Quy định của bộ luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án theo yêu cầu
của người bị hại và hướng hoàn thiện
CHƯƠNG 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. KHÁI NIỆM KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ KHÁI NIỆM KHỞI TỐ VỤ
ÁN HÌNH SỰ THEO YÊU CẦU CỦA NGƯỜI BỊ HẠI
1.1.1. Khái niệm khởi tố vụ án hình sự
“Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có
thẩm quyền xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để ra quyết định khởi tố
hoặc quyết định không khởi tố vụ án.”
* Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu quá trình tố tụng và là giai đoạn tố tụng
độc lập bởi giai đoạn này có nhiệm vụ riêng mang đặc thù về chủ thể tố tụng, hành
vi tố tụng và văn bản tố tụng. Chủ thể có quyền khởi tố vụ án hình sự là những cơ
quan có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS 2003. Nhiệm vụ của giai đoạn khởi
tố vụ án hình sự là xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để từ đó ra quyết
định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự – những văn bản tố tụng đặc trưng của
giai đoạn này. Tuy nhiên, tính độc lập của giai đoạn khởi tố vụ án cũng như các giai
đoạn khác trong quá trình tố tụng chỉ mang tính tương đối, giữa chúng có mối quan
hệ qua lại, tác động lẫn nhau; giai đoạn trước là tiền đề cần thiết cho việc thực hiện
nhiệm vụ của giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước. Quyết định khởi
tố vụ án là cơ sở pháp lý đầu tiên để thực hiện các hoạt động điều tra. Khi chưa có
quyết định khởi tố vụ án thì không được tiến hành các hoạt động điều tra cũng như
áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Quyết định khởi tố vụ án làm phát sinh quan hệ
pháp luật TTHS giữa cơ quan có thẩm quyền, người tiến hành tố tụng với người
tham gia tố tụng.
* Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự
Cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng
(Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án) và các cơ quan khác (Cơ quan Hải quan,
Kiểm lâm, đơn vị Bộ đội biên phòng, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác
+ Các cơ quan khác trong Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự khi
thực hiện nhiệm vụ mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thuộc thẩm quyền
điều tra của mình.
* Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Nhiệm vụ của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là xác định có hay không có dấu hiệu
của tội phạm để ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án. Để thực
hiện nhiệm vụ này cơ quan có thẩm quyền sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội
phạm hoặc kiến nghị khởi tố, trong phạm vi thẩm quyền của mình và thời hạn luật
định phải tiến hành các hoạt động kiểm tra, xác minh các tin tức về tội phạm bằng
những biện pháp như:
- Kiểm tra giấy tờ tuỳ thân, hộ khẩu, đăng ký tạm trú của người bị tố cáo; yêu cầu
cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân có liên quan đến sự việc cung cấp
những tài liệu cần thiết.
- Yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có liên quan giải thích rõ sự việc nhằm
mục đích làm rõ dấu hiệu tội phạm. Khi yêu cầu giải thích, cơ quan có thẩm quyền
không được áp dụng các biện pháp hỏi cung hoặc cưỡng chế tố tụng đối với người
được yêu cầu giải thích.
- Khi cần thiết phải kiểm tra nội bộ cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội thì phải yêu
cầu cơ quan, tổ chức hữu quan tự kiểm tra hoặc yêu cầu cơ quan thanh tra tiến hành
thanh tra để làm rõ sự việc.
- Nếu bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì tiến hành lấy
lời khai của người bị bắt.
- Trong trường hợp cần thiết thì khám nghiệm hiện trường và tiến hành các biện
pháp khác theo quy định của BLTTHS để xác định dấu hiệu tội phạm.
* Quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự
Quyết định khởi tố vụ án hình sự được ra khi cơ quan có thẩm quyền khởi tố xác
định có dấu hiệu tội phạm. Đây là cơ sở pháp lý để thực hiện việc điều tra. Trong
nhiệm hình sự; Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định
đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
Tội phạm được đại xá; Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ
trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.
1.1.2. Khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại lần đầu tiên được quy định
trong BLTTHS 1988 và sau đó, trên cơ sở kế thừa, BLTTHS 2003 tiếp tục quy định
với những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với đòi hỏi của thực tế. Tuy nhiên, cả hai
BLTTHS đều không đưa ra khái niệm khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người
bị hại. Mặc dù vậy, khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại được xem là
trường hợp đặc biệt của khởi tố vụ án hình sự, cho nên nó sẽ có những đặc điểm
chung của khởi tố vụ án hình sự.
