Sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam. - Pdf 24

Bộ môn Luật Ngân hàng
LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong điều kiện nền kinh và tế thị trường, các quy luật cạnh
tranh, quy luật cung – cầu, và đặc biệt là xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế,
một mặt đòi hỏi nâng cao sức mua đối ngoại của đồng tiền Việt Nam và
hướng tới trên lãnh thổ Việt Nam chỉ sử dụng đồng tiền của Việt Nam, mặt
khác, xu thế này cũng đặt ra nhu cầu sử dụng ngoại hối để phát triển kinh tế
đất nước. Từ sau khi gia nhập vào WTO, do nhu cầu sử dụng ngoại hối càng
tăng để phục vụ lưu thông hàng hóa và đáp ứng những nhu cầu của người
dân, nên Chính phủ Việt Nam đã tìm cách lựa chọn cho mình những chính
sách thích hợp trong việc quản lý ngoại hối và điều tiết hoạt động ngoại hối.
Cùng với quá trình chuyển đổi mạnh mẽ của nền kinh tế đất nước, Nhà nước
ta cũng đang từng bước có gắng thể chế hóa chính sách ngoại hối bằng các
quy định pháp luật, trong đó quyền sử dụng ngoại hối của tổ chức, cá nhân
trên lãnh thổ Việt Nam là một vấn đề mang tính thời sự trong bối cảnh hiện
nay. Với ý tưởng đó, nội dung bài viết xin được đề cập đến vấn đề sự khác
biệt về quyền và nghĩa vụ của Người cư trú (NCT) và Người không cư trú
(NKCT) khi sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam với những nội dung cơ
bản sau:
I. Những vấn đề lý luận về sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.
II. Sự khác biệt về quyền và nghĩa vụ của Người cư trú và Người
không cư trú khi sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.
III. Một số nhận định cá nhân về vấn đề sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ
Việt Nam.
Đây là một vấn đề vừa mới, vừa khó trong lĩnh vực luật học, hơn nữa,
sự hạn chế về thời gian nghiên cứu cùng với sự thiếu thốn về tài liệu nên bài
viết này không thể tránh khỏi những thiếu sót. Mong nhận được những ý kiến
đóng góp của các thầy, các cô để bài viết này có thể hoàn thiện hơn.
SVTH: Hà Thị Hằng Nhung 1
Bộ môn Luật Ngân hàng
NỘI DUNG

dụng trong thanh toán quốc tế.
2. Chủ thể sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.
Theo pháp luật hiện hành, hoạt động ngoại hối là “hoạt động của NCT,
NKCT trong giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh
1
Xem Khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 và Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 160/2006/ NĐ – CP
ngày 28/12/2006 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Ngoại hối.
SVTH: Hà Thị Hằng Nhung 2
Bộ môn Luật Ngân hàng
thổ Việt Nam, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác
liên quan đến ngoại hối”
2
.
Từ định nghĩa trên có thể đưa ra kết luận sử dụng ngoại hối trên lãnh
thổ Việt Nam một trong những hành vi của hoạt động ngoại hối và chủ thể
chính là NCT và NKCT.
Về nguyên tắc, chủ thể sử dụng ngoại hối bao giờ cũng là tổ chức hoặc
cá nhân. Tuy nhiên theo cách phân loại hiện hành thì chủ thể sử dụng ngoại
hối bao gồm NCT (cá nhân, tổ chức) và NKCT (cá nhân, tổ chức). Xét từ góc
độ quản lý nhà nước thì cách phân loại này giúp cho Nhà nước có chính sách
quản lý thích hợp cho từng đối tượng quản lý nhà nước về ngoại tệ. Tuy
nhiên, các nhà làm luật lại không đưa ra định nghĩa khái quát thế nào là NCT
và NKCT mà chỉ liệt kê những tổ chức, cá nhân nào thuộc loại NCT và
NKCT. Và căn cứ theo những văn bản pháp luật đã ban hành thì những đối
tượng đó được xác định như sau:
2.1. NCT bao gồm
3
:
a) Tổ chức tín dụng được thành lập, hoạt động kinh doanh tại Việt Nam
(sau đây gọi là tổ chức tín dụng);

a) Tổ chức kinh tế nước ngoài được thành lập và hoạt động kinh doanh
tại nước ngoài;
b) Tổ chức kinh tế Việt Nam, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở
Việt Nam hoạt động kinh doanh tại nước ngoài;
c) Tổ chức tín dụng Việt Nam, tổ chức tín dụng nước ngoài ở Việt Nam
được thành lập và hoạt động kinh doanh tại nước ngoài;
d) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ xã
hội, quỹ từ thiện của nước ngoài hoạt động tại nước ngoài;
đ) Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện của
tổ chức quốc tế, cơ quan đại diện các tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện
các tổ chức phi chính phủ, lực lượng vũ trang và các tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp của nước ngoài
hoạt động tại Việt Nam; người nước ngoài làm việc trong các tổ chức này và
những cá nhân đi theo họ;
e) Văn phòng đại diện tổ chức kinh tế nước ngoài; văn phòng đại diện
tổ chức tín dụng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam ;
g) Người nước ngoài cư trú tại nước ngoài; người nước ngoài cư trú tại
Việt Nam có thời hạn dưới 12 tháng;
h) Công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài có thời hạn từ 12 tháng trở
lên;
i) Người nước ngoài đến du lịch, học tập, chữa bệnh và thăm viếng tại
Việt Nam (không kể thời hạn).
Trong trường hợp chưa xác định được tổ chức hoặc cá nhân là NCT
hoặc NKCT thì Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định.
3. Nguyên tắc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.
4
Xem Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 63/1998/NĐ – CP ngày 17/8/1998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối.
SVTH: Hà Thị Hằng Nhung 4
Bộ môn Luật Ngân hàng

