại Điều 14
Nghị định số 63/1998/NĐ – CP ngày 17/8/1998 của Chính phủ về
quản lý ngoại hối và được hướng dẫn chi tiết tại Mục I Chương IV
Thông tư 01/ 1999/TT – NHNN7 của Ngân hàng Nhà nước hướng
dẫn thi hành Nghị định số 63/1998/NĐ – CP ngày 17/8/1998 của
Chính phủ về quản lý ngoại hối
Đối với NKCT và NCT là người nước ngài, vấn đề này được quy định
tại Điều 14 Nghị định số 63/1998/NĐ – CP ngày 17/8/1998 của
Chính phủ về quản lý ngoại hối và được hướng dẫn chi tiết tại Mục
II Chương IV Thông tư 01/ 1999/TT – NHNN7 của Ngân hàng Nhà
nước hướng dẫn thi hành Nghị định số 63/1998/NĐ – CP ngày
17/8/1998
Quy định của pháp luật
Sự khác biệt
Người cư trú:
công dân Việt Nam có nhu cầu ngoại tệ để chuyển, mang ra nước
ngoài cho các mục đích đi du lịch, học tập, công tác, thăm viếng,
chữa bệnh, trả tiền hội viên và các loại phí khác cho nước ngoài
hoặc trợ cấp, thừa kế cho gia đình và người thân ở nước ngoài, có
phía Việt Nam có nhu cầu chuyển ra nước ngoài toàn bộ số thu
nhập bằng ngoại tệ trong thời gian ở Việt Nam thì khi làm thủ tục
chuyển tiền phải xuất trình cho Ngân hàng chuyển tiền văn bản
của cơ quan thuế có thẩm quyền xác nhận đã hoàn thành các
nghĩa vụ tài chính ở Việt Nam.
Người không cư trú là cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh
sự, cơ quan đại diện tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện các tổ chức
liên chính phủ, cơ quan đại diện các tổ chức phi chính phủ, lực
lượng vũ trang và tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ
chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp của nước ngoài, văn
phòng đại diện của tổ chức kinh tế nước ngoài và của tổ chức tín
dụng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam có các nguồn thu bằng
đồng Việt Nam từ việc cấp visa, các loại phí lãnh sự khác và các
giao dịch hợp pháp khác được mua ngoại tệ và được chuyển ngoại
tệ ra nước ngoài thông qua các Ngân hàng được phép trên cơ sở
xuất trình các giấy tờ có liên quan.
Như vậy, NCT là công dân Việt Nam khi mua ngoại tệ phải có lí do
chính đáng và phải có đơn xin mua ngoại tệ và các Giấy tờ hợp
pháp chứng minh các nhu cầu thực tế phải chi ngoại tệ ở nước
ngoài nhưng ngoài quy định đó pháp luật không quy định nào khác
về điều kiện mua ngoại tệ.
Còn NKCT chỉ được mua ngoại tệ khi có thu nhập bằng đồng Việt
Nam và được pháp luật Việt Nam cho phép thì mới được mua ngoại
tệ bằng tiền Việt Nam tại các tổ chức tín dụng được phép và phải
có văn bản của cơ quan thuế có thẩm quyền xác nhận đã hoàn
thành nghĩa vụ tài chính.
Hai là, NKCT là tổ chức chỉ được mua ngoại tệ khi có các nguồn thu
hợp pháp bằng đồng Việt Nam
đối với tiền Việt Nam là 15 triệu VND.
Tuy nhiên vấn đề cất giữ ,mang theo ngoại tệ khi xuất nhập cảnh
không có sự khác biệt giữa người cư trú và người không cư trú.
Thừa kế, tặng cho:
Quyết định 1437/QĐ – NHNN không quy định trường hợp cho, tặng
ngoại tệ cho đối tượng ở nước ngoài mà chỉ có quy định về việc
chuyển ngoại tệ ra nước ngoài trong trường hợp trợ cấp, thừa kế.
Điều này có thể hiểu rằng, việc cho tặng thừa kế ngoại tệ chỉ được
thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, quyền tặng cho, thừa kế
của người cư trú không bị hạn chế, còn người không cư trú không
có quyền nhận ngoại tệ từ việc tặng cho, thừa kế trên lãnh thổ Việt
Nam.
Phát hành thẻ thanh toán
Quyền sử dụng thẻ thanh toán không có sự khác biệt giữa người cư
trú và người không cư trú. Người cư trú và người không cư trú được
sử dụng thẻ thanh toán quốc tế để giao dịch với khách hàng thông
qua các đơn vị chấp nhận thẻ và chỉ được sử dụng ngoại tệ để
thanh toán cho tổ chức, cá nhân được phép thu ngoại tệ (Điểm 2
Mục II Chương I Phần thứ nhất Thông tư số 01/1999/TT – NHNN7
của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thi hành Nghị định số
63/1998/NĐ – CP ngày 17/8/1998 của Chính phủ về quản lý ngoại
hối)
Nhận xét: Có thể thấy, do sự tác động và ảnh hưởng của người
không cư trú đến nền kinh tế Việt Nam là không lớn nên các quy
định của pháp luật nước ta về vấn đề sử dụng ngoại hối trên lãnh
thổ Việt Nam của người không cư trú không được chặt chẽ, đồng
thời họ có ít quyền, nghĩa vụ hơn so với người cư trú.
ngân hàng thương mại.
C- KẾT LUẬN
Những năm vừa qua, Nhà nước ta đã có những bước phát triển
trong việc công nhận và đảm bảo quyền sử dụng ngoại hối của các
tổ chức, cá nhân, góp phần quan trọng phát triển nền kinh tế. Tuy
nhiên, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, vẫn còn những quy
định cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp hơn với yêu cầu của
thực tiễn. Để làm được được điều đó, không chỉ những cơ quan
quản lý nhà nước, các nhà làm luật và chính chúng ta, những
người dân trực tiếp sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam phải
phối hợp với Nhà nước xây dựng một chính sách ngoại tệ vừa hài
hòa giữ nhu cầu của người dân và lợi ích của nhà nước, vừa đảm
bảo phát triển kinh tế đất nước.
- Xem Khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 và Khoản 1
Điều 3 Nghị định số 160/2006/ NĐ – CP ngày 28/12/2006 quy định
chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối
- Khoản 2 Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối ngày 13/12/2005
- Khoản 3 Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối ngày 13/12/2005
- Điều 29 Nghị định số số 160/2006/NĐ – CP ngày 28/12/2006 quy
định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối 2005.
- Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 63/1998/NĐ – CP ngày 17/8/1998
của Chính phủ về quản lý ngoại hối và được hướng dẫn thực hiện
tại Thông tư số 01/1999/TT – NHNN7 của Ngân hàng Nhà nước
hướng dẫn thi hành Nghị định số 63/1998/NĐ – CP ngày 17/8/1998
của Chính phủ về quản lý ngoại hối về phần thu và phần chi