Đối với các vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, giai đoạn
khởi tố vẫn được xác định là giai đoạn mở đầu của quá trình tố tụng. Tuy nhiên,
trong giai đoạn khởi tố của những vụ án hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của
người bị hại cần có yêu cầu khởi tố vụ án từ phía người bị hại. Nếu không có yêu
cầu khởi tố của người bị hại thì Cơ quan điều tra không được ra quyết định khởi tố
vụ án. Đây là điểm khác biệt so với giai đoạn khởi tố của các vụ án hình sự khác.
Về thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại. Như đã phân
tích ở trên, cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án gồm các cơ quan tiến hành tố tụng
và các cơ quan khác. Nhưng với những vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của
người bị hại, không phải cơ quan nào trong số các cơ quan có thẩm quyền khởi tố
vụ án hình sự đều được khởi tố. Các cơ quan như đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ
quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển… do chỉ có thẩm quyền khởi tố
vụ án khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực quản lý của mình nên có thể
khẳng định các cơ quan này không có thẩm quyền khởi tố vụ án do người bị hại yêu
cầu. Còn về phía các cơ quan tiến hành tố tụng, thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự
theo yêu cầu của người bị hại chỉ thuộc về một số cơ quan nhất định, đó là Cơ quan
Ngoài ra vấn đề này còn được điều chỉnh bởi khoản 3 Điều 51 BLTTHS 2003, theo
đó nếu vụ án do người bị hại yêu cầu được Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố
và giải quyết theo thủ tục chung thì tại phiên tòa, người bị hại hoặc người đại diện
hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội. Trong trường hợp Hội đồng xét xử tuyên bị
cáo vô tội thì người đã yêu cầu phải nộp tiền án phí theo quy định tại khoản 3 Điều
99 BLTTHS 2003.
Thứ hai là vấn đề rút yêu cầu khởi tố vụ án của người đã yêu cầu. Khoản 2 Điều
105 BLTTHS 2003 quy định người đã yêu cầu khởi tố có quyền rút yêu cầu của
mình. Việc rút yêu cầu khởi tố vụ án của người đã yêu cầu dẫn đến hai hậu quả
pháp lý là vụ án được đình chỉ và người đã yêu cầu phải nộp tiền án phí. Theo quy
định tại khoản 2 Điều 164 BLTTHS 2003 thì Cơ quan điều tra ra quyết định đình
chỉ điều tra nếu người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trong giai đoạn điều tra. Viện
kiểm sát và Toà án sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án nếu trong giai đoạn truy tố và
giai đoạn xét xử nhưng trước ngày mở phiên toà sơ thẩm người đã yêu cầu khởi tố
rút yêu cầu của mình (khoản 1 Điều 168 và Điều 180 BLTTHS 2003). Riêng với
việc nộp án phí thì theo quy định tại khoản 3 Điều 99 BLTTHS 2003, nếu vụ án bị
đình chỉ theo khoản 2 Điều 105 thì người bị hại phải nộp áp phí.
Như vậy, xét một cách tổng thể các quy phạm trong chế định khởi tố vụ án hình sự
theo yêu cầu của người bị hại không có sự tập trung. Trong số các quy phạm pháp
luật của chế định này, Điều 105 BLTTHS 2003 được xem là quy phạm trung tâm
của chế định. Không chỉ quy định về chủ thể có quyền yêu cầu khởi tố vụ án, các
trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu, rút yêu cầu khởi tố, Điều 105 BLTTHS
2003 còn quy định căn cứ để Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án được tiếp tục
tiến hành tố tụng khi người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu và căn cứ để người bị hại
yêu cầu khởi tố lại vụ án hình sự. Bên cạnh đó, Điều 105 BLTTHS 2003 còn là điều
luật dẫn chiếu. Khoản 3 các Điều 51, Điều 99, khoản 2 Điều 164, khoản 1 Điều 169,
Điều 180 BLTTHS 2003 khi quy định về các vấn đề khác của chế định đều có sự
dẫn chiếu đến Điều 105 BLTTHS 2003.
