Bài tập học kì – luật ngân hàng
A. LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, tất cả các nước trên thế giới đều bị lôi cuốn bởi dòng chảy mãnh
liệt của xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế, và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu
hướng đó. Chúng ta đang ngày càng mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới về
tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội…, do đó tất yếu làm phát sinh nhu
cầu về ngoại tệ. Để đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ cho sử dụng và trao đổi, và để ổn
định đồng tiền quốc gia đòi hỏi Chính phủ và ngân hàng nhà nước (NHNN) phải có
những biện pháp và chính sách phù hợp để quản lí nguồn ngoại hối trong nước.
Trong những năm vừa qua, việc thực hiện chính sách quản lí ngoại hối của
NHNN cũng đã đạt được những kết quả nhất định. Quản lí ngoại hối và điều hành tỉ
giá đã thực sự góp phần ổn định giá trị đồng tiền quốc gia, cải thiện cán cân thanh
toán quốc tế và gia tăng dự trữ về ngoại hối … Việc ban hành các cơ chế chính sách
của nhà nước cũng đã và đang được tiến hành theo hướng ngày càng tự do hoá về
nhiều mặt như: tỉ giá được hình thành trên cơ sở cung cầu ngoại tệ trên thị trường, tỉ
lệ kết hối ngày càng có xu hướng giảm, nới lỏng các điều kiện cho phép các nhà đầu
tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam tạo điều kiện thu hút lượng lớn ngoại tệ vào
trong nước…cơ chế quản lí hiện nay năng động và phù hợp hơn với nền kinh tế thị
trường. Mặc dù vậy, việc quản lí ngoại hối ở nước ta vẫn gặp phải rất nhiều khó
khăn. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế như hiện nay việc mở cửa và tự do hoá
thương mại đã làm cho các rào cản ngăn cách giữa các quốc gia bị phá bỏ, việc hội
nhập như thế nào để phát triển là rất khó khăn.
Để hoạt động ngoại hối đi vào ổn định và ngày càng phát triển thì việc đặt
ra các quy định pháp luật cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ về quyền và nghĩa vụ đối với các
chủ thể là vô cùng cần thiết .Ở nước ta, chế độ quản lý nhà nước về ngoại hối được
đặt ra với 2 nhóm đối tượng là Người cư trú và Người không cư trú. Trong pháp luật
Việt Nam, quyền và nghĩa vụ của Người cư trú và Người không cư trú trong hoạt
động ngoại hối được quy định như thế nào? Khác nhau cơ bản ở những điểm nào?
B. NỘI DUNG
1
Bài tập học kì – luật ngân hàng
Bài tập học kì – luật ngân hàng
Như vậy từ định nghĩa ngoại hối mà nước ta đang sử dụng có thể thấy ngoại
hối được sử dụng mang tính ước lệ và nghiêng về ý nghĩa pháp lí nhiều hơn ý nghĩa
kinh tế trên thị trường tài chính tiền tệ. Quan điểm về khái niệm ngoại hối có thể
được hiểu không hoàn toàn thống nhất trong hệ thống pháp luật của mỗi nước. Do
vậy mà quan điểm về hoạt động ngoại hối cũng có sự khác biệt, trong đó có sự khác
biệt về hoạt động ngoại hối của người cư trú và người không cư trú. Vậy theo pháp
luật Việt Nam hiện hành tương ứng với định nghĩa ngoại hối như trên, hoạt động
ngoại hối được hiểu như thế nào?
1.2. Khái niệm hoạt động ngoại hối:
Theo góc độ khoa học pháp lí: Hoạt động ngoại hối là tổng hợp các hành vi
pháp lí do các chủ thể khác nhau thực hiện trong quá trình chiếm hữu sử dụng và
định đoạt các tài sản coi được coi là ngoại hối. Các hành vi pháp lí này có thể là
hành vi pháp lí hoặc hành vi thương mại phụ thuộc vào việc người sử dụng chúng vì
nhu cầu dân sự hay thương mại.
Theo góc độ pháp luật thực định: Tại khoản 8 Điều 4 pháp lệnh ngoại hối 2005
qui định "Hoạt động ngoại hối là hoạt động của người cư trú, người không cư trú
trong giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam,
hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại
hối."
Như vậy hoạt động ngoại hối tương ứng với định nghĩa ngoại hối mà ta đã tìm
hiểu ở trên là một quá trình hoạt động kinh tế - pháp lí của các chủ thể, thông qua
việc xác lập và thực hiện các giao dịch khác nhau về ngoại hối. Hoạt động ngoại hối
có đối tượng là chính là các ngoại hối đã được pháp luật Việt Nam qui định và cho
phép lưu thông và các dịch vụ ngoại hối. Nội dung của hoạt động ngoại hối bao gồm
các giao dich vãng lai, giao dịch vốn, các hành vi sử dụng ngoại hối hay cung ứng
dịch vụ về ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam. Và chủ thể của hoạt động ngoại hối là
người cư trú và người không cư trú trực tiếp tham gia vào các giao dịch vãng lai,
3
Bài tập học kì – luật ngân hàng
trường hợp người nước ngoài học tập, chữa bệnh, du lịch hoặc làm việc cho cơ quan
đại diện ngoại giao, lãnh sự, văn phòng đại diện của các tổ chức nước ngoài tại Việt
Nam.