Nam để thực hiện các giao dịch thu, chi và giao dịch đầu tư gián tiếp theo quy
định của pháp luật Việt Nam.
NKCT là tổ chức, cá nhân được mở và sử dụng tài khoản đồng Việt
Nam tại tổ chức tín dụng được phép để thực hiện các giao dịch thu, chi theo
quy định của pháp luật
5
.
5
Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. CAND, Hà Nội, 2008, tr 374,
375.
SVTH: Hà Thị Hằng Nhung 5
Bộ môn Luật Ngân hàng
Như vậy, có thể thấy rằng, hành vi sử dụng ngoại hối được đề cập chủ
yếu ở đây là ngoại tệ và pháp luật thừa nhận quyền sở hữu ngoại tệ của các
chủ thể trong việc cất giữ, mang theo người khi xuất nhập cảnh, cho tặng, để
tại thừa kế,… Theo Nghị định số 63/1998/NĐ – CP ngày 17/8/1998 của
Chính phủ về quản lý ngoại hối và Thông tư số 01/1999/TT – NHNN7 của
Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thi hành Nghị định số 63/1998/NĐ – CP
ngày 17/8/1998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối, thì ngoại tệ là một khái
niệm được đề cập đến với nội dung là “đồng tiền của một quốc gia khác hoặc
đồng tiền chung của nhiều quốc gia”.
Tuy nhiên do đặc thù hai đối tượng này có địa vị pháp lý khác nhau nên
quyền và nghĩa vụ của NCT và NKCT khi sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ
Việt Nam cũng có một số điểm khác nhau nhất định. Nội dung tiếp sau đây sẽ
đề cập tới vấn đề sự khác biệt về quyền và nghĩa vụ của những đối tượng trên
khi sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.
II. Sự khác biệt về quyền và nghĩa vụ của Người cư trú và Người
không cư trú khi sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.
1. Đối với cá nhân.
1.1. Mở và sử dụng tài khoản.

nước ngoài số ngoại tệ có trên tài khoản ngoại tệ của mình
6
.
NKCT là cá nhân có tài khoản tiền gửi ngoại tệ được thu ngoại tệ vào
tài khoản từ các nguồn: Thu chuyển khoản từ nước ngoài vào; Thu ngoại tệ
tiền mặt mang từ nước ngoài nộp vào (có xác nhận của Hải quan cửa khẩu);
Thu ngoại tệ chuyển khoản hoặc tiền mặt từ việc nhận lương, thưởng, phụ cấp
khác của các tổ chức ở trong nước và các nguồn thu ngoại tệ khác được pháp
luật Việt Nam cho phép; Thu ngoại tệ chuyển khoản từ việc bán Đồng Việt
Nam lấy ngoại tệ trên tài khoản tiền gửi Đồng Việt Nam; Các nguồn thu
ngoại tệ khác được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho phép;
Và được chi ngoại tệ từ tài khoản vào các mục đích: Chuyển khoản ra
nước ngoài; Chi thanh toán tiền hàng hoá và dịch vụ cho tổ chức và cá nhân ở
trong nước được phép thu ngoại tệ; Bán cho các tổ chức tín dụng được phép
hoạt động ngoại hối; Được chuyển đổi ra các công cụ thanh toán khác bằng
ngoại tệ như: séc, thẻ thanh toán và các công cụ thanh toán khác; Được
chuyển đổi ra các loại ngoại tệ khác theo quy định của Ngân hàng được phép;
Rút ngoại tệ tiền mặt mang theo người khi xuất cảnh hoặc chi tiêu tại những
nơi được Ngân hàng Nhà nước cho phép thu ngoại tệ tiền mặt; Chuyển sang
tài khoản ngoại tệ của Người không cư trú khác ở trong nước; Cho, tặng, thừa
kế theo quy định của pháp luật.
Bằng việc quy định các trường hợp nào được ghi thu, ghi chi trên tùa
khoản ngoại tệ, nhà làm luật muốn thể hiện quan điểm can thiệp ở mức độ
khác nhau đối với quyền mở và sử dụng tài khoản của hai đối tượng này. Tuy
nhiên, sự phân biệt này chưa phải là giải pháp hợp lý. Bởi lẽ điều đó có thể
gây ra các hậu quả bất lợi cho Nhà nước và xã hội trên cả phương diện kinh tế
cũng như chính trị, ngoại giao. Sự bất cập của quy định này thể hiện ở chỗ,
trong khi cá nhân là NCT được quyền thu ngoại tệ tiền mặt dưới hình thức
cho tặng, thừa kế thì cá nhân là NKCT lại không có quyền đó. Mặt khác, trên
thực tế, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam (dưới 12 tháng) hoặc đến Việt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status