họ hay không? Tuy nhiên, những trường hợp người bị hại được yêu cầu khởi tố
cũng chỉ nằm trong giới hạn mà Nhà nước và xã hội chấp nhận được nhằm đảm bảo
mọi hành vi phạm tội đều được xử lý kịp thời, việc điều tra, truy tố, xét xử và thi
hành án đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Trước khi có BLTTHS 1988, người bị hại không được pháp luật quy định có quyền
yêu cầu khởi tố vụ án mà thậm chí trong nhiều trường hợp người bị hại làm đơn xin
giảm nhẹ hoặc miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt một cách có tình, có lý
cho người phạm tội cũng không được Toà án chấp nhận. Quan niệm phổ biến lúc đó
không chấp nhận việc khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại bởi: “Quan hệ
pháp luật hình sự là quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội, trong đó với tư cách
là người bảo vệ lợi ích của toàn xã hội, Nhà nước có quyền khởi tố, điều tra, truy tố
và xét xử người phạm tội, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm tương ứng
với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà họ đã gây ra”. Bên cạnh đó, các
nhà làm luật cũng cho rằng, những vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của
người bị hại là các vụ án tư tố, quyền yêu cầu của người bị hại là quyền tư tố bởi đó
“là việc nhân danh lợi ích cá nhân, riêng tư để tố giác hành vi sai phạm, tội phạm
nào đó" và "tư tố là một hình thức… mà pháp luật dành cho những người bị hại
hoặc người thân thích của họ sử dụng để khởi kiện, khởi tố chống lại người thực
hiện hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội, xâm phạm các quyền và lợi ích cá
nhân”. Như vậy, quyền yêu cầu khởi tố của người bị hại sẽ mâu thuẫn với quyền
công tố của Nhà nước, vì quyền công tố là nhân danh lợi ích công cộng, lợi ích Nhà
nước để phát giác, tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật. Một trong những nguyên
tắc cơ bản của Luật TTHS Việt Nam là nguyên tắc công tố, tức là mọi hành vi phạm
tội đều phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước và Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân bằng Hiến pháp, bằng pháp luật và bằng cơ chế đảm bảo
thực hiện. Mọi hành vi vi phạm pháp luật, xâm hại đến quyền và lợi ích của công
dân đều sẽ bị Nhà nước xử lý nghiêm minh.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu, tham khảo pháp luật của một số nước đặc biệt là pháp
thiệt hại về tinh thần hoặc thể chất thì chỉ có thể bù đắp được phần nào mà không
thể khôi phục lại được như cũ. Trong đó, thiệt hại về tinh thần là thiệt hại không thể
tính toán được vì đó là những tổn thương vô hình, những sợ hãi hoặc ám ảnh mà
người bị hại không muốn nhắc lại và càng không muốn bị công khai. Đối với những
trường hợp này, cách tốt nhất là để cho người bị hại và người gây thiệt hại chủ động
giải quyết với nhau. Còn nếu người bị hại thật sự muốn kẻ gây thiệt hại phải bị pháp
luật trừng phạt thì sẽ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khởi tố và giải quyết vụ án.
Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu người bị hại là một chế định được quy định và
áp dụng khá phổ biến trong pháp luật một số nước.
Tại khoản 2 Điều 20 BLTTHS Liên Bang Nga quy định: “Các vụ án hình sự về các
tội phạm quy định tại các Điều 115, 116, khoản 1 Điều 129 và Điều 130 BLHS Liên
Bang Nga được coi là các vụ án tư tố. Các vụ án này chỉ được khởi tố theo yêu cầu
của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ”. Còn Điều 105 BLTTHS
Trung Quốc quy định: “Những vụ án hình sự do người bị hại tố cáo hoặc có tình tiết
giảm nhẹ sẽ do một thẩm phán điều hành việc xét xử”. Như vậy, pháp luật TTHS
Trung Quốc cũng đã gián tiếp ghi nhận quyền yêu cầu khởi tố vụ án của người bị
hại.
Bên cạnh những quốc gia ghi nhận chế định khởi tố theo yêu cầu của người bị hại
trong Luật TTHS thì có những quốc gia lại quy định yêu cầu khởi tố của người bị
hại là một yếu tố cấu thành tội phạm. Điều 22 Bộ luật hình sự Cộng hoà Dân chủ
nhân dân Lào quy định: “Chỉ bị coi là tội phạm khi có đơn kiện của người bị hại.