3. Người không cư trú là các đối tượng không quy định tại khoản 2 Điều này."
Theo như qui định trên thì "người" ở đây được hiểu ở hai khía cạnh là cá
nhân và tổ chức là công dân hay không phải là công dân Việt Nam. Nhìn vào qui
định của pháp luật hiện hành như trên có thế thấy có sự qui định tương đối rõ ràng
thế nào được gọi là người cư trú trong hoạt động ngoại hối và có sự khác biệt cơ bản
trong khái niệm phân biệt với người không cư trú với phương pháp định nghĩa loại
trừ như trên. Nhưng cũng chính vì vậy dẫn đến sự không cụ thể về phần định nghĩa
đối với người không cư trú.
Từ những khái niệm pháp lí cơ bản về ngoại hối, hoạt động ngoại hối,
người cư trú (NCT), người không cư trú (NKCT) chúng ta tiếp tục có những qui
định pháp luật cụ thế về hoạt động ngoại hối của người cư trú và người không cư trú,
sự khác biệt về quyền và nghĩa vụ của người cư trú và người không cư trú khi sử
dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam
II. Quyền và nghĩa vụ của NCT và NKCT khi sử dụng ngoại hối
trên lãnh thổ Việt Nam:
2.1. Nguyên tắc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam:
Căn cứ theo những quy định của pháp luật, ngoài quy định hạn chế sử
dụng ngoại hối trong các giao dịch thanh toán, niêm yết, quảng cáo trên lãnh thổ
Việt Nam như dự liệu tại Điều 29 Nghị định số số 160/2006/NĐ – CP ngày
28/12/2006 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối 2005, NCT và NKCT
5
Bài tập học kì – luật ngân hàng
có quyền sử dụng ngoại hối của mình trên lãnh thổ Việt Nam theo nguyên tắc
sau:
NCT và NKCT được mở tài khoản tiền gửi ngoại tệ tại các tổ chức tín
dụng được phép để thực hiện các giao dịch hợp pháp của mình trên lãnh thổ Việt
Nam như tiếp nhận ngoài tệ từ nước ngoài chuyển vào hoặc từ các nguồn thu
Như vậy, có thể thấy rằng, hành vi sử dụng ngoại hối được đề cập chủ yếu
ở đây là ngoại tệ và pháp luật thừa nhận quyền sở hữu ngoại tệ của các chủ thể
trong việc cất giữ, mang theo người khi xuất nhập cảnh, cho tặng, để tại thừa kế.
Tuy nhiên do đặc thù hai đối tượng này có địa vị pháp lý khác nhau nên quyền và
nghĩa vụ của NCT và NKCT khi sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam cũng
có một số điểm khác nhau nhất định. Nội dung tiếp sau đây sẽ đề cập tới vấn đề
sự khác biệt về quyền và nghĩa vụ của những đối tượng trên khi sử dụng ngoại
hối trên lãnh thổ Việt Nam.
2.2. Sự khác biệt về quyền và nghĩa vụ của Người cư trú và Người không cư trú
khi sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.
2.2.1. Đối với cá nhân:
* Trong mở và sử dụng tài khoản:
Quyền mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ tại các ngân hàng được phép ở
Việt Nam được quy định tại Điều 23 PLNH và tại Điều 30, 31 NĐ 160.
NCT, NKCT là cá nhân có tài khoản tiền gửi ngoại tệ được thu ngoại tệ vào
tài khoản từ các nguồn sau: thu ngoại tệ chuyển khoản từ nước ngoài chuyển vào;
thu ngoại tệ tiền mặt từ nước ngoài mang vào theo quy định của Ngân hàng nhà
nước Việt Nam; thu ngoại tệ từ các nguồn thu hợp pháp khác
1
7
Bài tập học kì – luật ngân hàng
Và được chi ngoại tệ từ tài khoản vào các mục đích sau đây: chi bán cho
TCTD được phép; chi chuyển tiền, thanh toán cho các giao dịch vãng lai, giao
dịch vốn và các giao dịch được phép thanh toán trong nước bằng ngoại tệ; chi
chuyển đổi ra các loại ngoại tệ khác hoặc các công cụ thanh toán khác bằng ngoại
tệ; cho tặng, thừa kế theo quy định của pháp luật; chi rút ngoại tệ tiền mặt; chi
chuyển ra nước ngoài hoặc chuyển sang tài khoản tiền gửi ngoại tệ của NKCT
khác (đối với trường hợp NKCT là cá nhân); chi chuyển sang gửi tiết kiệm ngoại
tệ tại TCTD được phép (đối với trường hợp NCT là cá nhân).
Đối với tài khoản ngoại tệ nước ngoài của NCT thì: Công dân Việt Nam