Nếu hành vi không nguy hiểm cho xã hội và nếu người bị hại không có đơn kiện thì
toà án sẽ không kết tội trong các trường hợp: Xâm phạm thân thể giữa những người
thân (nếu không gây thương tích nặng hay gây thiệt hại về sức khoẻ), xúc phạm, vu
khống, có hành vi thô bạo đối với thi thể hay danh dự của người đã chết, xâm phạm
tài sản của họ hàng thân thiết, xâm phạm thô bạo đối với danh dự, bí mật riêng tư
của gia đình, cá nhân. Việc người bị hại rút đơn kiện sẽ chấm dứt quá trình tố tụng
tại toà án”. Hay Điều 135 BLHS Nhật Bản quy định: “Các tội phạm quy định tại
của tội phạm là thể chất, tinh thần hoặc tài sản của cá nhân đó.
Sau đó, BLTTHS 1988 đã đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm người bị hại tại
khoản 1 Điều 39 như sau: "Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh
thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra".
Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 BLTTHS 2003, "người bị hại là người bị thiệt
hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra".
Như vậy, giữa hai khái niệm về người bị hại trong hai BLTTHS không có sự thay
đổi về chất mà chỉ có sự thay đổi về hình thức, văn phạm ngắn gọn hơn. Đây có thể
được coi là một quy phạm định nghĩa nêu ra khái niệm pháp lý về người bị hại. Quy
phạm này chứa đựng các dấu hiệu để xác định người bị hại.
Về chủ thể, người bị hại chỉ có thể là cá nhân - một con người cụ thể. Pháp nhân
hay tổ chức không được coi là người bị hại.
Về thiệt hại, người bị hại bị tội phạm xâm phạm đến thể chất, tinh thần hoặc tài sản.
Thiệt hại về thể chất là bị xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ như bị giết, bị gây
thương tích… Thiệt hại về tinh thần là bị xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín
như bị xỉ nhục, vu khống, thoá mạ, miệt thị… Thiệt hại về tài sản là tài sản của
người bị hại bị cướp, bị cưỡng đoạt, bị trộm cắp…
Về nguồn gốc, thiệt hại của người bị hại do tội phạm trực tiếp gây ra bởi cái mà tội
phạm hướng đến chính là thể chất, tinh thần hoặc tài sản của người bị hại. Nhưng
thế nào là "do tội phạm gây ra?", theo tác giả Đinh Văn Quế: "khoa học luật hình sự
chỉ coi là tội phạm khi có đủ 4 yếu tố cấu thành và khi đã là tội phạm rồi thì lúc đó
mới có người bị hại trong vụ án hình sự".
Bên cạnh ba dấu hiệu luật định thì xét về mặt hình thức, người bị thiệt hại về thể
chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra chỉ trở thành người bị hại trong TTHS khi
họ được cơ quan tiến hành tố tụng công nhận là người bị hại thông qua hành vi triệu
tập họ đến khai báo với tư cách người bị hại. Trong nhiều trường hợp, hành vi phạm
So với hậu quả của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
người khác được quy định tại Điều 104 – BLHS, thì hậu quả của tội phạm này ở
mức nghiêm trọng hơn (tỉ lệ thương tật là từ 31% trở lên). Tuy nhiên, đây lại là hậu
quả của trạng thái tinh thần bị kích động mạnh - do lỗi của người bị hại nên pháp
luật hình sự quy định đây là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và chế tài áp
dụng cho những trường hợp phạm tội ở khoản 1 có thể là hình phạt cảnh cáo, cải tạo
không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến hai năm. Vì vậy mà
BLTTHS 2003 quy định đây là một trong những trường hợp chỉ được khởi tố khi có
yêu cầu của người bị hại.
c. Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 106 BLHS: Tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng
Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được quy định là một tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Chủ thể thực hiện hành vi
phạm tội là nhằm bảo vệ lợi ích của mình, của Nhà nước hoặc của tổ chức…nhưng
do vượt quá giới hạn phòng vệ cho phép. Người bị hại là người có lỗi vì họ đã gây
ra tình huống nguy hiểm trước. Do đó, mặc dù hậu quả của hành vi nguy hiểm là
nghiêm trọng nhưng chủ thể tội phạm chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có
đơn yêu cầu khởi tố của người bị hại
d. Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 108 BLHS: Tội vô ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
Hành vi này do chủ thể tội phạm thực hiện với lỗi vô ý, vi phạm các quy tắc đảm
bảo an toàn về sức khoẻ con người trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã
hội. Tỷ lệ thương tật tối thiểu là 31% và phải là hậu quả của hành vi phạm tội. Mức
hình phạt cao nhất của tội phạm này là đến hai năm tù (có thể có hình phạt bổ sung).
Người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có yêu cầu khởi tố vụ án từ
người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại.
đ. Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 109 BLHS: Tội vô ý gây thương tích
nạn nhân có thể là đe doạ hoặc hứa hẹn… Từ đó, người phụ nữ buộc phải giao cấu
trong khi mình không muốn.
Điều 113 BLHS quy định ba khung hình phạt. Những tội phạm quy định ở khoản 1
(mức hình phạt từ 6 tháng đến 5 năm tù) chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người
bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại.
g. Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 121 BLHS: Tội làm nhục người khác
Hình thức biểu hiện của hành vi làm nhục người khác rất đa dạng, có thể là những
lời nói có tính chất thoá mạ, xỉ nhục, hạ thấp danh dự, chửi bới nhạo báng, xúc
phạm đến nhân phẩm nhưng cũng có thể là các hành vi, cử chỉ… có tính chất bỉ ổi,
xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác. Những hành vi
này có thể được thực hiện một cách trực tiếp, công khai trước mặt người bị hại hoặc
có thể được thực hiện gián tiếp thông qua những người khác.
Điều 121 BLHS quy định hai khung hình phạt, trong đó khung cơ bản được quy
định tại khoản 1 có mức hình phạt cao nhất là hai năm tù áp dụng đối với trường
hợp phạm tội ít nghiêm trọng và không có tình tiết tăng nặng. Với những trường
hợp phạm tội thuộc khoản này, nếu không có yêu cầu khởi tố từ phía người bị hại
thì cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án.
h. Tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 122 BLHS: Tội vu khống
Tội vu khống được hiểu là hành vi bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt
nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người
khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm
quyền.
Hành vi phạm tội của tội này có ba dạng: hành vi bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự
hoặc nhằm gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác (như đưa ra
các thông tin không đúng sự thật, thông tin có nội dung xúc phạm đến danh dự,
nhân phẩm, uy tín…); hành vi loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xâm
phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác
(người thực hiện hành vi không tự đưa ra thông tin không đúng sự thật nhưng có
ích, kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại…
Hành vi trên cấu thành tội phạm khi gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt
hành chính hoặc đã bị kết án về tội này nhưng chưa được xoá án tích mà còn vi
phạm.
Điều 171 quy định hai khung hình phạt, trong đó tại khung cơ bản (khoản 1) quy
định hình phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 200 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ
đến hai năm. Trong trường hợp này, người bị hại có thể yêu cầu khởi tố vụ án để
pháp luật bảo vệ quyền lợi cho mình.
Như vậy, 11 trường hợp phạm tội chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại
hoặc của người đại diện hợp pháp của họ hầu hết là những tội phạm ít nghiêm trọng
(mức hình phạt cao nhất có thể là phạt tiền, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc
phạt tù đến hai hoặc ba năm), xâm phạm đến sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, quyền
tác giả, quyền sở hữu công nghiệp của người bị hại và không có tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự. Chủ thể thực hiện tội phạm này có thể là những người có mối
quan hệ với người bị hại như người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…
Chính vì vậy việc khởi tố vụ án để truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện tội
phạm trong các trường hợp này có thể gây thêm những tổn thất về tinh thần cho
người bị hại. Do đó, pháp luật quy định đối với các trường hợp trên chỉ được khởi
tố vụ án khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của
người bị hại. Quy định này tạo điều kiện cho người bị hại và người thực hiện hành
vi phạm tội giải quyết sự việc với nhau bằng con đường thoả thuận, hoà giải. Người
bị hại vừa được đền bù một phần mất mát xảy ra, vừa giữ được tình cảm gia đình,
bạn bè, đồng thời giữ kín những chuyện đời tư của mình.
Tuy nhiên, pháp luật cho phép sự thể hiện ý chí của người bị hại trong việc tự giải
quyết các sự việc gây thiệt hại cho chính mình cũng chỉ trong giới hạn mà xã hội
chấp nhận được. Vì vậy, nếu như các tội phạm nói trên có tình tiết thuộc các khung
tăng nặng của điều luật tương ứng (khoản 2, 3, 4) thì cơ quan tiến hành tố tụng sau
khi xác định có dấu hiệu tội phạm sẽ quyết định khởi tố vụ án mà không phụ thuộc